Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ NHẠC MÚA VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận Hiện nay ở nước ta chưa có một cuốn từ điển nào trong lĩnh vực nghệ thuật múa và âm nhạc bằng tiếng Việt có đủ hàm lượng lớn về số từ, bao quát được nhiều lĩnh vực chuyên sâu thuộc lĩnh vực nhạc múa. Do vậy việc thống nhất các khái niệm, thuật ngữ chuyên môn về nhạc múa là việc làm còn gặp nhiều khó khăn. Việc phân tích các khái niệm liên quan để đưa ra nội hàm cho thuật ngữ NMVN sử dụng trong luận án này, không chỉ giúp cho việc giới hạn phạm vi nghiên cứu được rõ ràng, mà còn khẳng định vị trí, ý nghĩa của đề tài cũng như phạm vi ứng dụng kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực âm nhạc học và sáng tác âm nhạc.
Trong luận án này, về thuật ngữ chuyên môn múa, chúng tôi dựa vào một số công trình nghiên cứu chuyên khảo của các nhà nghiên cứu múa như cuốn Khái luận nghệ thuật múa Việt Nam của tác giả Lê Ngọc Canh do Nhà xuất bản Văn hóa thông tin Hà Nội ấn hành năm 1997, cuốn Nghệ thuật biên đạo múa của tác giả Nguyễn Thị Hiển do Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội xuất bản năm 2008, cuốn Nghệ thuật biểu diễn múa đương đại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập - quốc tế hóa của tác giả Trần Văn Hải do Nhà xuất bản Thanh niên ấn hành năm 2020. Về lĩnh vực âm nhạc học chúng tôi dựa vào cuốn Các thể loại âm nhạc người dịch Lan Hương, do Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội phát hành năm 1981; cuốn Phân tích tác phẩm âm nhạc của tác giả Nguyễn Thị Nhung do Nhạc viện Hà Nội phát hành năm 2005; cuốn Cấu trúc dân ca người Việt của tác giả Bùi Huyền Nga do Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội ấn hành năm 2012 và cuốn Tổng 10 tập âm nhạc Việt Nam tác giả và tác phẩm, do Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội ấn hành năm 2010. Các khái niệm, thuật ngữ cơ bản về múa Theo tài liệu của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Hiển trong cuốn Nghệ thuật biên đạo múa do Nhà xuất bản Văn học Hà Nội xuất bản năm 2008. Bà đã định nghĩa về múa như sau: Múa là loại hình nghệ thuật tổng hợp, một tác phẩm múa được tạo nên bởi nhiều thành phần như kịch bản, âm nhạc, nghệ thuật tạo hình, múa và nghệ thuật biểu diễn của diễn viên…[30, tr.
+ Múa dân gian Việt Nam: là loại múa do người dân các tộc người ở Việt Nam sáng tạo ra, đây là một loại múa phổ biến nhất trong các loại, các hình thái múa. Nó mang trong mình những đặc tính riêng của nền nghệ thuật mỗi tộc người. Múa dân gian của các tôc người ở Việt Nam được sinh ra, được nuôi dưỡng phát triển dưới bàn tay khối óc và trái tim sinh ra từ khối óc, trái tim và của nhân dân, nó đã và sẽ tồn tại lâu dài trong đời sống tinh thần của nhân dân. Nội dung hình thức trong múa dân gian Việt Nam phản ánh những khía cạnh tình cảm, tư tưởng, quan niệm, thẩm mỹ của nhân dân, được nhân dân yêu thích và tham gia vui múa [8, tr.
+ Múa đương đại Việt Nam: là loại múa do các nhà biên kịch múa, đạo diễn múa hoặc các nghệ sĩ múa Việt Nam có trình độ chuyên môn được đào tạo bài bản sáng tạo nên. Nội dung, hình tượng của những tác phẩm này có thể liên quan đến quá khứ hoặc những câu chuyện trong đời sống hiện tại còn về hình thức múa, động tác múa, cách thể hiện … dựa vào nghệ thuật chuyển động cơ thể tự nhiên bằng ngôn ngữ động tác trước hiện thực của người diễn viên múa được liên kết lại để tạo hình đường nét, mảng khối về cái đẹp, biểu cảm đa chiều đời sống của con người trong tự nhiên và xã hội đương đại [28, tr. + Múa truyền thống Việt Nam là những tổ hợp các động tác cơ bản, được tổ chức thống nhất liên kết, hỗ trợ lẫn nhau nhằm mục đích đầu tiên là huấn luyện 11 năng lực cơ bản cho diễn viên và làm cơ sở cho ngôn ngữ kịch múa dân tộc [73, tr. + Múa cổ điển châu Âu: (thường gọi là Ballet), một loại hình nghệ thuật múa chuyên nghiệp “bác học” được sáng tác và dàn dựng với ngôn ngữ múa cổ điển châu Âu.
Nó thuộc loại hình nghệ thuật không gian, thời gian và mang tính tích hợp, trong đó có sự kết hợp của các loại hình nghệ thuật khác như kịch câm, âm nhạc, mỹ thuật… múa cổ điển châu Âu là hệ thống cơ bản và là bộ môn múa chính để hình thành nên một vở ballet cổ điển [66, tr. + Các hình thức biểu diễn trong nghệ thuật múa: Nhà biên đạo Văn Học đã có lý khi cho rằng trong các loại hình nghệ thuật, ít có những loại hình nào có mối quan hệ với nhau về nhiều phương diện như múa và âm nhạc. Theo quan điểm của ông đã bộc lộ khi chúng tôi thực hiện phỏng vấn, ông cho rằng những vấn đề khác nhau giữa múa và âm nhạc chỉ là sự diễn đạt một bên là âm thanh, một bên là động tác còn ở nhiều phương diện khác chúng có mối tương đồng khá cao. Dưới góc độ biểu diễn trong âm nhạc có các hình thức diễn tấu nhạc cụ như: độc tấu, song tấu, tam tấu, tứ tấu… thì múa cũng có những hình thức biểu diễn tương ứng, đó là múa đơn (solo), múa đôi (duo), múa ba người (trio), múa tập thể.
Trong cuốn Khái luận nghệ thuật múa Việt Nam, tác giả Lê Ngọc Canh đã đưa ra định nghĩa: - Múa đơn (solo): là loại múa do một người trình diễn, múa đơn đòi hỏi người diễn viên múa phải có kỹ thuật múa tốt. - Múa đôi (duo): là loại múa do hai người trình diễn thông thường là múa một nam một nữ hoặc hai nam. - Múa ba (trio), loại múa do ba người trình diễn, có thể là múa ba nam hoặc ba nữ hoặc hai nam múa với một nữ, hoặc hai người nữ múa với một nam. Mỗi người mang một tính cách riêng thông qua những động tác, tư thế với những cách cấu tạo động tác khác nhau.
12 - Múa tập thể: là loại múa đông người, một hình thức phổ biến trong các thể loại nghệ thuật múa như: múa dân gian dân tộc, múa truyền thống Việt Nam và múa cổ điển châu Âu, múa đương đại Việt Nam, trong đó số lượng diễn viên múa tham gia trình diễn thường có từ năm người đến vài chục người. Các hình thức múa này chính là chỗ dựa và sẽ chi phối rất nhiều đến sự hình thành về hình thức, cấu trúc, tính chất và thể loại của các phần nhạc múa. Ở một góc độ nhất định người ta cũng có thể hình dung múa tập thể tương tự như hình thức hòa tấu (ensemble) trong biểu diễn khí nhạc. + Kịch múa: kịch múa là loại hình nghệ thuật âm nhạc - sân khấu mà nội dung của nó được biểu hiện bằng hình tượng múa [30, tr.
+ Thơ múa: là một thể loại có kết cấu theo từng chương, từng phần. Mỗi phần, mỗi chương đều có những chủ đề, màu sắc, tính chất được xác định, trong đó có những nhân vật dẫn chuyện biểu hiện một tâm trạng, hành động nhất định [8, tr. + Biên đạo múa: là tác giả và đạo diễn sáng tác ra các tác phẩm múa bao gồm nhiều hình thức và thể loại: Kịch múa, thơ múa, tổ khúc múa, múa tình tiết, múa biểu diễn, dựa trên chất liệu múa dân gian các dân tộc, múa trong chương trình ca múa nhạc nhẹ và múa trong các vở diễn sân khấu [30, tr. + Hình tượng nghệ thuật: là phương tiện đặc thù của nghệ thuật nhằm phản ánh khái quát cuộc sống, xuất phát từ lý tưởng thẩm mỹ của nghệ sĩ qua một hình thức sinh động cảm tính cụ thể được cảm thụ một cách trực tiếp [30, tr.
+ Hình tượng nghệ thuật múa: là sự biểu hiện toàn vẹn, thống nhất những tình cảm, những suy nghĩ, những tính cách của con người thông qua ngôn ngữ của nghệ thuật múa… hình tượng nghệ thuật múa luôn gắn với âm nhạc [30, tr. + Kịch bản múa: là nội dung, cốt truyện của tác phẩm múa được trình bày dưới hình thức văn học. Trong kịch bản thể hiện tư duy tìm tòi của tác giả về nội dung và cấu trúc toàn bộ tác phẩm… [30, tr. 13 + Kết cấu múa: là cấu trúc một tác phẩm múa được quy định bởi nội dung của nó.
Biên đạo múa sáng tác ra những phẩm múa có nghĩa là xây dựng cấu trúc của một điệu múa [30, tr. + Đội hình, tuyến múa: là sự bố trí sắp xếp và thay đổi góc độ, hướng chuyển động của các nhân vật trên không gian sân khấu. Sự di chuyển vị trí sân khấu của diễn viên từ điểm này đến điểm khác… [30, tr. + Ngôn ngữ múa: là những động tác, những tư thế tạo hình và sự biểu hiện của nét mặt, biểu hiện những suy nghĩ những tình cảm, diễn tả những mối quan hệ của con người, những tính cách, những hình tượng các nhân vật và tư tưởng của tác phẩm [30, tr.
+ Dân vũ: hay còn gọi là điệu múa dân gian, là những vũ đạo phản ánh cuộc sống của người dân một quốc gia, một dân tộc hoặc một lãnh thổ nhất định (folk dance). Các khái niệm, thuật ngữ cơ bản về nhạc múa Việc đưa ra nội dung giải thích rõ ràng đầy đủ cho tất các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài để được công nhận một cách phổ biến vẫn là một vấn đề cần được xem xét, tổng hợp một cách khoa học và có hệ thống. Trong khi đó, những khái niệm như: nhạc múa, hiện nay vẫn chưa được nhất quán, thiếu cụ thể và cần phải được tổng hợp, chọn lọc một cách khoa học để có thể áp dụng vào thực tế, phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận án. Vì vậy việc tìm hiểu các khái niệm về nhạc múa, sẽ giúp NCS đưa ra những giới thuyết cho thuật ngữ nhạc múa dùng trong luận án một cách cụ thể hơn.
Qua việc tổng hợp các công trình nghiên cứu về âm nhạc múa ở phương Tây cho thấy, thuật ngữ nhạc múa thường được dùng để chỉ những điệu múa và nhạc múa gắn liền trực tiếp với nhau trong sinh hoạt lao động của con người. Mỗi điệu múa điệu nhảy thường có nhạc đệm đi kèm. Ban đầu các tác phẩm nhạc múa dân gian hay múa sinh hoạt thường không phức tạp.