Tổng quan nghiên cứu

Thọ Xuân là một trong những huyện trọng điểm sản xuất nông nghiệp của tỉnh Thanh Hóa, nơi có hơn 80% dân số sinh sống tại khu vực nông thôn và nguồn sinh kế gắn liền trực tiếp với hoạt động canh tác lúa nước. Với tổng diện tích tự nhiên vùng đồng bằng đạt 12.021,51 ha (chiếm 36,67% toàn huyện) cùng hệ thống thủy nông sông Chu lâu đời, ngành nông nghiệp địa phương đóng vai trò quyết định trong việc bảo đảm an ninh lương thực và giải quyết việc làm cho hơn 130.000 lao động. Tuy nhiên, tình trạng biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp đang tạo ra áp lực nặng nề lên nguồn nước tưới: lượng mưa trong mùa khô suy giảm từ 1,4% đến 2,6%, trong khi nhiệt độ trung bình năm dự báo tăng từ 0,7°C đến 1,4°C vào các giai đoạn năm 2030 và 2050 theo kịch bản phát thải trung bình.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá định lượng tác động của biến đổi khí hậu đến tổng nhu cầu nước và mức tưới thiết kế cho cây lúa tại địa bàn huyện Thọ Xuân trong điều kiện hiện tại cũng như theo các kịch bản khí hậu tương lai. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ diện tích canh tác lúa của huyện, tập trung vào chuỗi dữ liệu khí tượng thủy văn 43 năm liên tục tại trạm Bái Thượng và định hướng giai đoạn đến năm 2050. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở khoa học để chính quyền địa phương và các đơn vị thủy nông duy trì tốc độ tăng trưởng ngành nông nghiệp trên 5,1%/năm, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn nước và bảo vệ sinh kế cho hơn 213.000 người dân.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cân bằng nước mặt ruộng và mô hình bốc thoát hơi nước tiêu chuẩn của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO). Phương trình cân bằng nước được thiết lập dưới dạng:

m = ETo x Kc + Ing + Wth + Wc - Wo - Phq

Trong đó:

  • m là mức tưới yêu cầu cần bổ sung trong từng giai đoạn sinh trưởng.
  • ETo là lượng bốc thoát hơi tiềm năng được xác định theo công thức tiêu chuẩn Penman-Monteith dựa trên các thông số nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió và số giờ nắng.
  • Kc là hệ số cây trồng đặc trưng cho từng thời kỳ sinh trưởng của lúa.
  • Ing, Wth, Wc, Wo lần lượt là lượng nước ngấm, lượng nước tháo thừa, lượng nước trên ruộng cuối kỳ và đầu kỳ.
  • Phq là lượng mưa hiệu quả phục vụ trực tiếp cho cây trồng.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp khung kịch bản phát thải khí nhà kính của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu (IPCC) và Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành (tập trung vào hai kịch bản chính là phát thải trung bình B2 và phát thải cao A1FI). Mô hình canh tác áp dụng công thức tưới tăng sản với yêu cầu duy trì lớp nước mặt ruộng tối ưu từ 30 mm đến 60 mm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào sử dụng chuỗi số liệu quan trắc khí tượng thủy văn đồng bộ trong 43 năm liên tục (từ năm 1970 đến năm 2012) tại trạm Bái Thượng (tọa độ 105°23’ Kinh độ Đông, 19°54’ Vĩ độ Bắc). Đây là trạm đại diện tiêu biểu nhất cho toàn bộ khu vực huyện Thọ Xuân do nằm tại đầu mối phân phối nguồn nước sông Chu, bảo đảm tính pháp lý và độ chính xác cao.

Về phương pháp chọn mẫu và phân tích, tác giả áp dụng phương pháp đường tần suất giải tích theo phân phối Pearson loại III, sử dụng phần mềm chuyên dụng TSTV-2002 để xác định lượng mưa thiết kế ứng với tần suất bảo đảm tưới P = 85% (lượng mưa vụ Chiêm Xuân đạt 301,5 mm với hệ số thu phóng k = 0,93; vụ Mùa đạt 806,11 mm với hệ số k = 1,044). Việc lựa chọn tần suất P = 85% và phần mềm mô hình hóa CROPWAT giúp mô phỏng chuẩn xác nhu cầu tưới trong các điều kiện thời tiết khắc nghiệt. Timeline nghiên cứu được phân kỳ rõ ràng qua 3 giai đoạn: thời kỳ nền (1980–1999), thời kỳ hiện tại (1970–2012) và các mốc dự báo tương lai năm 2030, 2050 và 2100.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã đưa ra các kết quả định lượng chi tiết về xu hướng biến động khí hậu và nhu cầu cấp nước phục vụ sản xuất lúa:

Thứ nhất, nhiệt độ không khí trung bình năm tại Thọ Xuân có xu thế gia tăng liên tục qua các mốc thời gian. Cụ thể, theo kịch bản B2, nhiệt độ trung bình tăng thêm từ 0,6°C đến 0,7°C vào năm 2030 và tăng từ 1,1°C đến 1,4°C vào năm 2050 so với thời kỳ nền. Mức nhiệt tăng cao nhất tập trung vào các tháng 3 đến tháng 5, kéo theo lượng bốc hơi tiềm năng tăng mạnh.

Thứ hai, chế độ mưa có sự phân hóa mùa cực kỳ sâu sắc. Lượng mưa vụ Chiêm Xuân (từ tháng 12 đến tháng 5 năm sau) suy giảm rõ rệt, trong đó giai đoạn tháng 3 đến tháng 5 giảm 1,4% vào năm 2030 và giảm 2,6% vào năm 2050 (thậm chí theo kịch bản A1FI giảm tới 26,44% trong giai đoạn mùa đông). Ngược lại, lượng mưa giai đoạn vụ Mùa (tháng 6 đến tháng 8) có xu hướng tăng từ 3,4% (năm 2030) lên 6,2% (năm 2050), làm gia tăng nguy cơ ngập úng cuối vụ.

Thứ ba, mức tưới yêu cầu cho lúa vụ Chiêm Xuân tăng trung bình từ 8% đến 12% do lượng mưa hiệu quả đầu vụ giảm trong khi nhu cầu bốc thoát hơi nước tăng cao. Lượng nước hao hụt do bốc hơi mặt ruộng đạt đỉnh vào tháng 5 và tháng 7 (tương ứng 82,4 mm và 85,8 mm).

Thứ tư, trước áp lực thời tiết cực đoan, cơ cấu gieo cấy tại địa phương đã có sự chuyển dịch thích ứng mạnh mẽ: diện tích lúa xuân sớm giảm xuống chỉ còn 12,5%, trong khi trà lúa xuân muộn ngắn ngày tăng lên chiếm 83,7% đến 94,1% diện tích gieo trồng, giúp nâng năng suất lúa từ 5,92 tấn/ha lên 6,53 tấn/ha (tăng 0,61 tấn/ha).

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng nhu cầu nước tưới trong vụ Chiêm Xuân xuất phát từ hiện tượng nhiệt độ tăng cục bộ kết hợp với tình trạng thiếu hụt nguồn nước mặt trong các tháng mùa kiệt. Các dữ liệu tính toán được biểu diễn tường minh qua các bảng cân bằng nước chi tiết theo từng tuần và các biểu đồ phân bố lượng nước yêu cầu qua các giai đoạn 2030 và 2050 so với thời kỳ nền tại trạm Bái Thượng.

Khi so sánh với các nghiên cứu tương tự tại lưu vực sông Mã và đồng bằng Bắc Bộ, kết quả của luận văn hoàn toàn tương đồng về quy luật gia tăng sự chênh lệch thủy văn giữa hai mùa. Lưu lượng nước sông Chu trong mùa lũ có thể lên tới 6.000 m3/s nhưng mùa kiệt chỉ còn khoảng 25 m3/s, kết hợp với các đợt gió Tây Nam khô nóng (gió Lào) xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7 làm gia tăng áp lực vận hành của các công trình đầu mối thủy nông. Điều này khẳng định sự cấp thiết phải chuyển đổi cơ chế cấp nước từ tưới tràn truyền thống sang tưới chủ động và linh hoạt theo từng giai đoạn phát triển của cây lúa.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo đảm hiệu quả cấp nước cho sản xuất lúa, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Nâng cấp và kiên cố hóa hệ thống công trình thủy nông Bái Thượng: Ủy ban nhân dân huyện Thọ Xuân phối hợp cùng Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi sông Chu tiến hành tu sửa, bê tông hóa các tuyến kênh tưới cấp 1, cấp 2 và nâng cấp các trạm bơm điện dọc sông Cầu Chày trước năm 2028. Mục tiêu giảm thiểu tỷ lệ thất thoát nước do thấm ngấm từ 25% hiện nay xuống dưới 12%, nâng cao năng lực tưới chủ động cho hơn 12.000 ha đất canh tác.

  2. Triển khai quy trình kỹ thuật tưới tiết kiệm nước: Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện cùng các Hợp tác xã Nông nghiệp nhân rộng mô hình tưới nông - lộ - phơi xen kẽ trên 100% diện tích gieo cấy lúa ngắn ngày giai đoạn 2026–2030. Phương pháp này chỉ duy trì lớp nước từ 30 mm đến 50 mm trong các giai đoạn mẫn cảm (bén rễ, làm đòng, trỗ bông) và rút cạn nước mặt khi đẻ nhánh, giúp tiết kiệm từ 15% đến 20% lượng nước tiêu thụ.

  3. Điều chỉnh lịch thời vụ và cơ cấu giống lúa thích ứng: Dịch chuyển lịch gieo cấy lúa vụ Mùa sớm hơn từ 10 đến 15 ngày (bắt đầu sau ngày 20 tháng 6) để thu hoạch trước ngày 20 tháng 9 nhằm tránh các đợt mưa lũ cực đoan cuối vụ. Đồng thời, mở rộng diện tích gieo cấy các giống lúa thuần ngắn ngày có khả năng chống chịu rét và hạn tốt như Dưu 525, Xuyên Hương 178, Bắc Thơm số 7, tạo quỹ đất phát triển cây vụ Đông đạt trên 60% diện tích.

  4. Ứng dụng công nghệ giám sát và điều tiết tài nguyên nước theo thời gian thực: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thanh Hóa cùng Ban Quản lý Khai thác Thủy lợi lắp đặt hệ thống quan trắc tự động tại các hồ chứa (Hồ Mạ, Hồ Cửa Trát, Hồ Sao Vàng) trước năm 2027. Hệ thống này giúp dự báo chính xác dòng chảy đến và tối ưu hóa quy trình xả - trữ nước theo các kịch bản thời tiết cực đoan.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước (Ủy ban nhân dân huyện Thọ Xuân, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thanh Hóa): Ứng dụng số liệu dự báo nhu cầu nước đến năm 2030 và 2050 để xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển nông nghiệp bền vững, lập dự toán ngân sách nâng cấp hạ tầng thủy lợi cấp huyện và điều chỉnh chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng.

  • Các đơn vị quản lý, khai thác công trình thủy nông: Sử dụng tài liệu tính toán mức tưới thiết kế với tần suất P = 85% để lập biểu đồ phân phối nước chi tiết cho từng tiểu vùng tả ngạn và hữu ngạn sông Chu, tối ưu hóa lịch đóng mở cống và vận hành các trạm bơm đầu mối.

  • Cán bộ khuyến nông và các Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp: Tiếp cận giải pháp kỹ thuật tưới tiết kiệm nước và lịch gieo cấy dịch chuyển để hướng dẫn bà con nông dân phòng ngừa rủi ro rét đậm đầu vụ Chiêm Xuân cũng như hạn chế hiện tượng mất mùa do mưa lũ cuối vụ Mùa.

  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Kỹ thuật Tài nguyên nước: Kế thừa khung phương pháp luận cân bằng nước CROPWAT kết hợp đường tần suất Pearson-III và chuỗi số liệu thủy văn 43 năm để mở rộng nghiên cứu sang các loại cây trồng khác hoặc các lưu vực sông lân cận.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình tính toán nào được sử dụng để xác định nhu cầu nước tưới trong luận văn? Nghiên cứu sử dụng mô hình cân bằng nước mặt ruộng kết hợp công thức Penman-Monteith theo chuẩn FAO để tính lượng bốc thoát hơi tiềm năng. Quy trình phân tích được thực hiện thông qua phần mềm thủy văn TSTV-2002 và mô hình CROPWAT trên chuỗi quan trắc 43 năm tại trạm Bái Thượng với tần suất bảo đảm P = 85%.

Biến đổi khí hậu làm thay đổi lượng mưa tại huyện Thọ Xuân như thế nào? Theo kịch bản phát thải trung bình B2, lượng mưa có sự phân hóa rõ rệt: lượng mưa mùa khô (từ tháng 3 đến tháng 5) giảm 1,4% vào năm 2030 và giảm 2,6% vào năm 2050. Trái lại, lượng mưa mùa hè - thu (tháng 6 đến tháng 8) tăng tương ứng 3,4% và 6,2%, gây gia tăng hiện tượng hạn hán đầu năm và ngập úng cục bộ cuối năm.

Tại sao lúa vụ Chiêm Xuân lại chịu ảnh hưởng thiếu nước nghiêm trọng hơn vụ Mùa? Vụ Chiêm Xuân chịu tác động kép từ việc lượng mưa mùa xuân giảm sút và nhiệt độ tăng từ 0,6°C đến 1,4°C làm gia tăng tốc độ bốc hơi mặt ruộng. Điều này xảy ra ngay trong giai đoạn mạ hồi xanh và làm đòng, đòi hỏi mức tưới bổ sung từ hệ thống thủy nông phải tăng từ 8% đến 12%.

Việc chuyển đổi sang các giống lúa ngắn ngày mang lại hiệu quả thực tế ra sao? Các giống lúa ngắn ngày như Dưu 525, Xuyên Hương 178 giúp rút ngắn chu kỳ sinh trưởng, giảm thiểu rủi ro phơi nhiễm trước các đợt rét hại kéo dài đầu năm. Thực tế canh tác tại Thọ Xuân cho thấy diện tích lúa ngắn ngày đạt trên 83,7% và nâng năng suất lên 6,53 tấn/ha, cao hơn 0,61 tấn/ha so với giống dài ngày truyền thống.

Các giải pháp công trình trọng điểm nào cần được ưu tiên triển khai ngay? Địa phương cần ưu tiên kiên cố hóa hệ thống kênh mương trạm Bái Thượng và nâng cấp các trạm bơm điện ven sông Cầu Chày nhằm giảm tỷ lệ thất thoát nước xuống dưới 12%. Song song với đó là nạo vét, nâng cao dung tích trữ của các hồ chứa như Hồ Mạ (39,8 ha) và Hồ Cửa Trát (17,5 ha) để điều tiết nước mùa kiệt.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện và định lượng hóa tác động của biến đổi khí hậu đến các yếu tố nhiệt độ, lượng mưa và bốc hơi tại huyện Thọ Xuân qua chuỗi dữ liệu 43 năm (1970–2012).
  • Xác định chính xác mức tưới thiết kế với tần suất P = 85% cho hai vụ lúa chính trong điều kiện hiện tại và các mốc tương lai 2030, 2050 theo kịch bản B2 và A1FI.
  • Chứng minh rõ nét nguy cơ thiếu hụt nguồn nước tưới trong vụ Chiêm Xuân do mưa giảm từ 1,4% đến 2,6% và bốc hơi gia tăng, tạo cơ sở cho việc tái cấu trúc mạng lưới cấp nước.
  • Khẳng định tính đúng đắn của việc dịch chuyển cơ cấu mùa vụ sang giống lúa ngắn ngày, nâng tỷ lệ canh tác lên trên 83% và đạt năng suất 6,53 tấn/ha.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ, khả thi, gắn liền với kế hoạch hành động thích ứng khí hậu của địa phương.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp bức tranh số liệu định lượng chi tiết phục vụ công tác quy hoạch tài nguyên nước cấp huyện. Trong giai đoạn 2026–2030, các cấp quản lý và đơn vị thủy nông cần khẩn trương số hóa quy trình vận hành hồ đập sông Chu, triển khai kỹ thuật tưới tiết kiệm và hoàn thiện kiên cố hóa kênh mương nhằm bảo đảm phát triển nông nghiệp bền vững.