Tổng quan nghiên cứu

Thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công giữ vị trí then chốt trong hệ thống tài chính công của Việt Nam. Theo số liệu quyết toán của Bộ Tài chính, năm 2019 nguồn thu từ sắc thuế này đạt 109.406 tỷ đồng, chiếm 10,11% tổng các khoản thu từ thuế của ngân sách nhà nước là 1.082.213 tỷ đồng. Trước đó, vào năm 2017 và 2018, số thu thuế thu nhập cá nhân lần lượt ghi nhận 78.775 tỷ đồng và 94.364 tỷ đồng, khẳng định vị thế nguồn thu lớn thứ tư, chỉ sau thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập doanh nghiệp.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của đề tài là việc giải quyết các bất cập, kẽ hở pháp lý nảy sinh trong quá trình thực thi sắc thuế trực thu mang tính chất hành thu phức tạp nhất hiện nay. Mặc dù các đạo luật thuế đã nhiều lần được sửa đổi vào các năm 2012 và 2014, các quy định hiện hành về diện người nộp thuế, phương thức khấu trừ tại nguồn, căn cứ tính thuế và các khoản giảm trừ gia cảnh vẫn tạo ra nguy cơ thất thu ngân sách và xâm phạm nguyên tắc công bằng xã hội.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nghĩa vụ thuế đối với tiền lương, tiền công; phân tích thực trạng thi hành pháp luật thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam từ khi Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007 có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 đến năm 2022; từ đó kiến nghị các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý. Ý nghĩa của nghiên cứu nằm ở việc tối ưu hóa hiệu lực điều tiết thu nhập quốc dân, hỗ trợ cơ quan quản lý kiểm soát dòng tiền, hướng tới mục tiêu giảm khoảng cách giàu nghèo và bảo đảm nguồn lực bền vững cho an sinh xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết kinh tế chính trị Mác – Lênin về hàng hóa sức lao động để làm sáng tỏ bản chất tiền lương, tiền công. Theo đó, tiền công là biểu hiện bằng tiền của giá cả sức lao động, phản ánh phần giá trị mới do chính hao phí sức lao động tạo ra nhằm tái sản xuất sức lao động và nuôi sống gia đình. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp học thuyết thu nhập Haig-Simons và nguyên tắc đánh thuế theo khả năng chi trả, nhấn mạnh rằng sự điều tiết trực tiếp vào thu nhập ròng phải tương xứng với năng lực kinh tế của từng cá nhân.

Khung phân tích tập trung vào các khái niệm pháp lý then chốt:

  • Nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công: Khoản nộp bắt buộc vào ngân sách nhà nước mà không mang tính chất hoàn trả trực tiếp.
  • Tiền lương theo Điều 90 Bộ luật Lao động 2019: Khoản tiền người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương, phụ cấp và các khoản bổ sung.
  • Thu nhập chịu thuế và thu nhập tính thuế theo Thông tư 111/2013/TT-BTC: Phân biệt rõ thu nhập trước và sau khi trừ các khoản giảm trừ gia cảnh, bảo hiểm bắt buộc và đóng góp từ thiện.
  • Cá nhân cư trú: Chủ thể có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc có nơi ở thường xuyên, chịu nghĩa vụ thuế đối với thu nhập toàn cầu.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo quyết toán và dự toán thu ngân sách nhà nước giai đoạn 2008–2022 của Bộ Tài chính, kết hợp hệ thống văn bản quy phạm pháp luật gồm Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007, Nghị định số 65/2013/NĐ-CP, Thông tư số 111/2013/TT-BTC và Thông tư số 26/2016/TT-BLĐTBXH.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, tác giả khảo sát toàn diện 100% hệ thống quy phạm pháp luật thực định về thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam từ năm 1991 đến năm 2022, kết hợp chuỗi dữ liệu định lượng gồm 9 sắc thuế qua 6 năm tài chính từ 2017 đến 2022.

Phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê mô tả và phương pháp so sánh luật học (đối chiếu tiêu chuẩn cư trú 183 ngày của Việt Nam với luật thuế Hàn Quốc và Thái Lan) được lựa chọn nhằm phát hiện các mâu thuẫn quy phạm. Việc kết hợp dữ liệu thống kê với phân tích quy chuẩn là công cụ tối ưu để minh chứng cho vai trò điều tiết thực tế của chính sách thuế và sự cần thiết phải sửa đổi các định mức hành thu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thu nhập từ tiền lương, tiền công luôn giữ tỷ trọng áp đảo và tăng trưởng liên tục trong tổng thu thuế thu nhập cá nhân. Giai đoạn 2008–2011 ghi nhận mức thu từ tiền lương, tiền công tăng mạnh từ 12.225 tỷ đồng năm 2008 lên 28.825 tỷ đồng năm 2011, tương đương mức tăng trưởng 135,79%, vượt trội hoàn toàn so với nguồn thu từ chuyển nhượng bất động sản (4.472 tỷ đồng) hay kinh doanh (2.257 tỷ đồng).

Thứ hai, đóng góp của sắc thuế này vào ngân sách nhà nước duy trì xu hướng tăng bền vững. Tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân trên tổng thu từ thuế đã tăng từ 9,72% năm 2017 (78.775 tỷ đồng) lên mức 10,11% năm 2019 (109.406 tỷ đồng), đạt mức tăng trưởng 38,89% sau 2 năm. Dự toán giai đoạn 2020–2022 tiếp tục ghi nhận con số ấn tượng với 128.635 tỷ đồng năm 2020 và 118.075 tỷ đồng năm 2022.

Thứ ba, tiêu chuẩn xác định cá nhân cư trú bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Việc chỉ phụ thuộc cứng nhắc vào mốc thời gian 183 ngày có mặt tại Việt Nam mà bỏ qua điều kiện nơi ở thường xuyên trong các trường hợp bất khả kháng khiến nhiều chuyên gia nước ngoài bị áp mức thuế suất toàn phần 20% thay vì biểu thuế lũy tiến từng phần, gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường thu hút đầu tư.

Thứ tư, định mức thu nhập không chịu thuế chậm được điều chỉnh, không bắt kịp tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cụ thể, mức trần tiền ăn giữa ca không tính vào thu nhập chịu thuế giữ nguyên ở mức 730.000 đồng/người/tháng theo Thông tư 26/2016/TT-BLĐTBXH từ năm 2016 đến nay, dù trước đó đã trải qua nhiều lần nâng mức từ 450.000 đồng năm 2008, 550.000 đồng năm 2011 lên 680.000 đồng năm 2013.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nguồn thu từ tiền lương, tiền công tăng trưởng vượt bậc bắt nguồn từ việc áp dụng cơ chế khấu trừ tại nguồn thông qua các tổ chức chi trả thu nhập theo quy định tại Khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC. Biện pháp này giúp cơ quan thuế quản lý tập trung qua pháp nhân doanh nghiệp, tiết giảm chi phí hành thu và hạn chế tình trạng trốn thuế so với việc thu trực tiếp từ từng cá nhân.

Tuy nhiên, sự thiếu hụt cơ chế đối soát dữ liệu thu nhập toàn cầu của cá nhân người nước ngoài tại các văn phòng đại diện đang tạo ra sự bất bình đẳng lớn. Các số liệu này có thể được mô tả trực quan thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện cơ cấu đóng góp của 9 sắc thuế qua các năm, kết hợp bảng ma trận phân tích so sánh nghĩa vụ thuế giữa cá nhân cư trú và không cư trú để làm nổi bật sự chênh lệch về gánh nặng tài chính.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật về xác định cá nhân cư trú. Bộ Tài chính cần phối hợp với Bộ Tư pháp trình Quốc hội bổ sung điều khoản xử lý các trường hợp bất khả kháng đối với tiêu chí 183 ngày cư trú trước năm 2024, bảo đảm mục tiêu kéo giảm 100% các vướng mắc về trạng thái cư trú của lao động quốc tế.

Thứ hai, điều chỉnh định mức các khoản chi phí không chịu thuế gắn với biến động giá cả thị trường. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì nâng mức khống chế tiền ăn giữa ca từ 730.000 đồng lên mức khoảng 1.200.000 đồng/người/tháng trong giai đoạn 2023–2025, đồng thời thiết lập cơ chế tự động điều chỉnh định kỳ 2 năm một lần căn cứ theo chỉ số giá tiêu dùng.

Thứ ba, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số hóa liên ngành phục vụ quản lý thuế. Tổng cục Thuế cần đẩy mạnh kết nối thông tin với cơ quan Bảo hiểm xã hội và Cục Quản lý xuất nhập cảnh, phấn đấu đạt tỷ lệ đồng bộ 100% dữ liệu định danh lao động nước ngoài vào năm 2025 nhằm kiểm soát chặt chẽ thu nhập toàn cầu và ngăn chặn hành vi kê khai thiếu trung thực.

Thứ tư, cơ cấu lại biểu thuế lũy tiến từng phần và mở rộng các bậc thu nhập. Cơ quan soạn thảo luật cần nghiên cứu thu gọn biểu thuế từ 7 bậc hiện hành xuống còn 5 bậc, nới rộng khoảng cách thu nhập chịu thuế tại các bậc thấp trong lộ trình cải cách thuế giai đoạn 2024–2026 nhằm giảm tải nghĩa vụ đóng góp cho nhóm người lao động có mức thu nhập trung bình.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, cán bộ quản lý và chuyên viên pháp chế tại các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Nhóm đối tượng này có thể ứng dụng các hướng dẫn về khấu trừ tại nguồn, xác định điều kiện ủy quyền quyết toán và phân bổ các khoản phụ cấp không chịu thuế để tối ưu hóa quy trình kế toán, hạn chế tối đa rủi ro bị truy thu thuế.

Thứ hai, cơ quan quản lý nhà nước và các nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn và các luận cứ pháp lý vững chắc để phục vụ trực tiếp cho quá trình soạn thảo, sửa đổi Luật Thuế thu nhập cá nhân.

Thứ ba, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng. Luận văn đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu với hệ thống số liệu quyết toán hoàn chỉnh từ năm 2008 đến năm 2022.

Thứ tư, người lao động có mức thu nhập cao và các chuyên gia quốc tế đang làm việc tại Việt Nam. Công trình giúp cá nhân nắm rõ quyền lợi về các khoản giảm trừ gia cảnh, quy tắc tránh đánh thuế hai lần và nghĩa vụ kê khai thu nhập toàn cầu theo đúng quy định pháp luật.

Câu hỏi thường gặp

Cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú khác nhau như thế nào về nghĩa vụ thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương? Cá nhân cư trú phải nộp thuế đối với toàn bộ thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam theo biểu thuế lũy tiến 7 bậc từ 5% đến 35% và được hưởng giảm trừ gia cảnh. Ngược lại, cá nhân không cư trú chỉ chịu thuế đối với thu nhập phát sinh tại Việt Nam với mức thuế suất phẳng 20% trên tổng thu nhập chịu thuế.

Mức tiền ăn giữa ca tối đa được miễn thuế thu nhập cá nhân hiện nay là bao nhiêu? Theo quy định tại Thông tư 26/2016/TT-BLĐTBXH, tiền ăn giữa ca do người sử dụng lao động chi trả bằng tiền cho người lao động không tính vào thu nhập chịu thuế nếu không vượt quá 730.000 đồng/người/tháng. Trường hợp doanh nghiệp tự tổ chức nấu ăn hoặc cấp phiếu ăn thì toàn bộ chi phí thực tế đều không bị tính thuế.

Cá nhân có thu nhập từ tiền lương tại nhiều nơi có được ủy quyền quyết toán thuế không? Cá nhân có thu nhập từ hai nơi trở lên không được ủy quyền mà phải trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế. Trường hợp duy nhất được ủy quyền là khi có một nguồn thu nhập chính theo hợp đồng từ 3 tháng trở lên và thu nhập vãng lai bình quân tháng trong năm không quá 10 triệu đồng đã được khấu trừ 10% tại nguồn.

Tiêu chí nào xác định một người là cá nhân cư trú tại Việt Nam? Cá nhân được xác định là cư trú nếu đáp ứng một trong hai điều kiện: có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục; hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam bao gồm nơi ở đăng ký thường trú hoặc nhà thuê để ở có thời hạn hợp đồng từ 183 ngày trở lên.

Tại sao sắc thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương lại áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần? Biểu thuế lũy tiến từng phần với 7 bậc thuế hiện hành là công cụ điều tiết kinh tế hữu hiệu nhằm bảo đảm công bằng xã hội. Người có thu nhập tính thuế càng cao sẽ chịu tỷ lệ điều tiết thuế càng lớn, giúp tái phân phối của cải và chuyển một phần chi tiêu cá nhân sang phục vụ lợi ích công cộng.

Kết luận

  • Thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công đóng vai trò trụ cột với nguồn thu đạt 109.406 tỷ đồng năm 2019, chiếm 10,11% tổng thu từ thuế của ngân sách quốc gia.
  • Luận văn làm sáng tỏ bản chất pháp lý của sắc thuế trực thu gắn liền với giá cả sức lao động và khẳng định tính tất yếu của cơ chế khấu trừ tại nguồn.
  • Hệ thống hóa các bất cập thực tiễn về tiêu chuẩn 183 ngày xác định cá nhân cư trú và mức khống chế chi phí ăn trưa 730.000 đồng/tháng đã lỗi thời.
  • Kiến nghị gói giải pháp đồng bộ gồm sửa đổi khung luật định, thu gọn biểu thuế về 5 bậc và kết nối dữ liệu định danh số trước năm 2025.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho lộ trình cải cách hệ thống thuế Việt Nam giai đoạn 2023–2030, thúc đẩy sự minh bạch và công bằng xã hội.

Các nhà nghiên cứu, nhà quản lý và doanh nghiệp quan tâm có thể khai thác toàn diện các phân tích và bảng số liệu chuyên sâu trong toàn văn công trình để ứng dụng vào công tác thực tiễn và hoạch định chính sách.