Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm ngày càng được chú trọng phát triển. Bởi nó cung cấp cho chúng ta các sản phẩm thịt, trứng - nguồn protein rất quan trọng cho con người. Trong mỗi gia đình ở nông thôn, gia cầm nói chung và gà nói riêng bao giờ cũng được quan tâm hơn các loại vật nuôi khác vì nó phù hợp với tất cả gia đình nhất là những gia đình không có đủ khả năng để nuôi những động vật đòi hỏi kinh phí lớn như: nuôi lợn, nuôi trâu, bò thịt, bò sữa. Từ nhiều năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm phát triển mạnh và có những tiến bộ vượt bậc là nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất.
Chăn nuôi gia cầm chỉ đứng hàng thứ hai sau chăn nuôi lợn, giữ một vai trò quan trọng trong nông nghiệp và nông thôn ở nước ta. Trong chăn nuôi gia cầm công nghiệp việc bổ sung các chất kích thích tăng trưởng, kháng sinh vào khẩu phần được sử dụng rất nhiều. Ngày nay việc sử dụng các chất này có xu hướng giảm dần do chúng có tác động xấu đến sức khỏe của người tiêu dùng bởi sự tồn dư của chúng hầu hết ở trong sản phẩm thịt, trứng. Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu đời sống của người dân ngày càng được nâng cao.
Họ đòi hỏi thực phẩm có chất lượng cao, mùi vị thơm ngon. Chính vì vậy, nghiên cứu về tiềm năng của các chất bổ sung có thành phần tự nhiên để thay thế các chất hóa học có ý nghĩa rất quan trọng. Hiện nay, ở nước ta Acid pak 4 way được sử dụng khá phổ biến đặc biệt trong các trang trại lớn để thay thế các chất kích thích tăng trưởng và kháng sinh. Acid pak 4 way là chế phẩm pha nước uống, có chứa 4 thành phần thiết yếu (acid, enzyme, chất điện giải và vi khuẩn acid lactic), cung cấp đủ nguồn acid dùng cho quá trình tiêu hóa protein và duy trì pH, nhằm cung cấp môi trường đường ruột tối ưu cho vật nuôi, cho phép các vi sinh vật sản xuất acid lactic đi qua đường ruột đồng thời hạn chế vi khuẩn gây bệnh mà không ảnh hưởng đến cân bằng điện giải.
Hiệu quả của acid pak 4 way đã h 2 được thử nghiệm trên hầu hết các loài gia súc, gia cầm trên thế giới. Tuy nhiên, chưa có nhiều công bố kết quả nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chế phẩm sinh học này đến năng suất và chất lượng sản phẩm của vật nuôi. Xuất phát từ thực tế trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của Acid pak 4 way đến khả năng sản xuất thịt của gà lông màu nuôi chuồng hở tại Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài - Xác định ảnh hưởng của việc dùng Acid pak 4 way đến khả năng sản xuất thịt của gà Ri lai nuôi chuồng hở vụ Hè tại Thái Nguyên.
- Bản thân làm quen với công tác nghiên cứu khoa học. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở phục vụ nghiên cứu cho giảng viên và sinh viên khoa Chăn nuôi Thú y. Ý nghĩa thực tiễn - Acid pak 4 way góp phần tăng khả năng tiêu hóa, giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm chi phí thuốc thú y, tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi.
- Từ kết quả nghiên cứu ta có thể sử dụng Acid pak 4 way để áp dụng vào thực tiễn sản xuất cho các gia trại và người chăn nuôi gia cầm. h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Vài nét giới thiệu về Acid pak 4 way 2.
Đặc điểm của Acid pak 4 way Acid Pak 4 way là chế phẩm bột để pha vào nước uống có chứa bốn thành phần thiết yếu: acid hữu cơ, enzyme, chất điện giải và các vi khuẩn acid lactic. Việc bổ sung acid pak 4 way vào nước uống nhằm làm pH của nước giảm xuống dưới 4 và mức tốt nhất là từ 3 đến 3,5. Giảm pH nước đã làm gia cầm nhanh chóng giảm pH của chất chứa ở diều đến khoảng thích hợp nhất cho các hoạt động của vi sinh vật sản sinh acid lactic đồng thời hạn chế được sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh. Hơn nữa, Acid pak 4 way còn làm gia tăng đáng kể magiê, clorua, photphat, sunfat, florua, natri, kali hữu cơ, sắt, mangan, kẽm, với các hiệu ứng thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển của gà.
- Cơ chế tác động: Chất acid hóa trong AP4W là một chất đệm acid citrate bao gồm acid citric và natri citrate. Thông qua hoạt động đệm của acid này AP4W có thể làm giảm pH đến khoảng mong muốn, rồi giữ ở mức đó. - Đối tượng sử dụng: Lợn, gia cầm, bò thịt, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi ngựa, thú cưng. - Thành phần acid pak 4 way: gồm 4 nhóm Nhóm 1: Các acid hữu cơ (acid citric, acid sorbic) Acid hữu cơ được dùng khá phổ biến trong thức ăn công nghiệp.
So sánh với các thức ăn bổ sung khác, acid hữu cơ được đánh giá là có lợi ích cao nhất đối với thành tích chăn nuôi. Các acid hữu cơ được sử dụng phổ biến trong thức ăn chăn nuôi gồm có formic, axetic, propionic, butyric, lactic, sorbic, fumaric, tartaric, citric, benzoic, và malic, và được chia làm 2 nhóm dựa theo đặc tính của chúng. Nhóm thứ nhất gồm có: Lactic, fumaric, citric có đặc tính gián tiếp giảm thiểu số lượng vi khuẩn bằng cách giảm trừ độ pH trong dạ dày; trong khi đó, nhóm thứ hai h 4 gồm có: Formic, axetic, propionic và sorbic có đặc tính tác động trực tiếp làm giảm độ pH trong đường tiêu hóa trên tế bào của vi khuẩn Gram. Theo nghiên cứu của Byrd J và cs, (2001) [15] chỉ ra rằng việc bổ sung acid hữu cơ vào nước uống giúp giảm mức độ mầm bệnh trong nước, điều chỉnh hệ vi sinh đường ruột, tăng khả năng tiêu hóa thức ăn và cải thiện hiệu suất tăng trưởng.
+ Cấy nấm Aspergillus niger trong môi trường glucoza lọc ra được dung dịch Ca(OH)2 muối Canxi citrate + acid sulfuric acid citric. + Các chất đệm của các citrat được sử dụng để kiểm soát pH, đồng thời có khả năng làm mềm nước cứng, rất tốt để sử dụng trong chăn nuôi. + Ngoài ra acid citric còn được sử dụng như thành phần hoạt hóa trong sản xuất mô kháng virut. Acid sorbic (C6H8O2) Acid sorbic và muối của nó là các tác nhân kháng khuẩn thường thêm vào thức ăn, nước uống để ngăn chặn sự phát triển của nấm mốc, nấm men và vi khuẩn Aerophile, cản trở việc tăng trưởng và sinh sản của các vi sinh vật độc hại như Pseudomonas.
Acid sorbic kéo dài thời gian lưu trữ thực phẩm mà vẫn lưu giữ được hương vị ban đầu. Tác dụng của acid hữu cơ: + Ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại, duy trì cân bằng vi khuẩn đường ruột. + Hỗ trợ sự tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng. + Làm giảm hệ đệm của thức ăn, cải thiện khả năng tiêu hóa thức ăn.
+ Giảm pH trong dạ dày, đặc biệt ở ruột non, cải thiện việc giữ lại nitơ và làm tăng khả năng tiêu hóa. Nhóm 2: Các chất khoáng (NaCl, ZnSO4, MgSO4, K) NaCl, Kali: Tăng tính ngon miệng, tăng khả năng tiêu hóa, hấp thu protein, giúp ổn định độ toan kiềm của máu, tham gia vào hệ đệm của máu, giữ áp suất thẩm h 5 thấu của máu và mô bào, ổn định nhịp tim và hô hấp, giúp cho các dây thần kinh và cơ bắp hoạt động đúng chức năng, giảm stress do nhiệt. ZnSO4: Đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất protein, carbohydrate, lipit. Có vai trò trong phát triển xương, duy trì sức sinh sản, chống sừng hóa.
MgSO4: Là thành phần của xương và răng. Đảm bảo khả năng hoạt động của hệ thống thần kinh và cơ, nằm trong thành phần 1 số enzyme. Điều hòa phản ứng photphoryl - oxy hóa, tham gia vào điều hòa thân nhiệt. Nhóm 3: Các chiết xuất men được sấy khô (chiết xuất men Aspergillus niger, chiết xuất men Bacillus subtilis, sản phẩm lên men Lactobacillus acidophilus và chiết xuất men Enterococcus faecium đều được sấy khô).
Chiết xuất men Aspergillus niger được sấy khô + Phân bố nhiều trong tự nhiên (đất, xác bã thực vật, hoa quả và đặc biệt nhiều ở vùng khí hậu ấm áp). Là những cơ thể hiếu khí sống hoại sinh hoặc kí sinh, không có khả năng quang hợp, sống nhờ khả năng hấp thụ các loại chất hữu cơ có sẵn quan bề mặt khuẩn tỵ. + Có khả năng đồng hóa các loại đường khác nhau như: Glucose, fructose,. từ đó tham gia quá trình sản xuất acid citric.
Chiết xuất men Bacillus subtilis được sấy khô + B.subtilis có khả năng sản sinh nhiều enzyme, nhưng quan trọng nhất là amylase và protease, 2 loại enzyme thuộc hệ thống men tiêu hóa.subtilis có khả năng sinh tổng hợp một số chất kháng sinh có tác dụng ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật khác, tác dụng lên cả vi khuẩn Gram (-), Gram (+) và nấm gây bệnh.subtilis thường tồn tại trong sản phẩm ở trạng thái bào tử, nhờ vậy khi uống vào dạ dày, nó không bị acid cũng như các men tiêu hóa ở dịch vị phá hủy. Ở ruột, bào tử nảy mầm và phát triển thành thể hoạt động giúp cân bằng hệ vi sinh có ích trong đường ruột, cải thiện hệ thống tiêu hóa, nhất là sau khi sử dụng kháng sinh kéo dài. Sản phẩm lên men Lactobacillus acidophilus được sấy khô h 6 Tác dụng lactobacillus trong chăn nuôi là dùng để sản xuất men và chất diệt khuẩn lactocidin, ức chế sinh trưởng số lượng vi khuẩn gây bệnh đường ruột cho vật nuôi. Tăng cường kháng sinh tự nhiên và hệ miễn dịch đường ruột.
Khả năng tạo acid của Lactobacillus acidophilus khoảng 2 %. Chiết xuất men Enterococcus faecium sấy khô + Là tăng cường enzyme tiêu hóa chất hữu cơ như tinh bột, đường, kích thích tiêu hóa cho vật nuôi. + Trong quá trình kích thích tiêu hóa, vật nuôi hạn chế rơi vào tình trạng rối loạn tiêu hóa do thức ăn, mất cân bằng hệ vi sinh đường ruột do rối loạn tiêu hóa, ngăn ngừa dấu hiệu tiền bệnh của những loại bệnh đường tiêu hóa. Nhóm 4: Các chất khác (Maltodextrin, Silicon dioxide, natri citrate) Maltodextrin + Tạo vị ngọt trong các sản phẩm thức ăn chăn nuôi thú y, kích thích vị giác, có tính hòa tan, chống vón cục.
Silicon dioxide + Cải thiện sự hấp thụ chất dinh dưỡng, làm tăng trọng lượng của vật nuôi và hiệu quả hấp thụ thức ăn một cách lành mạnh và bền vững. Silicon dioxide còn giúp giảm mùi hôi thối.