Chương 1; Thứ ba. Phương pháp so sánh luật được sử dụng để nhận xét những điểm tương đồng, khác biệt trong quy định của các nước với nhau trong việc giải quyết các vấn đề có tính tương tự. Phương pháp này được sử dụng trong Chương 2. Phương pháp đánh giá được sử dụng để nhận định những điểm chưa tiến bộ, chưa hợp lý còn tồn tại trong pháp luật Việt Nam và đưa ra phương hướng giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả quy định trên cơ sở học tập pháp luật Anh.
Phương pháp này được sử dụng trong Chương 2 của Luận văn. TỔNG QUAN VỀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI QUẢN LÝ CÔNG TY 1. Những vấn đề lý luận chung về nghĩa vụ của người quản lý công ty 1. Khái niệm người quản lý công ty Có nhiều tiêu chí khác nhau để định nghĩa khái niệm NQLCT.
Dưới góc độ kinh tế, NQLCT được hiểu là những người có quyền đưa ra, hoặc tham gia vào quá trình đưa ra những quyết định quan trọng mà có thể tác động toàn bộ hoặc một phần đáng kể đến hoạt động kinh doanh của công ty; hoặc có khả năng tác động đáng kể đến tình trạng tài chính của công ty 1. "Quyết định quan trọng" ở đây được hiểu là những quyết định giải quyết các vấn đề quan trọng trong tổ chức và hoạt động của công ty. Thông thường, các vấn đề sau được coi là vấn đề quan trọng của công ty, bao gồm: (i) Mục tiêu, chiến lược và kế hoạch kinh doanh của công ty; (ii) Cơ cấu, tổ chức, bộ máy quản lý của công ty; (iii) Cấu trúc vốn, huy động vốn, sử dụng vốn; (iv) Đầu tư, góp vốn, hợp tác kinh doanh; (v) Các giao dịch có giá trị lớn; (vi) Kiểm soát tài chính của công ty (vii) Điều hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh hằng ngày của công ty2. Thực tế, xuất phát từ sự khác biệt trong ngành nghề kinh doanh, địa bàn hoạt động cũng như ý chí của nhà đầu tư, các công ty khác nhau thường có những quan điểm riêng về định nghĩa "quyết định quan trọng có thể tác động toàn bộ hoặc một phần đáng kể đến hoạt động kinh doanh của công ty; hoặc có khả năng tác động đáng kể đến tình trạng tài chính của công ty".
Điều này dẫn tới hệ quả là nếu pháp luật định danh NQLCT thuần túy thông qua một tiêu chí kinh tế duy nhất thì sẽ khiến cho định nghĩa của pháp luật trở nên cứng nhắc, thiếu linh hoạt và khó áp dụng đối với từng doanh nghiệp cụ thể. Do đó, pháp luật đã dành phần việc quyết định vấn đề này cho các công ty thông qua việc xây dựng Điều lệ. Đây là xu hướng chung được thể hiện qua quy định pháp luật của nhiều quốc gia, điển hình như là: 1 Đỗ Minh Tuấn. Một số vấn đề pháp lý về nghĩa vụ của Người quản lý công ty.
Hà Nội, Việt Nam: Nxb Tư pháp, trang 36. The duties and liabilities of persons below board level. Canberra Law Review, 9(2), trang 50. 9 Các quy định pháp luật công ty Hoa Kỳ nhìn chung đều quy định rằng: Công ty được quản lý bởi một Hội đồng quản trị ("Board of Directors") và người điều hành ("officiers").
Tùy theo quy mô công ty mà Hội đồng quản trị có thể tự mình quản lý công ty hoặc thông qua những người điều hành 3. Pháp luật Hoa Kỳ cũng không đặt ra định nghĩa rõ ràng của hai chủ thể này. Đơn cử như Luật Công ty Cổ phần ("Corporation Act") của Bang North-Carolina Điều 55-8-01 quy định: Mỗi công ty phải có một Hội đồng quản trị, việc bầu, miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị sẽ do quy chế công ty quy định. Trong khi đó, Điều 55-8-40 quy định: Người điều hành công ty do quy chế công ty mô tả hoặc được Hội đồng quản trị bổ nhiệm.
Trong khi đó, Đạo luật Thương mại 2010 ("Commercial Act") của Hàn Quốc, Điều 287 – 12 quy định rằng: Một công ty trách nhiệm hữu hạn sẽ bổ nhiệm, thông qua điều lệ của nó, một người quản lý để điều hành các công việc của nó. Từ các ví dụ trên, có thể thấy nhìn chung, pháp luật của các quốc gia thường không nỗ lực định nghĩa NQLCT mà thay vào đó sẽ bỏ ngỏ vấn đề này cho quy chế nội bộ công ty. Mỗi công ty, căn cứ theo hoàn cảnh thực tế, sẽ xác định những chức danh nào nên được xem là NQLCT. Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam 2020, Điều 4, khoản 24: Người quản lý doanh nghiệp là người quản lý doanh nghiệp tư nhân và người quản lý công ty, bao gồm chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty.
Như vậy, nếu loại trừ đi chức danh "chủ doanh nghiệp tư nhân", chúng ta có định nghĩa của khái niệm NQLCT theo pháp luật Việt Nam bao gồm: thành viên hợp danh, Chủ tịch Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Chủ tịch Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và cá nhân giữ chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ công ty. 3 Andreas Cahn, David C. Comparative Company Law: text and Cases on the Laws Governing Corporations in Germany, the UK and the USA. Cambridge, Anh: Cambridge University Press, trang 305.
10 Từ quy định trên, có thể thấy pháp luật Việt Nam định nghĩa NQLCT bằng cách kết hợp hai phương thức: Thứ nhất là Phương thức liệt kê. Pháp luật dựa vào tiêu chí kinh tế, chọn lọc ra những chức danh quản lý có thẩm quyền quyết định các vấn đề quan trọng và cần được xem là NQLCT; và Thứ hai là Phương thức trừu tượng. Pháp luật cho phép chủ sở hữu công ty được quy định trong Điều lệ các chức danh được xem là NQLCT tùy theo hoàn cảnh (quy mô, ngành nghề kinh doanh, địa bàn hoạt động, …) công ty của mình. Ví dụ: Theo Điều lệ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương (VietinBank) sửa đổi bổ sung tháng 5/2021, Điều 1, khoản 7 quy định: Người điều hành của Vietinbank bao gồm Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Kế toán trưởng và Giám đốc chi nhánh của Vietinbank4.
Tại điều 49, khoản 4 quy định: Kế toán trưởng giúp Tổng giám đốc chỉ đạo thực hiện công tác kế toán, thống kê. Có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Như vậy, thông qua Điều lệ, Vietinbank đã quy định chức danh Kế toán trưởng chính là một NQLCT. Theo đánh giá của người viết, cách quy định của pháp luật Việt Nam tương đối toàn diện vì đảm bảo bao quát được các trường hợp thực tế đối với mọi công ty.
Nếu pháp luật chỉ sử dụng phương thức liệt kê để định danh NQLCT thì sẽ dẫn đến nhiều bất cập, khó khăn trong việc tiếp cận và áp dụng pháp luật. So sánh với Luật Doanh nghiệp 2014, định nghĩa này đã bị lược bỏ đi yếu tố "có thẩm quyền nhân danh công ty ký kết giao dịch của công ty". Sự lược bỏ này là hợp lý, nguyên nhân là vì việc đại diện ký kết giao dịch không nhất thiết phải là thẩm quyền bắt buộc của mọi chức danh quản lý trong công ty. Một người có thể nắm quyền điều hành, đưa ra hoặc tham gia đưa ra các quyết định quan trọng về hoạt động kinh doanh của công ty nhưng không nhất thiết phải là người trực tiếp thay mặt công ty xác lập các giao dịch, hợp đồng.
Cách quy định như trên khiến cho định nghĩa 4 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương. Điều lệ sửa đổi bổ sung tháng 5/2021. Truy cập ngày 14/06/2021, Chuyên trang Quan hệ Nhà Đầu tư, Ngân hàng Vietinbank. Đường dẫn: https://investor.vn/Handlers/DownloadAttachedFile.ashx?NewsID=85946 11 NQLCT bị trùng lặp với định nghĩa Người đại diện theo pháp luật của công ty.
Quay trở lại ví dụ của Ngân hàng Vietinbank, có thể thấy Điều lệ Ngân hàng không hề quy định thẩm quyền của Kế toán trưởng được thay mặt công ty ký kết giao dịch. Trên thực tế, các công ty cũng rất hiếm khi trao cho Kế toán trưởng thẩm quyền này. Nguyên nhân là vì một trong những chức năng chính của chức danh Kế toán trưởng là lập báo cáo tài chính để phản ánh đúng tình hình tài chính của công ty 5. Nếu cho Kế toán trưởng có thêm thẩm quyền đại diện ký kết giao dịch thì sẽ sẽ tạo ra sự tập trung quyền lực trong cơ cấu tổ chức doanh nghiệp, từ đó dẫn tới tình trạng lạm quyền, "vừa đá bóng vừa thổi còi" của Kế toán trưởng.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, NQLCT phải thỏa mãn một số yêu cầu nhất định về nhân thân. Các điều kiện này được phản ánh thông qua quy định tại Luật Doanh nghiệp 2020, Điều 17, khoản 2, bao gồm: Thứ nhất. NQLCT phải là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Các đối tượng bao gồm: Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi bị pháp luật nghiêm cấm quản lý công ty.
NQLCT không được đồng thời đang nắm giữ các chức danh tại cơ quan Nhà nước hoặc đơn vị sự nghiệp công lập, bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an Nhân dân Việt Nam; Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước. Nguyên nhân của hạn chế này là để ngăn ngừa sự xung đột lợi ích trong thi hành công vụ. Những đối tượng sau cũng bị loại trừ khỏi việc quản lý công ty, bao gồm: Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, 5 Theo Luật Kế toán 2015, Điều 55, khoản 1, điểm c 12 Luật Phòng, chống tham nhũng. Điểm chung của các đối tượng này là đã có hành vi vi phạm pháp luật hoặc đang bị truy cứu về hành vi vi phạm pháp luật.
Bên cạnh các điều kiện chung kể trên, đối với một số ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh đặc thù, pháp luật cũng đặt ra các điều kiện về trình độ, kỹ năng của NQLCT.