MỞ ĐẦU 1. Tình cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của đất nước thì đời sống của người dân được cải thiện. Chính vì vậy, nhu cầu tiêu dùng thực phẩm của người dân ngày càng tăng lên. Đặc biệt, là nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO.
Ngành chăn nuôi chiếm vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nước nhà cũng như cung cấp thực phẩm cho con người và số lượng đàn gà của Việt Nam năm 2012 là 223,7 triệu con (Trung tâm thông tin PTNNNT, 2013) [19]. Để đáp ứng được nhu cầu của người dân, cũng như khẳng định được vị trí của ngành nông nghiệp trên thị trường quốc tế, đòi hỏi ngành nông nghiệp nước ta nói chung và ngành chăn nuôi nói riêng phải ngày càng phát triển để cung cấp cho thị trường những sản phẩm chất lượng cao, an toàn và sạch. Mặc dù nước ta có nhiều gà địa phương có chất lượng cao nhưng do một số nhược điểm của giống gà nội: giá thành cao, sinh trưởng chậm. Vì vậy, nước ta đã nhận một số giống gà chuyên trứng cao sản như: Ai Cập, Issa Brown, Goldline 54, Leghorn, Hyline Brown.
và một số giống gà chuyên thịt như: Arbor Acres, Lohman, Meat Avian, Isawedette. Trong những giống gà chuyên thịt nhập nội vào nước ta hiện nay có giống gà Ross 308 với khả năng sinh trưởng cao, chất lượng thịt tốt đảm bảo nhu cầu tiêu dùng. Vì vậy, hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm hoàn thiện về giống, về dinh dưỡng, trong đó có việc áp dụng một số men vi sinh vật bổ sung vào thức ăn để đem lại lợi ích kinh tế cao cho ngành chăn nuôi. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm sinh học milk feed đến khả năng sinh trưởng của gà thịt tại trại Chăn nuôi gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
Mục tiêu của đề tài - Đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm sinh học milk feed đến sinh trưởng của gà thịt tại trại Gia cầm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. h - Giúp sinh viên làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học. - Số liệu khoa học về ảnh hưởng của việc sử dụng men sinh học đến khả năng sinh trưởng của gia cầm. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Kết quả của đề tài góp phần bổ sung thêm những thông tin vào tài liệu học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên ngành chăn nuôi và thú y của các trường Đại học Nông Nghiệp.
Kết quả của đề tài là cơ sở đề khuyến khích người chăn nuôi sử dụng chế phẩm sinh học milk feed vào trong chăn nuôi vì chất lượng sản phẩm và sức khỏe người tiêu dùng. h Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm 2.
Khái niệm sinh trưởng Là một sinh vật hơn nữa là một cơ thể sống hoàn chỉnh, vật nuôi có các đặc trưng cơ bản của sự sống. Trong các đặc trưng cơ bản đó, sự sinh trưởng là một đặc trưng cơ bản được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Theo tài liệu của Chambers J.R (1990) [27], thì tác giả MoZan (1977) đã đưa ra khái niệm: Sinh trưởng cơ thể là tổng hợp sự sinh trưởng của các bộ phận như thịt, xương, da. Những bộ phận này không chỉ khác nhau về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng và nhiều yếu tố khác.
Trần Đình Miên (1995) [12], đã khái quát như sau: “Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang khối lượng của các bộ phận và toàn cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền từ đời trước”. Sinh trưởng của gia súc luôn gắn với phát dục, đó là quá trình thay đổi chất lượng, là sự tăng lên và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng hoạt động của cơ thể. Hai quá trình đó liên quan mật thiết và ảnh hưởng lẫn nhau tạo nên sự hoàn thiện cơ thể gia súc, gia cầm. Sinh trưởng và phát dục của cơ thể gia súc tuân theo tính quy luật và theo giai đoạn.
Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm - Ảnh hưởng của dòng giống Theo tài liệu của Chambers J. R (1990) [27] có nhiều gen ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể gà. Có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng theo nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ. G, (1952) [29] và một số tác giả khác cho rằng các tính trạng số lượng này được quy định bởi 15 cặp gen, trong đó ít nhất có một gen về sinh trưởng liên kết giới tính h (nằm trên nhiễm sắc thể X), vì vậy có sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa con trống và con mái trong cùng một giống, gà trống nặng hơn gà mái 24 - 32 %.
Trần Thanh Vân (2002) [20] khi nghiên cứu khả năng sản xuất thịt của gà lông màu Kabir, Lương Phượng và Sasso cho biết: khối lượng cơ thể gà ở 10 tuần tuổi đạt lần lượt là 1990,28 g/con, 1993,27 g/con và 2189,29 g/con. Gà Tam Hoàng 882 ở 12 tuần tuổi khối lượng cơ thể đạt 1557,83 g/con (Nguyễn Thị Khanh, Trần Công Xuân và cs, 2000 [6]). Theo Trần Thanh Vân và cs (2015) [21] cho biết, gà con ở 40 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 10 lần so với lúc 01 ngày tuổi, trong khi đó vịt con chỉ cần có 20 ngày để tăng gấp 10 lần khối lượng so với lúc 01 ngày tuổi. Nguyễn Thị Thuý Mỵ (1997) [13] khi nghiên cứu 3 giống gà AA, Avian và BE 88 nuôi tại Thái Nguyên cho thấy khối lượng cơ thể của 3 giống khác nhau ở 49 ngày tuổi là khác nhau, cụ thể lần lượt là: 2501,09 g; 2423,28 g; 2305,14 g.
Khảo sát khả năng sinh trưởng của 3 dòng gà Plymouth Rock thì dòng TĐ9 có khả năng sinh trưởng tốt nhất. Đến tuần tuổi thứ 8, dòng TĐ9 có khối lượng sống vượt dòng TĐ8 12,90 % và vượt dòng TĐ3 17,40 %, (Lê Hồng Mận và cs, 1996 [9]). Như vậy, các nhà nghiên cứu đã chứng minh sự khác biệt về sinh trưởng là do di truyền, mà cơ sở di truyền là do gen, có ít nhất một gen quy định khả năng sinh trưởng liên kết với giới tính, cho nên con trống thường lớn hơn con mái. Điều này chứng tỏ di truyền có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng của gia cầm.
- Ảnh hưởng của tính biệt và tốc độ mọc lông Rõ rệt nhất là ở gà do sự khác nhau về quá trình trao đổi chất, đặc điểm sinh lý và khối lượng cơ thể. Trần Đình Miên (1994) [11] cho biết lúc gà mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1 %, tuổi càng tăng sự sai khác càng lớn, ở 8 tuần tuổi sự sai khác về khối lượng giữa gà trống và gà mái là 27 %. D (1990) [33] cũng cho biết khối lượng gà con 1 ngày tuổi tương đương với khối lượng trứng giống đưa vào ấp, song không ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể gà lúc thành thục và cường độ sinh trưởng ở 4 tuần tuổi. h Nguyễn Thị Hải và cs (2006) [4] cho biết gà TĐ nuôi vụ Xuân - Hè ở 10 tuần tuổi có khối lượng cơ thể ở con trống 2616,33 g/con và ở con mái là 2214,48 g/con, khác nhau 18,15 %.
Tính biệt là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khối lượng cơ thể của gà: Gà trống nặng hơn gà mái từ 24 - 32 %. Những sai khác này cũng được biểu hiện ở cường độ sinh trưởng, được quy định không phải do hoocmon sinh học mà do các gen liên kết với giới tính. Ở gà hướng thịt giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi, con trống nặng hơn con mái 180 - 250 g (Trần Thanh Vân và cs (2015) [21]). Những kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học xác định trong cùng một giống, cùng giới tính ở gà có tốc độ mọc lông nhanh có tốc độ sinh trưởng, phát triển cao hơn gà mọc lông chậm.
Tốc độ mọc lông có liên hệ với chất lượng thịt gia cầm, những gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thường có chất lượng thịt tốt hơn. Đây cũng là tính trạng di truyền liên kết với giới tính (Biichell và Brandch, 1987) [2]. - Ảnh hưởng của độ tuổi và mức độ dinh dưỡng Khi nghiên cứu đến độ tuổi và mức độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà thì Chambers J. (1990) [30] cho biết: Sinh trưởng là tổng số của sự phát triển các phần cơ thể như thịt, xương, da.
Tỷ lệ sinh trưởng các phần này phụ thuộc vào độ tuổi, tốc độ sinh trưởng và phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng. Mức độ dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển các bộ phận khác nhau của cơ thể mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô này đối với mô khác. Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (2003) [7] để phát huy được sinh trưởng cần cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ chất dinh dưỡng được cân bằng hợp lý giữa protein với năng lượng. Nguyễn Thị Thúy Mỵ (2006) [14] đã nghiên cứu ảnh hưởng của các mức năng lượng và protein khác nhau cùng với tỷ lệ ME/CP khác nhau nhằm phát huy tốt đến khả năng sinh trưởng của ngan Pháp nuôi tại Thái Nguyên.
A và cs (1979) [28] cho biết: Dinh dưỡng không chỉ cần thiết cho sinh trưởng mà còn cần thiết để thể hiện khả năng di truyền của sinh h trưởng. Gà broiler phát triển mạnh nên đòi hỏi lượng thức ăn tương ứng để phát huy tiềm năng di truyền của chúng. Chi phí thức ăn chiếm 70% giá thành gà broiler, do vậy để có năng suất cao trong chăn nuôi gia cầm - đặc biệt phát huy tiềm năng sinh trưởng, thì một trong những vấn đề căn bản là lập ra những khẩu phần dinh dưỡng hoàn hảo, cân đối trên cơ sở đảm bảo nhu cầu của gia cầm qua từng giai đoạn nuôi. - Ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường Theo Lê Hồng Mận và cs (1993) [8] thì nhiệt độ tối ưu chuồng nuôi với gà con sau 3 tuần tuổi là 18 - 20oC.
Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn tới nhu cầu năng lượng trao đổi (ME) và protein thô (CP) của gà broiler, do vậy tiêu thụ thức ăn của gà chịu sự chi phối của nhiệt độ môi trường.