CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHĨA VỤ THUẾ THU NHẬP CỦA CÁ NHÂN ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ TIỀN LƯƠNG, TIỀN CÔNG 1. Khái quát về nghĩa vụ thuế thu nhập của cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công Ở nước ta trong thời kỳ phong kiến, khi nền kinh tế còn lạc hậu và yếu kém. Đại đa số dân số xuất thân từ nông dân, nhận thức về thuế và hệ thống thuế chưa phát triển hoàn chỉnh. Các chế độ thuế được thi hành mang nặng ý chí cầm quyền của tầng lớp thống trị bao gồm: thuế điền thổ, thân đinh và tạp dịch vô cùng nặng nề.
Thuế thân – tương tự như thu nhập cá nhân hiện nay, áp dụng cho tất cả đối tượng không phân biệt thu nhập cao hay thu nhập thấp, dù nghèo khổ hay giàu có đều phải nộp thuế. Thuế thân tồn tại qua nhiều triều đại và trở thành một nối ám ảnh và thống khổ của tầng lớp có thu nhập thấp đến rất thấp trong xã hội. Đến năm 1945, thuế thân chính thức được bãi bỏ bởi Sắc lệnh thuế ban hành ngày 09/07/1945. Sau đó, trong giai đoạn 1945-1975, thuế lợi tức đánh vào thuế nhân (thuế TNCN) được chính quyền Sài Gòn ban hành và áp dụng.
Miền Bắc lúc bấy giờ do điều kiện kinh tế còn hạn chế nên chưa có các chính sách về thuế TNCN2. Trước khi Luật Thuế TNCN được ban hành, việc động viên nguồn thu cho NSNN từ thu nhập được thực hiện thông qua ba sắc thuế: Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với cá nhân có thu nhập từ kinh doanh, thuế chuyển quyền sử dụng đất áp dụng đối với người có thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất. Trong đó, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được áp dụng đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và các thu nhập khác lần đầu tiên được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua dưới hình thức Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao có hiệu lực từ ngày 01/04/1991. Pháp lệnh tồn tại khá lâu (có hiệu lực trong thời hạn 18 năm từ năm 1991 đến hết năm 2008), đã có sửa đổi bổ sung 7 lần để hoàn chỉnh hơn vào các năm 1992, 1993, 1994, 1997, 1999, 2001 và 2004.
Khi Luật Thuế Thu nhập cá nhân năm 2007 được ban hành đã đánh dấu bước chuyển mình quan 2 Huỳnh Văn Diện (2016), Pháp luật thuế thu nhập cá nhân từ thực tiễn Thành phố Cần Thơ, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học và Xã hội, tr. 8 trọng trong cách hiểu và quy định pháp luật về thuế thu nhập đối với cá nhân, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đã được khái quát thành Luật thuế Thu nhập cá nhân. Điều này khẳng định pháp luật thuế thu nhập cá nhân thực hiện điều tiết đối với thu nhập của mỗi cá nhân từ người có thu nhập cao đến người có thu nhập trung bình hoặc thấp. Khái niệm nghĩa vụ thuế thu nhập của cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công Một trong các yếu tố quan trọng của quá trình sản xuất chính là lao động.
Chính nhờ lao động mà trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, con người có thể không chỉ tạo ra của cải để nuôi sống bản thân, gia đình mà còn cải tạo và biến đổi xã hội. Khả năng của lao động được biểu hiện thông qua sức lao động. Mác thì “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó”3. Khi người lao động tự do về thân thể và không có đủ tư liệu sản xuất cần thiết để kết hợp với sức lao động của mình tạo ra hàng hoá để bán nên họ phải bán sức lao động của mình cho người mua sức lao động.
Sức lao động lúc này được xem là một loại hàng hóa đặc biệt trên thị trường. Dưới góc độ lý luận Triết học của Mác – Lê Nin thì tiền công là giá cả của hàng hoá sức lao động. Đó là bộ phận của giá trị mới do chính hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tạo ra và nguồn gốc của tiền công chính là do hao phí sức lao động của người lao động làm thuê tự trả cho chính mình thông qua sổ sách của người mua hàng hoá sức lao động4. Đối với khái niệm thu nhập, khái niệm thu nhập được nhiều tác giả khái quát như sau: Theo tác giả Nguyễn Như Phát thì thu nhập được xem là tổng các giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ mà một cá nhân nào đó nhận được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)5; Theo tác giả Nguyễn Ngọc Điện lại cho rằng thu nhập 3 C.Ănghen (1993), Toàn tập, Tập 23, NXB Chính trị quốc gia, tr.
4 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2019), Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Ngô Tuấn Nghĩa, NXB Giáo dục - Hà Nội, tr 60. 5 Nguyễn Như Phát (2007), “Góp ý kiến dự thảo luật thuế thu nhập cá nhân”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (07), tr. 9 là khoản lợi ích vật chất có giá trị tiền tệ gia nhập một cách hợp pháp vào khối tài sản của một người, làm tăng thêm giá trị của khối tài sản sản đó6; hoặc theo định nghĩa Haig-Simons thì thu nhập được cho là tổng giá trị của cải ròng tăng lên của một cá nhân cộng với sự tăng lên của người đó trong một thời gian nhất định, thường là một năm7. Tuy có nhiều định nghĩa về thu nhập nhưng tựu chung lại, thu nhập có một số đặc điểm nhất định đó là: Thứ nhất, thu nhập là khoản lợi ích mà chủ sở hữu thu nhập nhận được dưới dạng tiền, vàng, cổ phiếu, hoặc các quyền lợi vật chất khác như quyền chọn mua, quyền sở hữu; Thứ hai, thu nhập được hình thành từ nhiều nguồn như hoạt động làm công ăn lương, kinh doanh sản xuất, thừa kế, quà tặng, chuyển nhượng; Thứ ba, thu nhập được xác định trong một thời gian nhất định như năm, quý, tháng hoặc theo từng lần phát sinh.
Đối với khái niệm tiền công, tiền lương, về bản chất thì hai khái niệm này tương tự nhau. Theo định nghĩa tiền lương tại Điều 90 Bộ luật Lao động 2019 thì “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác”, như vậy khái niệm tiền lương theo Bộ luật Lao động có bao quát luôn khái niệm tiền công. Tuy nhiên trên thực tế có một số hướng tiếp cận đã có sự phân chia riêng rẽ khái niệm tiền công và tiền lương. Theo Công ước 95 về bảo vệ tiền lương (1949) của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về tiền lương như sau: “Tiền lương là sự trả công hoặc thu nhập, bất kể tên gọi hay cách tính mà có thể biểu hiện bằng tiền và được ấn định bằng thoả thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, hoặc bằng pháp luật quốc gia, do người sử dụng lao động phải trả cho người lao động theo một hợp đồng thuê mướn lao động, bằng viết hoặc bằng miệng, cho một công việc đã thực hiện hoặc sẽ phải thực hiện, hoặc cho những dịch vụ đã làm hoặc sẽ phải làm.
Từ đó có thể khái quát rằng tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động mà không cần căn cứ vào số giờ làm việc thực tế, thường được trả theo tháng hoặc nửa tháng. Tiền công là khoản tiền trả công lao động theo hợp đồng (chưa trừ thuế thu nhập và các khoản khấu trừ theo quy định), được tính dựa trên số lượng sản phẩm tạo ra hoặc số giờ 6 Nguyễn Ngọc Điện (2007), “Dự án luật Thuế TNCN: Vài ý kiến từ góc nhìn pháp luật dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Số 7 (103), tr.ca/bucovets/4070/personal/personal_a.pdf, truy cập ngày 15/07/2022. 10 làm việc thực tế8. Sự khác biệt chính giữa tiền lương và tiền công nằm ở chỗ tiền lương là cố định, tức là tiền lương được xác định trước và thỏa thuận giữa người sử dụng lao động và người lao động, trong khi tiền công không cố định, vì nó thay đổi tùy thuộc vào kết quả lao động.
Tiền lương, tiền công không chỉ để duy trì sức lao động mà còn để tái tạo sức lao động trong tương lai. Khi cá nhân sử dụng sức lao động để thực hiện công việc nào đó cho người sử dụng lao động, cá nhân hay còn gọi là người lao động sẽ nhận được một khoản giá trị vật chất tương ứng với sức lao động đã sử dụng, khoản giá trị vật chất này gọi là tiền lương, tiền công. Người lao động sẽ sử dụng khoản tiền lương, tiền công này để mua sắm tư liệu sinh hoạt và đáp ứng các nhu cầu cơ bản ăn, mặc và ở, nhằm nuôi sống bản thân, gia đình, người thân đồng thời tái tạo sức lao động để tiếp tục sử dụng sức lao động này nhằm nhận được tiền công, tiền lương trong tương lai. Tóm lại, tiền lương, tiền công chính là giá cả sức lao động, là kết quả của quan hệ lao động, phát sinh từ việc thuê mướn, sử dụng lao động, trả lương giữa người lao động, người sử dụng lao động9.
Thông qua các định nghĩa và phân tích trên, có thể hiểu thu nhập từ tiền lương, tiền công là tổng thể các lợi ích mà cá nhân được người sử dụng lao động trả theo thoả thuận khi sử dụng sức lao động để thực hiện một công việc nhất định. Với bản chất thuế TNCN là được xem là loại thuế mà nhà nước đánh vào thu nhập thực tế của các chủ thể nhằm điều tiết một phần thu nhập của các tổ chức, cá nhân vào NSNN với mục đích tạo nguồn thu cho NSNN và thực hiện công bằng xã hội10. Đối với thuế TNCN từ tiền lương, tiền công thì chỉ những thu nhập hợp pháp với bản chất là tiền lương, tiền công của cá nhân mới chịu sự điều chỉnh của sắc thuế này.