Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Âm nhạc học với đề tài "Nhạc múa Việt Nam" (Mã số: 62 21 02 01) do nghiên cứu sinh Bùi Phương Hảo thực hiện tại Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Bình Định, hoàn thành năm 2024.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc và múa luôn song hành mật thiết; âm nhạc đóng vai trò là phương tiện biểu hiện thính giác đồng hành cùng ngôn ngữ chuyển động cơ thể để khắc họa hình tượng, bối cảnh, tính cách và tư tưởng thẩm mỹ của tác phẩm múa. Mặc dù nền nghệ thuật múa chuyên nghiệp Việt Nam đã hình thành và phát triển qua nhiều thập kỷ với khối lượng sáng tác phong phú phục vụ sân khấu biểu diễn, đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về phần âm nhạc trong tác phẩm múa dưới góc độ chuyên ngành Âm nhạc học. Các công trình trước đây đa phần tiếp cận múa từ góc độ sân khấu, biên đạo hoặc lịch sử văn hóa, chỉ nhận định khái quát về vai trò của âm nhạc mà chưa phân tích cụ thể các yếu tố cấu thành âm nhạc như cấu trúc, chất liệu, phương thức xây dựng chủ đề, luật nhịp, tiết tấu, hòa âm và phối khí. Thực tế đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thực hiện một công trình tổng kết, đánh giá khoa học về nhạc múa Việt Nam.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ đặc điểm của phần âm nhạc trong các tác phẩm múa Việt Nam, qua đó khẳng định vai trò, ý nghĩa và giá trị của thể loại nhạc múa trong nghệ thuật múa nói riêng cũng như trong nền âm nhạc Việt Nam nói chung.
Để đạt được mục tiêu trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:
- Nghiên cứu tổng quan các khái niệm, các vấn đề về lý thuyết và các công trình, đề tài nghiên cứu có liên quan để xây dựng cơ sở lý luận cho luận án.
- Nghiên cứu về quá trình hình thành và phát triển của nhạc múa Việt Nam để có cơ sở thực tiễn cho đề tài.
- Phân tích về nội dung, hình thức và đặc điểm cơ bản của các tác phẩm nhạc múa Việt Nam để có cơ sở nhận diện, xác định phân loại tác phẩm.
- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành nhạc múa trong mối quan hệ với kịch bản và hình tượng múa như: cách thức xây dựng chủ đề âm nhạc, phương thức sử dụng luật nhịp, cách thức phát triển tiết tấu, hòa âm, phối khí trong các tác phẩm nhạc múa Việt Nam; trên cơ sở đó đưa ra những nhận định, đánh giá về vai trò và giá trị của nhạc múa Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nội dung, đề tài, đặc điểm âm nhạc trong các hình thức múa; các yếu tố cấu thành nhạc múa gồm cấu trúc, chất liệu, cách xây dựng và phát triển chủ đề, phương thức sử dụng tiết tấu, luật nhịp, hòa âm, phối khí trong mối quan hệ với kịch bản và hình tượng múa; vai trò, giá trị của âm nhạc trong tác phẩm múa và vị trí của nó trong nền âm nhạc Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về loại hình: Các tác phẩm nhạc múa được sáng tác dành cho các tiết mục múa trên sân khấu ca - múa - nhạc chuyên nghiệp (bao gồm tác phẩm viết cho dàn nhạc dân tộc, dàn nhạc giao hưởng, nhóm nhạc cụ dân tộc, ban nhạc kết hợp nhạc cụ dân tộc với phương Tây, hoặc một đàn piano). Luận án giới hạn không phân tích phần âm nhạc trong các tác phẩm kịch múa (ballet) quy mô lớn của Việt Nam.
- Tiêu chí lựa chọn mẫu khảo sát: Tác phẩm do các nhạc sĩ chuyên nghiệp là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam sáng tác; đã được dàn dựng biểu diễn trên sân khấu, thu âm, in ấn xuất bản hoặc đạt giải thưởng, huy chương Vàng, huy chương Bạc tại các hội diễn chuyên nghiệp trong và ngoài nước, hoặc được Hội Nhạc sĩ Việt Nam trao giải thưởng sáng tác.
- Quy mô khảo sát: Tổng cộng 56 tác phẩm tiêu biểu có văn bản ký âm (bản phổ in hoặc bản chép tay sưu tầm được).
- Khung thời gian và tác giả: Khảo sát tiến trình sáng tác từ năm 1945 đến năm 2015, bao gồm hai thế hệ nhạc sĩ: thế hệ từ giai đoạn 1945 - 1975 (như Nguyễn Văn Thương, Vĩnh Cát, Nguyễn Đình Tích, Xuân Hòa, Nhật Lai...) và thế hệ trưởng thành sau năm 1975 (như Trần Quý, Đôn Truyền, Ca Lê Thuần, Đỗ Hồng Quân, Nguyễn Tiến, Doãn Tiến, An Hiếu, Vũ Minh Vỹ, Trọng Đài, Doãn Nguyên, Đỗ Bảo...).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại
Trong phần tổng quan, tác giả hệ thống hóa các tài liệu liên quan thành 3 nhóm chính:
-
Nhóm các công trình nghiên cứu nghệ thuật múa có đề cập đến âm nhạc:
- Biên đạo múa Văn Học trong các cuốn Nghệ thuật múa Việt Nam - thoáng cảm nhận (NXB Văn hóa Dân tộc, 2002) và Múa qua một cách nhìn (NXB Sân khấu, 2014) khẳng định âm nhạc là linh hồn của múa, đặt ra vấn đề lịch sử về sự xuất hiện trước - sau giữa nhạc và múa, đồng thời chỉ ra 4 đặc tính của âm nhạc và múa dân gian gồm tính cộng đồng, tính phổ cập, tính nguyên hợp và tính bền vững.
- Lê Ngọc Canh với các công trình Khái luận nghệ thuật múa Việt Nam (1997), Đại cương nghệ thuật múa (2002), Lịch sử Nghệ thuật múa Việt Nam (2008), Nghệ thuật múa tộc người Mạ, Nghệ thuật múa người Châu Ro (2000), đề tài cấp Bộ Nghệ thuật múa truyền thống Khơmer Nam Bộ (2012), và bài viết Suy nghĩ về âm nhạc trong tác phẩm múa (Tuyển tập bài viết về nghệ thuật múa Việt Nam, tập 1, 2) đã khảo sát sự gắn kết giữa tiết tấu và các nhạc cụ gõ (trống đồng, cồng chiêng, dàn nhạc cung đình thời Nguyễn, dàn nhạc gõ Khmer như Ronet êk, Ronet thung, Kông thom, Xomphon).
- Lâm Tô Lộc trong cuốn Tìm hiểu về Nghệ thuật múa Việt Nam (2011) và bài viết Âm nhạc là linh hồn của múa (Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 12, 2004) đã thống kê các tác phẩm múa đoạt huy chương vàng qua các thời kỳ (1975 - 1985, 1986 - 2005) và phân tích vai trò gợi mở cấu trúc, tính cách múa của âm nhạc.
- Nguyễn Thành Đức trong Những lắng đọng trong tôi (2015) nghiên cứu mối quan hệ hợp nhất giữa âm nhạc và múa dân gian các tộc người Mạ, Chơ-ro, Xtiêng qua giai điệu và âm sắc.
- Nguyễn Thị Hiển trong Nghệ thuật biên đạo múa (2008) và bài viết về phương pháp xử lý âm nhạc của các biên đạo quốc tế (dẫn trường hợp David Lichine dựng ballet không dùng nhạc).
- Trần Văn Hải trong Nghệ thuật biểu diễn múa đương đại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập - quốc tế hóa (2020) và Thái Thị Thu Hương với bài viết Âm nhạc và múa đương đại (2008) phân tích đặc tính đa dạng của âm nhạc trong múa đương đại.
- Các bài tham luận trong Kỷ yếu Những vấn đề Dân tộc hiện đại trong nghệ thuật múa (Viện Âm nhạc và Múa, 1993) của Đặng Nguyễn (Tính không gian âm nhạc trong múa dân gian) và Trọng Đài (Mối liên quan chặt chẽ giữa âm nhạc và múa).
- Ứng Duy Thịnh với các bài báo khoa học Về khái niệm tác phẩm múa chuyên nghiệp (2005) và Phương pháp xử lý âm nhạc trong dàn dựng tác phẩm múa (2006) đề xuất 3 quy trình phối hợp: sáng tác nhạc trước khi dựng múa, dựng múa trước khi viết nhạc, hoặc biên đạo và nhạc sĩ đồng thời sáng tác.
-
Nhóm tài liệu trong lĩnh vực đào tạo:
- Vũ Minh Vỹ trong Giáo trình Âm nhạc dân gian Việt Nam (Bộ Văn hóa Thông tin, Trường Cao đẳng Múa Việt Nam, 2010) phân tích mối quan hệ tương hỗ và sự sóng đôi tất yếu giữa âm nhạc dân gian và múa dân gian của các tộc người Việt, Cao Lan, Lô Lô, KaTu.
-
Nhóm công trình trong lĩnh vực Âm nhạc học:
- B.Êphimencôva (Lan Hương dịch) trong cuốn Thể loại âm nhạc (NXB Văn hóa, 1981) cung cấp cơ sở lý thuyết về thể loại nhạc múa phương Tây, nhấn mạnh tính ổn định của các âm hình tiết tấu lặp lại.
- Tú Ngọc (chủ biên), Nguyễn Thị Nhung, Vũ Tự Lân, Nguyễn Ngọc Oánh, Thái Phiên trong Âm nhạc mới Việt Nam - Tiến trình và thành tựu (Viện Âm nhạc, 2000) điểm lại lịch sử phát triển âm nhạc vũ kịch và nhạc múa qua các thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và giai đoạn đổi mới (xu hướng sử dụng nhạc cụ điện tử thập niên 1990).
- Trọng Bằng, Nguyễn Thị Nhung, Phạm Tú Hương, Lê Toàn, Vũ Tự Lân, Nguyễn Thị Minh Châu trong Tổng tập âm nhạc Việt Nam tác giả và tác phẩm (Tập 1, 2010) cung cấp tiểu sử và danh mục tác phẩm của 59 nhạc sĩ tiêu biểu có sáng tác cho múa.
- Các công trình chuyên khảo về cấu trúc và thang âm điệu thức: Cấu trúc dân ca người Việt của Bùi Huyền Nga (2012), Thang âm điệu thức trong âm nhạc cổ truyền một số dân tộc miền Nam Việt Nam của Lư Nhất Vũ (1993), Thanh điệu tiếng Việt và âm nhạc cổ truyền của Hoàng Kiều, Âm nhạc Quan họ của Nguyễn Trọng Ánh, và bài viết của Nguyễn Thụy Loan (1992) về thang âm ngũ cung Tây Nguyên.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy các nghiên cứu trước đây chưa giải quyết trọn vẹn nhạc múa dưới tư cách một đối tượng nghiên cứu độc lập của Âm nhạc học. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng cách:
- Hệ thống hóa toàn diện tiến trình lịch sử sáng tác nhạc múa Việt Nam qua hai giai đoạn (1945 - 1975 và 1975 - 2015).
- Khảo sát trực tiếp trên văn bản âm nhạc của 56 tác phẩm tiêu biểu nhằm phân tích chi tiết cấu trúc hình thức, chất liệu âm nhạc, tính chất âm nhạc theo các phương thức trình diễn múa, thủ pháp phát triển chủ đề, phương thức sử dụng luật nhịp - tiết tấu và kỹ thuật hòa âm, phối khí.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Hệ thống khái niệm và khung phân tích
Luận án xác lập và làm rõ hệ thống thuật ngữ chuyên ngành phục vụ phân tích:
- Nhóm thuật ngữ nghệ thuật múa: Múa dân gian Việt Nam, múa đương đại Việt Nam, múa truyền thống Việt Nam, múa cổ điển châu Âu (Ballet), kịch múa, thơ múa, kịch bản múa, kết cấu múa, đội hình - tuyến múa, ngôn ngữ múa, dân vũ; các hình thức trình diễn múa gồm múa đơn (solo), múa đôi (duo), múa ba (trio), múa tập thể (ensemble).
- Nhóm thuật ngữ âm nhạc và nhạc múa:
- Nhạc múa Việt Nam: Toàn bộ các tác phẩm nhạc múa do nhạc sĩ Việt Nam sáng tác phục vụ biểu diễn chuyên nghiệp, có cấu trúc học thuật chặt chẽ, gắn bó với nội dung, hình tượng kịch bản múa.
- Phân loại thể loại liên quan: Nhạc múa dân gian Việt Nam, nhạc múa truyền thống Việt Nam, nhạc múa đương đại Việt Nam.
- Cấu trúc âm nhạc: Phương tiện thể hiện nội dung (giai điệu, tiết tấu, tiết luật, âm sắc, âm khu, cường độ) và phương tiện thể hiện hình thức (trình tự các phần, các chủ đề).
- Chất liệu âm nhạc: Tư liệu âm nhạc gồm quãng, âm hình tiết tấu, âm điệu, nhịp điệu...
- Quy chuẩn ký hiệu và thang âm:
- Sử dụng hệ chữ cái Anh - Mỹ (C, D, E, F, G, A, B) theo quy ước của Nguyễn Bách để chỉ cao độ; ký hiệu giọng trưởng (chữ hoa kèm Major, ví dụ: C major) và giọng thứ (chữ thường kèm minor, ví dụ: c minor).
- Phân loại thang âm điệu thức dân tộc theo Lư Nhất Vũ (các điệu Bắc, Nam, Xuân, Oán), Nguyễn Trọng Ánh và Hoàng Kiều (điệu thức loại 1 / điệu vi Huỳnh / cung Huỳnh), và Nguyễn Thụy Loan (các thang âm Tây Nguyên 1, 2, 3).
- Bảng chuẩn hóa tên gọi 19 nhạc cụ phương Tây trong dàn nhạc: Violoncello, Violin, Viola, Double bass, Guitar, Harpe, Oboe, Flute, Clarinet, Bassoon, Double bassoon, Tuba, Trumpet, French horn, Campanelli, Xylophone, Cymbals, Piano, Organ điện.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả kết hợp hai nhóm phương pháp nghiên cứu:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
- Phương pháp phân tích: Phân tích văn bản tác phẩm âm nhạc (giai điệu, hòa âm, cấu trúc, phối khí, nhịp điệu) trong mối liên hệ với kịch bản múa.
- Phương pháp thống kê: Thống kê tần suất, tỷ lệ phần trăm các dạng cấu trúc, chất liệu, luật nhịp, thủ pháp phối khí trên mẫu khảo sát 56 tác phẩm.
- Phương pháp tổng hợp và hệ thống hóa: Khái quát hóa tiến trình lịch sử và phân loại các đặc trưng âm nhạc múa Việt Nam.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu ngôn ngữ âm nhạc giữa các tác giả, giữa các giai đoạn lịch sử và giữa nhạc múa với các thể loại khí nhạc khác.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan trắc: Quan sát, nghe và xem trực tiếp các buổi biểu diễn múa trên sân khấu để đánh giá sự tương tác giữa âm thanh và động tác.
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn, trao đổi sâu với các nhạc sĩ sáng tác, tác giả kịch bản múa, biên đạo múa và các nhà lý luận nghiên cứu múa (như biên đạo múa Văn Học, các giảng viên Học viện Múa Việt Nam).
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Nguồn dữ liệu chính là văn bản âm nhạc của 56 tác phẩm nhạc múa chuyên nghiệp được sáng tác bởi các hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2015, kết hợp các bản ghi âm, tư liệu ghi hình biểu diễn sân khấu và hệ thống tài liệu xuất bản của Học viện Múa Việt Nam, Viện Âm nhạc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận, tổng quan tình hình nghiên cứu và khái quát về lịch sử nhạc múa Việt Nam
Chương 1 thiết lập khung lý thuyết, làm rõ vai trò của âm nhạc trong tác phẩm múa (ở các vị trí: mở đầu chuẩn bị tâm lý, thân bài nâng đỡ dẫn dắt động tác, đoạn nối chuyển tiếp, và phần kết duy trì ấn tượng thị giác). Đồng thời, chương này tổng kết tiến trình lịch sử nhạc múa Việt Nam qua hai giai đoạn:
-
Giai đoạn 1945 - 1975:
- Thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954): Manh nha các điệu múa tuyên truyền cách mạng như Tưng bừng (Lương Ngọc Trác và Minh Tâm), Trên đường về (Trần Hoàn và Phan Giáp); các tác phẩm của nhạc sĩ Vân Đông tại Liên khu V (Thái Bình vũ khúc, Bước chân chiến sĩ, Lưỡi kiếm xung phong, Ta là một nàng thơ - 1948, Đón trăng thu - 1947); các sáng tác của Văn Chung (Xuân và tuổi trẻ, Tục lụy, Trồng bông dệt vải); múa thiếu nhi của Phong Nhã (Ai yêu Bác Hồ Chí Minh), múa tập thể của Nguyễn Văn Tý (Mùa hoa nở), múa Cưỡi ngựa (nhạc Lê Yên); nhạc múa Sạp (Nguyễn Đức Toàn), Đánh tầu (Vũ Trọng Hối).
- Năm 1950: Tác phẩm thơ múa chuyên nghiệp đầu tiên ra đời là Chúc thọ Bác Hồ (nhạc sĩ Lưu Hữu Phước viết nhân dịp sinh nhật lần thứ 60 của Bác Hồ, tên ban đầu là Lục Tuần Đại Khánh). Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước tiếp tục dàn dựng Con thỏ ngọc, Diệt sói lang, Xòe quạt, Nàng Giăng, Múa nón đồng bằng, Kết đoàn, Múa nón Mường Lay.
- Giai đoạn sau 1954: Thành lập Trường Trung cấp Múa Việt Nam ngày 25/10/1959 (với Ban Giám hiệu gồm Quyền Hiệu trưởng Nguyễn Thị Nhàn, Hiệu phó Hoàng Châu).
- Năm 1960: Đánh dấu sự ra đời của 3 vở kịch múa lớn: Hái hoa dâng Bác (âm nhạc Vĩnh Cát, biên đạo Thái Ly); Ngọn lửa Nghệ Tĩnh (âm nhạc Lương Ngọc Trác, Huy Thục, Nguyễn Thành; biên đạo Trần Minh, Minh Tiến, Ngọc Canh, Ngọc Minh, Bùi Tòng, Thành Đức, Ngọc Hân); Tấm Cám (âm nhạc Nguyễn Văn Thương, Văn Chi; biên đạo Minh Hiến, Danh Thân, Phùng Nhạn; tổng đạo diễn GS Kim Tế Hoàng).
- Các nhạc sĩ tiêu biểu khác: Nguyễn Đình Tích (Đôi bờ - 1961, KaTu - 1962, Xòe hoa - 1973, Bài ca chim Chơ rao); Xuân Hòa (Cánh chim và mặt trời, Một ông hai bà, Trống đồng, Đi hội mùa xuân); Đàm Linh (Cô gái Mèo, Rừng thương nỗi nhớ, Cây đèn biển - 1970, Những người đi săn - 1972, Chặng đường biên giới - 1965, Giữ Lúa - 1972, Tiền Bạc - 1972, Đôi cánh tự do - 1974); Hoàng Vân (Chị Sứ); Nhật Lai (Vũ kịch Thạch Sanh, Tiếng cồng mùa xuân, Rông Chiêng, Đam Săn, Múa Chăm, Múa trống Tây nguyên, Cô gái Ê đê, Đâm trâu, Giã gạo); Nguyễn Văn Thương (Dưới trăng, Múa Ô, Chàm Rông, Thơ múa Chim gâu, Thiếu nữ bên hồ); Lê Lan (Múa nón Tây Bắc); Văn Thắng (Rông chiêng).
-
Giai đoạn sau năm 1975 (1975 - 2015):
- Sự phát triển của các đoàn ca múa chuyên nghiệp trên toàn quốc; xuất hiện lực lượng sáng tác đa dạng tiếp cận nhiều phong cách hiện đại kết hợp truyền thống như Đôn Truyền, Trần Quý, Ca Lê Thuần (Ngọc trai đỏ), Đỗ Hồng Quân, Doãn Nho, An Thuyên, Vũ Minh Vỹ, Doãn Tiến, Nguyễn Tiến, Đặng Hùng, Phạm Tịnh, Đức Trịnh, Viết Thân, Đinh Linh, An Hiếu, Trọng Đài, Doãn Nguyên, Đỗ Bảo...
- Thập niên 1990 - 1994 mở ra xu hướng sử dụng nhạc cụ điện tử (organ, guitar điện) thay thế dàn nhạc sống nhằm đáp ứng yêu cầu biểu diễn cơ động, sau đó bước sang giai đoạn dàn dựng các tác phẩm quy mô kết hợp giao hưởng và nhạc cụ dân tộc.
Chương 2: Cấu trúc, chất liệu và tính chất âm nhạc trong các tác phẩm nhạc múa Việt Nam
Chương 2 khảo sát chi tiết 56 tác phẩm trên 3 khía cạnh:
- Cấu trúc âm nhạc: Phân tích các dạng cấu trúc 2 phần, cấu trúc 3 phần và cấu trúc nhiều phần. Cấu trúc nhiều phần được tổng hợp thành hai dạng: dạng 1 (Bảng 2.2a) và dạng 2 (Bảng 2.2b).
- Chất liệu âm nhạc: Phân chia thành 3 nguồn chất liệu:
- Chất liệu dân ca dân vũ: Xây dựng chủ đề trên nét giai điệu dân ca nguyên bản hoặc âm hưởng dân gian, khai thác hệ thống thang năm âm (Bảng 2.3, Bảng 2.4, Bảng 2.5).
- Chất liệu âm nhạc sân khấu truyền thống: Khai thác các làn điệu Chèo, Tuồng, Cải lương.
- Chất liệu ca khúc: Chuyển soạn, phát triển từ các bài hát cách mạng và trữ tình.
- Tính chất âm nhạc theo các phương thức trình diễn:
- Múa đơn (solo): Âm nhạc khắc họa nội tâm sâu sắc, giai điệu mang tính biểu cảm cá nhân, biên độ cảm xúc linh hoạt.
- Múa đôi (duo): Âm nhạc đối thoại, sử dụng bè đối âm hoặc giai điệu đan xen thể hiện tình cảm lứa đôi, sự tương tác hai nhân vật.
- Múa ba (trio): Âm nhạc phối hợp ba tuyến tính cách, cấu trúc phân đoạn rõ nét.
- Múa tập thể (ensemble): Âm nhạc giàu tính hoành tráng, nhịp điệu đồng bộ, âm lượng dày dặn, tương tự hình thức hòa tấu khí nhạc (Bảng 2.6).
Chương 3: Các yếu tố cấu thành nhạc múa trong mối quan hệ với kịch bản và hình tượng múa
Chương 3 đi sâu vào kỹ thuật sáng tác âm nhạc học phục vụ kịch bản sân khấu:
- Xây dựng chủ đề âm nhạc theo 4 nhóm đề tài:
- Đề tài ca ngợi quê hương đất nước (Bảng 3.1).
- Đề tài đấu tranh bảo vệ Tổ quốc (Bảng 3.2).
- Đề tài ước mơ, khát vọng (Bảng 3.3).
- Đề tài người phụ nữ và tình yêu đôi lứa (Bảng 3.4).
- Thủ pháp phát triển chủ đề: Phân tích thủ pháp nhắc lại nguyên dạng và thủ pháp nhắc lại có thay đổi (biến tấu giai điệu, thay đổi điệu thức, chuyển giọng, thay đổi tiết tấu, thay đổi phối khí).
- Phương thức sử dụng luật nhịp và tiết tấu:
- Tỷ lệ sử dụng các loại nhịp đơn, nhịp kép, nhịp hỗn hợp và nhịp biến đổi (Bảng 3.5, Bảng 3.6).
- Khai thác các mô hình tiết tấu đặc thù lấy từ nhạc múa dân gian của các dân tộc thiểu số và đồng bằng Bắc Bộ (Bảng 3.7).
- Hòa âm và phối khí:
- Hòa âm: Phân tích việc sử dụng các hợp âm truyền thống kết hợp với các chồng quãng 4, quãng 5 đặc trưng của thang âm dân tộc (Bảng 3.8).
- Phối khí: Khảo sát và phân loại 56 tác phẩm thành 3 nhóm biên chế (Bảng 3.9):
- Nhóm tác phẩm sử dụng dàn nhạc / nhóm nhạc cụ dân tộc.
- Nhóm tác phẩm kết hợp nhạc cụ dân tộc với nhạc cụ phương Tây.
- Nhóm tác phẩm viết cho nhạc cụ phương Tây (dàn nhạc giao hưởng hoặc piano độc tấu).
Bảng tổng hợp hệ thống bảng số liệu trong luận án
Dưới đây là bảng thống kê danh mục các bảng biểu thực chứng được tác giả xây dựng trong Chương 2 và Chương 3:
| Ký hiệu bảng |
Tên nội dung bảng số liệu trong luận án |
| Bảng 2.2a |
Tổng hợp dạng 1 - cấu trúc nhiều phần trong tác phẩm nhạc múa Việt Nam |
| Bảng 2.2b |
Tổng hợp dạng 2 - cấu trúc nhiều phần trong tác phẩm nhạc múa Việt Nam |
| Bảng 2.3 |
Tổng kết về chất liệu trong các tác phẩm nhạc múa Việt Nam |
| Bảng 2.4 |
Xây dựng chủ đề âm nhạc dựa trên nét giai điệu dân ca |
| Bảng 2.5 |
Sử dụng thang năm âm |
| Bảng 2.6 |
Tính chất âm nhạc trong một số phương thức trình diễn múa |
| Bảng 3.1 |
Xây dựng chủ đề âm nhạc về đề tài quê hương đất nước |
| Bảng 3.2 |
Tổng hợp cách xây dựng chủ đề âm nhạc về đề tài đấu tranh bảo vệ tổ quốc |
| Bảng 3.3 |
Xây dựng chủ đề âm nhạc về đề tài ước mơ, khát vọng |
| Bảng 3.4 |
Tổng hợp cách xây dựng chủ đề âm nhạc về đề tài phụ nữ và tình yêu đôi lứa |
| Bảng 3.5 |
Tỷ lệ sử dụng luật nhịp và tiết tấu trong các tác phẩm nhạc múa Việt Nam |
| Bảng 3.6 |
Khai thác luật nhịp |
| Bảng 3.7 |
Tiết tấu lấy chất liệu từ nhạc múa dân gian của các dân tộc |
| Bảng 3.8 |
Tổng kết tác phẩm nhạc múa Việt Nam sử dụng các chồng quãng 4, quãng 5 |
| Bảng 3.9 |
So sánh số lượng tác phẩm trong ba nhóm phối khí các nhạc cụ |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên khảo sát đặc điểm, vai trò và giá trị của thể loại nhạc múa Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Âm nhạc học.
- Xác lập và làm rõ hệ thống thuật ngữ, khái niệm cơ bản về nhạc múa Việt Nam, phân định ranh giới giữa nhạc múa sân khấu và khí nhạc mang phong cách vũ khúc.
- Đúc kết hệ thống cơ sở lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa âm nhạc và kịch bản, hình tượng múa, chỉ ra quy luật phối hợp giữa âm thanh và động tác hình thể.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Tổng kết bức tranh lịch sử hình thành và phát triển của nhạc múa Việt Nam qua hai giai đoạn (1945 - 1975 và 1975 - 2015) với hệ thống dữ liệu tác giả, tác phẩm cụ thể.
- Phân tích thực chứng 56 tác phẩm tiêu biểu, cung cấp các mô hình phân tích cấu trúc, kỹ thuật xử lý giai điệu dân gian, thang âm năm âm, kỹ thuật sử dụng tiết tấu bản địa và hòa âm chồng quãng 4 - quãng 5.
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho việc học tập, giảng dạy các môn: Nghệ thuật múa dân gian, múa đương đại, múa truyền thống Việt Nam, kỹ thuật biểu diễn tác phẩm múa và Lịch sử Nghệ thuật múa Việt Nam tại Học viện Múa Việt Nam cũng như các cơ sở đào tạo văn hóa nghệ thuật khác.
- Tập hợp danh mục 56 tác phẩm nhạc múa có giá trị phục vụ công tác dàn dựng, biểu diễn tại các nhà hát và đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Hạn chế về nguồn tư liệu bản phổ: Do điều kiện xuất bản và lưu trữ tư liệu âm nhạc tại Việt Nam còn nhiều khó khăn, nhiều tác phẩm nhạc múa đã từng được dàn dựng biểu diễn nhưng không có bản phổ ký âm chính thức hoặc bản chép tay đã bị thất lạc; do đó phạm vi khảo sát thực chứng của luận án phải giới hạn trong 56 tác phẩm sưu tầm được bản phổ.
- Giới hạn phạm vi thể loại: Luận án không tiến hành phân tích phần âm nhạc trong các tác phẩm kịch múa (ballet) nhiều màn quy mô lớn mà tập trung vào các tác phẩm nhạc múa dành cho tiết mục biểu diễn sân khấu ca - múa - nhạc chuyên nghiệp.
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Tiếp tục mở rộng sưu tầm, phục hồi và số hóa các bản phổ chép tay của các thế hệ nhạc sĩ viết cho múa trên khắp các vùng miền.
- Triển khai các công trình nghiên cứu chuyên biệt về âm nhạc trong thể loại kịch múa (vũ kịch/ballet) Việt Nam.
- Khảo sát sâu hơn các xu hướng kết hợp công nghệ âm thanh số, âm nhạc điện tử trong múa đương đại giai đoạn sau năm 2015.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Âm nhạc học, Sáng tác âm nhạc, Biên đạo múa, Lý luận múa: Tham khảo khung lý thuyết, hệ thống thuật ngữ, phương pháp phân tích tác phẩm âm nhạc sân khấu và phương pháp khai thác chất liệu âm nhạc truyền thống.
- Giảng viên và cơ sở đào tạo nghệ thuật (đặc biệt là Học viện Múa Việt Nam và các trường văn hóa nghệ thuật): Sử dụng làm giáo trình tham khảo cho các môn học Lịch sử Nghệ thuật múa Việt Nam, Âm nhạc dân gian ứng dụng trong múa, Kỹ thuật biên đạo và Dàn dựng tác phẩm múa.
- Nhạc sĩ sáng tác và Biên đạo múa tại các nhà hát, đoàn văn công chuyên nghiệp: Tham khảo các kinh nghiệm thực tiễn về xử lý nhịp điệu, luật nhịp, cấu trúc nhiều phần và kỹ thuật phối khí 3 nhóm nhạc cụ nhằm nâng cao hiệu quả kết hợp giữa âm nhạc và kịch bản múa.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác phẩm âm nhạc múa chuyên nghiệp đầu tiên của Việt Nam được luận án ghi nhận là tác phẩm nào, do ai sáng tác và ra đời năm nào?
Luận án ghi nhận tác phẩm thơ múa chuyên nghiệp đầu tiên của Việt Nam là Chúc thọ Bác Hồ do nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sáng tác vào đầu năm 1950 (tên gọi ban đầu là Lục Tuần Đại Khánh), viết nhân dịp sinh nhật lần thứ 60 của Chủ tịch Hồ Chí Minh và được Đoàn thiếu nhi nghệ thuật biểu diễn tại An toàn khu (ATK).
2. Ba vở kịch múa lớn ra đời vào năm 1960 được luận án đề cập gồm những tác phẩm nào và tác giả phần âm nhạc là ai?
Ba vở kịch múa lớn cùng ra đời năm 1960 gồm:
- Hái hoa dâng Bác: Âm nhạc do nhạc sĩ Vĩnh Cát sáng tác (biên đạo Thái Ly, phát triển từ kịch bản của Lưu Hữu Phước).
- Ngọn lửa Nghệ Tĩnh: Âm nhạc do nhóm nhạc sĩ Lương Ngọc Trác, Huy Thục, Nguyễn Thành sáng tác.
- Tấm Cám: Âm nhạc do nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương và Văn Chi sáng tác (GS Kim Tế Hoàng làm tổng đạo diễn).
3. Khảo sát thực chứng của luận án được thực hiện trên bao nhiêu tác phẩm và gồm những nhóm phối khí nào?
Luận án khảo sát thực chứng trên 56 tác phẩm nhạc múa có bản phổ của các nhạc sĩ là hội viên Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Trong Chương 3 (Bảng 3.9), các tác phẩm được phân thành 3 nhóm phối khí:
- Nhóm 1: Tác phẩm viết cho dàn nhạc / nhóm nhạc cụ dân tộc.
- Nhóm 2: Tác phẩm kết hợp nhạc cụ dân tộc với nhạc cụ phương Tây.
- Nhóm 3: Tác phẩm viết cho nhạc cụ phương Tây (dàn nhạc giao hưởng hoặc đàn piano).
4. Bốn đề tài nội dung chủ đạo trong xây dựng chủ đề âm nhạc được phân tích trong Chương 3 là gì?
Bốn đề tài nội dung chủ đạo gắn liền với kịch bản múa gồm:
- Đề tài ca ngợi quê hương đất nước (Bảng 3.1).
- Đề tài đấu tranh bảo vệ Tổ quốc (Bảng 3.2).
- Đề tài ước mơ, khát vọng (Bảng 3.3).
- Đề tài người phụ nữ và tình yêu đôi lứa (Bảng 3.4).
Kết luận
Luận án "Nhạc múa Việt Nam" của nghiên cứu sinh Bùi Phương Hảo là công trình khoa học chuyên khảo đầu tiên trong lĩnh vực Âm nhạc học nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về thể loại nhạc múa tại Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2015. Thông qua việc phân tích thực chứng 56 tác phẩm tiêu biểu, luận án đã làm rõ các đặc trưng về cấu trúc hình thức, chất liệu thang âm, phương thức xây dựng chủ đề, luật nhịp, tiết tấu và kỹ thuật phối khí trong mối quan hệ gắn kết hữu cơ với kịch bản và hình tượng múa. Công trình cung cấp cơ sở lý luận và nguồn tư liệu thực tiễn cho công tác nghiên cứu âm nhạc học, đồng thời phục vụ công tác giảng dạy, biên đạo và biểu diễn nghệ thuật múa chuyên nghiệp tại Việt Nam.