Đặt vấn đề Ở Việt Nam củ Bình vôi tím mọc ở những vùng có núi đá như: Hà Giang, Tuyên Quang, Ninh Bình, Hòa Bình, Hà Tây, Hà Nam, Hải Phòng, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thanh Hóa. Tuy nhiên giá trị dược liệu của củ Bình vôi tím phụ thuộc rất nhiều vào vùng phân bố và điều kiện sinh thái. Trong củ Bình vôi tím có chứa alkaloid bao gồm L-tetrahydropalmatin (rotundin), stepharin, roemerin, cycleanin. Ngoài ra còn có tinh bột, đường khử oxygen, acid malic, men oxydase [24].
Trong đó quan trọng nhất là L- tetrahydropalmatin (rotundin) và roemerin và cepharanthin. Rotundin có tác dụng giảm đau, an thần, gây ngủ rất hiệu quả, điều hòa hô hấp và điều hòa tốt đối với tim mạch [13]. Hàm lượng hoạt chất này có trong củ Bình vôi tươi khoảng 0,12 – 0,3%. Roemerin có tác dụng gây tê niêm mạc, giãn mạch, hạ huyết áp.
Cepharanthin được coi là một chất có tác dụng kích thích miễn dịch và làm giảm nhẹ một cách hữu hiệu những tác dụng phụ của các thuốc chống ung thư. Thí nghiệm trên ống kính (in vitro) đã xác minh cepharanthin ức chế sự tăng sinh của các tế bào ung thư Hela và Hela S3. Ngoài ra, Bun Sok-Siya và cs (2009) đã chiết xuất cepharanthin có tác dụng ức chế 2 dòng tế bào ung thư đại trực tràng và ung thư gan. Mặt khác, còn ức chế sự phát triển của trực khuẩn lao.
Ngoài công dụng điều trị bệnh, củ Bình vôi còn được trồng làm cây cảnh được nhiều người ưa chuộng [6]. Tuy nhiên, từ trước đến nay người dân chỉ biết khai thác nguồn củ Bình vôi từ tự nhiên mà ít có các nghiên cứu về trồng trọt và nhân giống. Trong khi Bình vôi nhân giống bằng hạt được tạo ra từ quá trình thụ phấn giữa hoa đực và hoa cái [6]. Tuy nhiên cây cho hoa đực và cây cho hoa cái nằm khác gốc vì vậy việc thụ phấn gặp nhiều khó khăn.
Hơn nữa phương pháp cắt phần đầu củ, củ thành từng mảnh đem trồng không đem lại hiệu quả cao. Vì trong điều kiện thời tiết nóng ẩm mưa nhiều của nước ta vi sinh vật hoạt động mạnh làm thối củ hàng loạt. Bên cạnh đó, giá trị dược liệu củ Bình vôi đã được công bố dẫn đến việc khai thác ồ ạt làm cho số 2 lượng trong tự nhiên suy giảm nghiêm trọng. Vì vậy cây này hiện nay đang rất khan hiếm và đã được đưa vào danh mục cần bảo tồn.
Theo Nghị định số 32/2006, NĐ- CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ, trong danh mục “Thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm” thì các loài Bình vôi (Stephania sp.) được xếp trong nhóm IIA (Thực vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) [6]. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì việc ứng dụng nuôi cấy mô tế bào thực vật (in vitro) trong nhân giống đã trở nên phổ biến. Nuôi cấy in vitro tạo ra những giống cây trồng sạch bệnh, chất lượng tốt, đồng đều cao và hệ số nhân lớn trong thời gian ngắn. Do đó, “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng đến khả năng tái sinh và nhân nhanh chồi cây Bình vôi tím (Stephania rotunda Lour)” được thực hiện nhằm giúp cho việc hoàn thiện quy trình vi nhân giống cây Bình vôi tím, giải quyết được phần nào khó khăn trong nhân giống hữu tính cho đối tượng cây trồng này, góp phần bảo tồn và phát triển giống cung cấp nguyên liệu cho ngành y dược.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu đề tài Xác định được ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng đến khả năng tái sinh, nhân nhanh chồi, ra rễ từ đoạn thân mang chồi ngủ cây Bình vôi tím bằng phương pháp in vitro. Yêu cầu đề tài - Xác định được ảnh hưởng của nồng độ, thời gian chất khử trùng HgCl2 đến khả năng tạo vật liệu vô trùng cho nuôi cấy in vtiro. - Xác định được ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng gibbererllin (GA3) và cytokinin (BA) đến khả năng tái sinh chồi cây Bình vôi tím (Stephania rotunda Lour).
- Xác định được ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng auxin (NAA, IBA), gibberellin (GA3) và cytokinin (BA) đến khả năng nhân nhanh chồi cây Bình vôi tím (Stephania rotunda Lour). 3 - Xác định được ảnh hưởng của một số chất kích thích sinh trưởng auxin (IBA) đến khả năng ra rễ cây Bình vôi tím (Stephania rotunda Lour). Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong khoa học: + Quá trình nghiên cứu sẽ đánh giá được ảnh hưởng của một số auxin, gibberellin và cytokinin đến khả năng tái sinh, nhân nhanh chồi từ đoạn thân mang chồi ngủ của cây Bình vôi tím. + Cung cấp tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho sinh viên, giúp sinh viên hoàn thiện cả về kiến thức lý thuyết lẫn thực tiễn.
- Ý nghĩa trong thực tiễn: Góp phần nhân nhanh tạo số lượng lớn cây giống phục vụ mục tiêu bảo tồn loài dược liệu quý theo Nghị định số 32/2006, NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 của Chính phủ, đảm bảo chất lượng cung cấp nguyên liệu cho ngành y dược. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về chi Bình vôi 2. Nguồn gốc Chi Bình vôi (Stephania) thuộc họ Tiết dê (Menispermaceae) có nguồn gốc ở miền Đông, Nam Châu Á và Australia [17].
Ở Việt Nam, cây mọc hoang tại nhiều vùng rừng núi, thường gặp trên các núi đá vôi. Phân loại Chi Chi Bình vôi hay chi Thiên kim đằng (danh pháp khoa học: Stephania spp, đồng nghĩa: Perichasma) là một chi thực vật có hoa trong họ Biển bức cát (Menispermaceae hay còn gọi là họ Tiết dê). Một số loài công bố ở Việt Nam: Stephania glabra (Roxb) Miers, S. Trên thế giới, chi Bình vôi có hơn 40 loài.
Ở Việt Nam, chi Bình vôi có 13 loài với 4 loài đã có tên trong “Sách đỏ Việt Nam” [22].1: Phân loại khoa học Chi Bình vôi (Stephania spp) [2] Giới (regnum) Plantae Ngành Magloliophyta Phân lớp Magloliosida (Dicotyedones) Bộ (ordo) Ranunculales Họ (familia) Menispermaceae Chi (genus) Stephania Loài (Species) Rotunda 2. Đặc điểm hình thái và phân bố Bình vôi là tên gọi của nhiều loài cây là dây leo có rễ củ thuộc chi Stephania, họ Tiết dê (Menispermaceae). Ở Việt Nam còn có các tên gọi khác như là: cây củ một, củ mối tròn, dây mối trơn, củ gà ấp,… Các loại Bình vôi có đặc điểm chung như sau: dây leo, thân nhẵn hơi xoắn vặn, thường xanh, sống lâu năm, dài khoảng từ 2 – 6 m. Rễ củ đa dạng, củ to, có thể nặng tới 20kg, vỏ ngoài xù xì màu nâu - nâu đen.
Lá mọc so le, cuống lá dài, đính vào trong phiến lá khoảng 1/3; phiến lá mỏng, hình tim, gần hình tròn, có cạnh hoặc 5 tam giác tròn, hai mặt nhẵn; gân lá xuất phát từ chỗ đính của cuống lá, nổi rõ ở mặt dưới lá. Cụm hoa hình xim tán mọc ở kẽ lá hoặc những cành già đã rụng lá; hoa đực và hoa cái khác gốc, hoa đực có 6 lá đài xếp thành hai vòng, 3 cánh hoa màu vàng cam; nhị: 2-6, thường là 4; hoa cái có 1 lá đài, 2 cánh hoa; bầu hình trứng. Quả hạch hơi dẹt, mọng nước màu đỏ hoặc da cam; hạt cứng, hình móng ngựa, hình trứng hoặc gần tròn mang 4 hàng vân dạng gai, hai mặt bên lõm ở giữa có lỗ thủng hoặc không. Mùa hoa: tháng 4-6; mùa quả: tháng 8-10 [12],[28].1: Cây Bình vôi tím (Stephania rotunda Lour) Bình vôi là cây mọc hoang dại, thích hợp ở nhiệt độ trung bình năm 21-230C, lượng mưa 2000 – 2500 mm, ưa đất nhiều mùn, thoát nước, độ pH = 6,5-7.
Các loại Bình vôi ở nước ta có diện phân bố rất rộng trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Thường tập trung ở vùng núi đá vôi như Tuyên Quang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Phú Thọ, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Bà Rịa - Vũng Tàu. Sự phân bố của mỗi loài rất khác nhau, tùy theo đặc tính sinh học. Đặc điểm hình thái của một số loài Bình vôi [28], [47]: Củ Bình vôi (Stephania rotunda Lour): Dây leo có rễ củ vùi dưới đất một nửa giống hình củ bình vôi, ruột màu vàng, thơm.
Lá hình khiên, mọc cách. Phổ biến ở các rừng thưa Phú Thọ, Vĩnh Yên, Ninh Bình,… Stephania pierrei Diels: Ngọn non có nhiều chấm màu tím hồng. Lá có kích thước nhỏ hơn tất cả các loài khác. Hoa đực không có cánh hoa.
Tsoong: Cành non và cuống lá có dịch màu trắng hoặc vàng nhạt. cambodia Gagnep: Cuống cụm hoa và cuống tán giả dài hơn so với các loài khác.Wu: Nửa cuống lá phía đính vào phiến lá và gân lá mặt sau có màu tím hay tím hồng.Lo: Cuống lá rất dài, có khi đến 14cm, giá noãn có lỗ lệch một bên. cepharantha Hay: Giá noãn không có lỗ. sinica Diels: Giá noãn không có lỗ.Lo et Yang: Lá có phiến hình tam giác, cuống lá bằng hoặc dài hơn phiến lá.
Giới thiệu về cây Bình vôi tím (Stephania rotunda Lour) Cây Bình vôi tím được dân tộc Tày ở tỉnh Bắc Kạn thường gọi là “Cà tòm đeng” có nghĩa là Bình vôi Đỏ, tên khoa học Stephania rotunada Lour, họ Tiết dê Menispermaceae. Bình vôi tím là một loại dây leo giống như các loại Bình vôi khác. Dưới gốc rễ hình thành củ, mọc bám vào vách đá. Củ Bình vôi tím nhỏ hơn Bình vôi trắng.
Vỏ củ màu nâu, dây màu tím phần thịt củ màu đỏ, nhựa dây cũng màu đỏ. Phần dây leo và lá y hệt cây Bình vôi trắng, nhưng lá ngọn và lá non màu tím. Cây Bình vôi phân biệt đực cái rõ vì hoa đực và hoa cái khác gốc, củ cũng khác, củ cây cái thường tròn, củ cây đực thường dài hơn. Bình vôi tím là cây thuốc ít gặp, thuộc loại hiếm, thường gặp ở một số xã thuộc huyện Ba Bể, Chợ Đồn, Bạch Thông (Bắc Kạn) với trữ lượng ít.
Một số thầy thuốc biết sử dụng củ Bình vôi tím làm thuốc nên đặt mua với dân với giá khá cao đã dẫn đến tình trạng khai thác triệt để, đẩy Bình vôi tím đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng hoàn toàn trong tự nhiên [47].2: Một số hình ảnh của cây Bình vôi tím 2. Vai trò của cây Bình vôi tím 2. Giá trị về kinh tế Cây Bình vôi tím là một loại cây thuốc nam mọc tự nhiên ở một số vùng của nước ta. Không chỉ có tác dụng về mặt y học cây Bình vôi tím còn có giá trị về mặt kinh tế (350.
Cây Bình vôi tím được coi là cây trồng “xóa đói giảm nghèo” của người dân tộc vùng cao nếu được sự quan tâm và phát triển của các cấp lãnh đạo.