Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư nói chung và cổ đông nói riêng là động lực then chốt nhằm duy trì sự ổn định của thị trường vốn, kích thích dòng vốn đầu tư trong nước và quốc tế. Theo Báo cáo thường niên Môi trường kinh doanh (Doing Business) năm 2016 do Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) công bố, chỉ số bảo vệ nhà đầu tư của Việt Nam được xếp ở vị trí thứ 87 trên tổng số 189 quốc gia và nền kinh tế. Dù đã có những chuyển biến nhất định, thứ hạng này vẫn ở khoảng cách xa so với các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á như Singapore (xếp thứ 1), Malaysia (xếp thứ 3) hay Thái Lan (xếp thứ 27). Ba tiêu chí trọng tâm được WB và IFC sử dụng để định lượng mức độ bảo vệ nhà đầu tư gồm:
- Mức độ công bố thông tin;
- Trách nhiệm của ban giám đốc;
- Mức độ dễ dàng để cổ đông khởi kiện ra tòa án.
Thực tiễn hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) tại Việt Nam trong giai đoạn 2011–2016 bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng: tình trạng nợ xấu kéo dài, suy giảm vốn lưu động, mất cân đối thanh khoản và năng lực tài chính suy yếu. Quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng làm phát sinh những hệ quả pháp lý phức tạp đối với cổ đông. Điển hình là việc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) áp dụng biện pháp mua bắt buộc ba ngân hàng thương mại với giá 0 đồng vào năm 2015, hoặc thương vụ sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nhà Hà Nội (Habubank - HBB) vào Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn - Hà Nội (SHB) năm 2012. Những sự kiện này cho thấy trên thực tế, quyền lợi tài sản và quyền quản trị của cổ đông, đặc biệt là nhóm cổ đông thiểu số, dễ bị chuyển hóa thành hình thức hoặc đối mặt với nguy cơ mất trắng vốn đầu tư.
Xuất phát từ các bất cập trên, tác giả xác định mục tiêu và ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu khái quát lý luận chung về NHTMCP, quyền của cổ đông trong NHTMCP, các đặc thù quản trị và mối liên hệ giữa quyền lợi của cổ đông với các hoạt động tiền tệ của ngân hàng thương mại.
- Khảo sát thực trạng quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng các cơ chế bảo vệ quyền của cổ đông trong mô hình NHTMCP tại Việt Nam.
- Đề xuất phương hướng và các nhóm giải pháp, kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ cổ đông.
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ bảo vệ quyền của cổ đông trong NHTMCP và thực tiễn thi hành các quy định này tại Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn trong khuôn khổ pháp luật doanh nghiệp, pháp luật ngân hàng, thị trường chứng khoán và các văn bản điều chỉnh hoạt động tái cơ cấu ngân hàng tại Việt Nam tính đến thời điểm nghiên cứu (năm 2016).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng các lý thuyết kinh tế - pháp lý hiện đại và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm nền tảng phân tích:
- Lý thuyết đại diện (Agency Theory): Giải thích sự mâu thuẫn lợi ích bắt nguồn từ sự tách biệt giữa quyền sở hữu (thuộc về các cổ đông - người ủy quyền) và quyền điều hành (thuộc về ban quản lý, ban giám đốc - người đại diện). Sự bất đối xứng thông tin và xung đột nhóm lợi ích tạo ra nguy cơ người quản lý hoặc nhóm cổ đông chi phối lạm dụng quyền lực gây thiệt hại cho cổ đông thiểu số.
- Nguyên tắc quản trị công ty của OECD (G20/OECD Principles of Corporate Governance 2015): Khung đối chiếu quốc tế quy định sáu quyền cơ bản của cổ đông: đăng ký quyền sở hữu, chuyển nhượng cổ phần, tiếp cận thông tin kịp thời, tham gia và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ), bầu/bãi miễn thành viên Hội đồng quản trị (HĐQT), và quyền hưởng lợi nhuận.
- Chuẩn mực quốc tế Basel: Bộ nguyên tắc tăng cường quản trị công ty đối với các tổ chức ngân hàng (tháng 10/2010 của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng), cùng các nội dung của Basel I và Basel II về an toàn vốn và quản trị rủi ro.
- Khung pháp lý quốc gia: Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Doanh nghiệp năm 2005 và năm 2014, Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), Luật Phá sản năm 2014, Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012, Luật Kiểm toán độc lập năm 2011; Nghị định số 59/2009/NĐ-CP, Nghị định số 59/2011/NĐ-CP, Nghị định số 07/2013/VBHN-NHNN; Thông tư số 10/2011/TT-NHNN và Thông tư số 07/2013/TT-NHNN của Thống đốc NHNN.
Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng kết hợp ba phương pháp chủ yếu:
- Phương pháp phân tích quy phạm: Mổ xẻ nội dung các điều luật điều chỉnh quyền cổ đông, nghĩa vụ của bộ máy quản trị và trình tự can thiệp của cơ quan nhà nước.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Luật Doanh nghiệp với Luật Các tổ chức tín dụng; so sánh sự thay đổi giữa Luật Doanh nghiệp 2005 và 2014; tham chiếu mô hình kiểm toán và khởi kiện tại các nước như Mỹ, Pháp, Đức, Anh, Úc.
- Phương pháp tổng hợp thực tiễn: Tổng hợp các dữ liệu, vụ việc vi phạm và thương vụ cơ cấu lại trên thị trường ngân hàng để đánh giá tính khả thi và kẽ hở của pháp luật thực định.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền của cổ đông và pháp luật điều chỉnh về bảo vệ quyền của cổ đông trong Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
Chương đầu làm rõ bản chất kinh tế - pháp lý của NHTMCP và vị trí của cổ đông trong mô hình này. NHTMCP được xác định là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, chịu sự chi phối kép của Luật Doanh nghiệp và Luật Các tổ chức tín dụng. Hoạt động của NHTMCP mang bốn đặc thù khác biệt so với công ty cổ phần thông thường:
- Bắt buộc phải duy trì mức vốn pháp định theo quy định của Chính phủ (Nghị định số 07/2013/VBHN-NHNN).
- Phải có cổ đông chiến lược có năng lực tài chính và cam kết hỗ trợ lâu dài (khoản 3 Điều 6 Nghị định số 59/2011/NĐ-CP và Thông tư số 10/2011/TT-NHNN).
- Tuân thủ nghiêm ngặt các quy chế an toàn nghiệp vụ, hạn mức tín dụng, dự trữ bắt buộc và phân loại nợ do tính chất rủi ro mang tính hệ thống cao.
- Áp dụng chuẩn mực quản trị ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế Basel.
Về giới hạn sở hữu, Điều 55 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đặt ra các trần tỷ lệ nhằm hạn chế tình trạng thâu tóm và lũng đoạn:
| Chủ thể sở hữu cổ phần |
Tỷ lệ sở hữu tối đa (% vốn điều lệ) |
Điều kiện / Ghi chú đặc thù |
| Cổ đông là cá nhân |
Không quá 5% |
Áp dụng cho từng cá nhân riêng lẻ |
| Cổ đông là tổ chức |
Không quá 15% |
Trừ trường hợp xử lý TCTD khó khăn, cổ phần hóa, hoặc cổ đông nước ngoài |
| Cổ đông và người có liên quan |
Không quá 20% |
Tính gộp nhóm liên quan |
| Nhóm cổ đông sáng lập |
Tối thiểu 50% trong 5 năm đầu |
Pháp nhân sáng lập nắm tối thiểu 50% số cổ phần sáng lập |
Khóa luận phân định quyền của cổ đông thành hai nhóm: nhóm quyền tài sản (nhận cổ tức, ưu tiên mua cổ phần mới, tự do chuyển nhượng, yêu cầu mua lại cổ phần, nhận tài sản còn lại khi giải thể/phá sản) và nhóm quyền chung (tham dự và biểu quyết tại ĐHĐCĐ, tra cứu thông tin, triệu tập ĐHĐCĐ bất thường, giám sát ban điều hành).
Hệ thống cơ chế bảo vệ quyền cổ đông được cấu thành từ ba lớp:
- Cơ chế tự bảo vệ: Xuất phát từ ý thức chủ động và quyền bình đẳng của cổ đông trong việc nắm bắt thông tin và biểu quyết.
- Thiết chế nội bộ: Gồm ĐHĐCĐ (cơ quan quyền lực cao nhất), HĐQT (cơ quan quản trị), Giám đốc/Tổng giám đốc (điều hành hoạt động thường nhật), Ban kiểm soát (BKS) và bộ phận kiểm toán nội bộ (theo chuẩn IIA).
- Thiết chế bảo vệ bên ngoài: Bao gồm cơ quan hành chính (NHNN, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước - UBCKNN, cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan Thuế), cơ quan tư pháp (Tòa án, Trọng tài thương mại), và các tổ chức độc lập (công ty kiểm toán độc lập, luật sư).
Chương 1 cũng phân tích mối quan hệ giữa bảo vệ cổ đông với việc thực hiện chính sách tiền tệ. Các công cụ trực tiếp (khung lãi suất) và công cụ gián tiếp (tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu, tái cấp vốn) tác động trực tiếp đến chi phí vốn, thanh khoản và biên lợi nhuận của ngân hàng, từ đó quyết định trực tiếp đến giá trị cổ phiếu và quyền lợi cổ tức của cổ đông.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về bảo vệ quyền của cổ đông và thực tiễn áp dụng trong hoạt động của Ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam
Chương này đi sâu vào thực tiễn thực hiện từng nhóm quyền của cổ đông và chỉ ra các kẽ hở pháp lý:
1. Thực hiện nhóm quyền về tài sản
- Quyền nhận cổ tức: Dù Điều 114 và Điều 132 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định điều kiện chi trả cổ tức, quyết định cuối cùng vẫn thuộc về ĐHĐCĐ theo nguyên tắc đa số phiếu. Pháp luật Việt Nam thiếu quy định bắt buộc doanh nghiệp phải trích tỷ lệ lợi nhuận tối thiểu để trả cổ tức như một số quốc gia. Thực tế ghi nhận: Ngân hàng Hàng Hải (MaritimeBank) ba năm liên tiếp từ 2014 không chia cổ tức; Ngân hàng TMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) từ năm 2011 đến thời điểm nghiên cứu không chia cổ tức dù báo lãi nghìn tỷ và chi thù lao lãnh đạo cao; VietinBank và BIDV năm 2016 cũng gặp vướng mắc về chính sách cổ tức. Bên cạnh đó, việc lạm dụng chia cổ tức bằng cổ phiếu hoặc cổ phiếu thưởng bản chất chỉ là chia tách cổ phiếu và ghi nhận trên sổ sách, không tạo ra dòng tiền thật cho cổ đông nhỏ.
- Quyền ưu tiên mua cổ phần: Ban điều hành và cổ đông lớn thường dùng kỹ thuật soạn thảo nghị quyết ĐHĐCĐ để tạo sự bất bình đẳng: phát hành cho cổ đông chiến lược hoặc lãnh đạo với giá ưu đãi thấp hơn nhiều lần so với cổ đông phổ thông; hoặc quy định tỷ lệ mua khác biệt (cổ đông sáng lập 1 cổ phần cũ được mua 1 cổ phần mới, cổ đông thường phải 2 cổ phần cũ mới được mua 1 cổ phần mới).
- Quyền tự do chuyển nhượng cổ phần: Bị giới hạn tại Điều 29 và 56 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (cổ đông lớn thay đổi tư cách phải được NHNN chấp thuận; thành viên HĐQT, BKS, Tổng giám đốc không được chuyển nhượng trong thời gian giữ chức vụ hoặc khi đang xử lý trách nhiệm). Bất cập nảy sinh từ việc rò rỉ thông tin nội gián trước các thương vụ M&A, khiến người nội bộ trục lợi gom mua cổ phiếu trước, còn cổ đông nhỏ tiếp cận thông tin chậm bị thiệt hại giá trị.
- Quyền yêu cầu mua lại cổ phần: Điều 57 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 đòi hỏi sau khi mua lại phải bảo đảm tỷ lệ an toàn, vốn điều lệ không thấp hơn vốn pháp định và phải được NHNN chấp thuận nếu giảm vốn. Quy định tại Điều 129 và 131 Luật Doanh nghiệp 2014 bộc lộ bất cập khi thiếu hướng dẫn về chủ thể chịu chi phí thẩm định giá độc lập và biện pháp giải quyết khi các bên không đồng thuận chọn 1 trong 3 tổ chức định giá.
- Quyền nhận tài sản khi phá sản, giải thể: Căn cứ Điều 101 Luật Phá sản 2014, thứ tự phân chia tài sản được luật định rõ:
| Thứ tự thanh toán |
Nội dung nghĩa vụ tài chính |
| 1 |
Chi phí phá sản |
| 2 |
Nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động |
| 3 |
Tiền gửi của khách hàng, khoản tiền Bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền |
| 4 |
Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; các khoản nợ không bảo đảm hoặc nợ có bảo đảm chưa thanh toán hết |
| 5 |
Giá trị tài sản còn lại (nếu có) mới được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ sở hữu |
Theo cơ chế này, quyền nhận tài sản của cổ đông chỉ dừng lại ở "khả năng" trên lý thuyết. Khi ngân hàng mất khả năng thanh toán, quyền của chủ nợ và người gửi tiền được ưu tiên bảo đảm tối đa thông qua quỹ bảo hiểm tiền gửi, dẫn đến việc cổ đông hầu như chịu rủi ro mất trắng.
2. Thực hiện một số quyền chung
- Quyền tham dự và biểu quyết tại ĐHĐCĐ: Xuất hiện nhiều rào cản từ phía ban điều hành như: cài cắm quy định yêu cầu sở hữu lượng vốn tối thiểu mới được dự họp; quy định nếu vắng mặt thì mặc nhiên ủy quyền cho HĐQT; tổ chức họp ở địa điểm xa xôi, thiếu chỗ ngồi; gửi tài liệu sát ngày. Quy định bỏ phiếu điện tử tại Điều 140 Luật Doanh nghiệp 2014 chưa được chuẩn hóa, gây cản trở quyền biểu quyết của cổ đông ở xa và nhà đầu tư nước ngoài. Hơn nữa, quyền ưu đãi biểu quyết của cổ đông sáng lập trong 3 năm đầu (Điều 52 Luật Các tổ chức tín dụng 2010) có xu hướng vô hiệu hóa tiếng nói của cổ đông phổ thông.
- Quyền triệu tập ĐHĐCĐ bất thường: Khoản 2 Điều 114 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định cổ đông/nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông liên tục ít nhất 6 tháng mới có quyền triệu tập khi HĐQT vi phạm nghiêm trọng. Rào cản thực tế là luật không định nghĩa rõ thế nào là "vi phạm nghiêm trọng", đồng thời việc liên kết đạt tỷ lệ 10% trên thị trường chứng khoán rất phức tạp do cổ phiếu liên tục được mua bán trao tay qua Trung tâm Lưu ký Chứng khoán.
- Quyền tiếp cận thông tin: Luật Doanh nghiệp 2014 bãi bỏ quy định tại Điều 129 Luật Doanh nghiệp 2005 (về quyền sao chép BCTC của cổ đông tại cơ quan đăng ký kinh doanh). Cổ đông thường bị từ chối tiếp cận sổ sách, hóa đơn kế toán nội bộ do bộ phận kế toán gây khó dễ, cản trở việc thu thập chứng cứ để thực hiện quyền giám sát hoặc khởi kiện.
- Quyền kiểm soát giao dịch nội gián, tư lợi: Luật Doanh nghiệp 2014 hạ tỷ lệ HĐQT chấp thuận giao dịch từ mức dưới 50% (của Luật Doanh nghiệp 2005) xuống dưới 35% tổng tài sản ghi trong BCTC (Điều 162). Tuy nhiên, kẽ hở quản trị vẫn dẫn đến hàng loạt sai phạm nghiêm trọng: vụ việc tại Ngân hàng TMCP Xây dựng Việt Nam (VNCB) bị khởi tố tháng 7/2014 về vi phạm quy định cho vay; sai phạm quản lý tín dụng tại Ngân hàng TMCP Đại Dương (Oceanbank) tính đến 31/3/2014; và các thương vụ áp đặt mua lại 0 đồng năm 2015 đã tước đoạt toàn bộ quyền tài sản của cổ đông mà không qua quy trình giải quyết phá sản tư pháp minh bạch.
Chương 3: Định hướng hoàn thiện và một số kiến nghị về hệ thống pháp luật bảo vệ quyền của cổ đông trong Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam
Trên cơ sở nhận diện bất cập, tác giả xây dựng định hướng và các nhóm kiến nghị cụ thể:
- Phương hướng hoàn thiện: Hoàn thiện pháp luật bảo vệ cổ đông phải gắn liền với quá trình minh bạch hóa thị trường tài chính, tiệm cận các thông lệ quốc tế của OECD và Basel; cân bằng giữa sự điều tiết vĩ mô của NHNN với việc bảo đảm quyền tài sản hợp pháp của nhà đầu tư tư nhân.
- Hoàn thiện quy định về quyền của cổ đông:
- Bổ sung quy định bắt buộc tỷ lệ trích lợi nhuận tối thiểu trả cổ tức bằng tiền mặt khi ngân hàng đáp ứng đủ các chỉ tiêu an toàn tài chính.
- Ban hành hướng dẫn cụ thể về cơ chế và quy trình bỏ phiếu điện tử tại ĐHĐCĐ, bảo đảm tính pháp lý cho cổ đông nước ngoài và cổ đông ở xa.
- Sửa đổi Điều 114 Luật Doanh nghiệp: hạ tỷ lệ sở hữu yêu cầu để triệu tập ĐHĐCĐ bất thường (từ 10% xuống mức linh hoạt hơn) và làm rõ tiêu chí pháp lý của hành vi "vi phạm nghiêm trọng" của người quản trị.
- Quy định trách nhiệm chi trả phí thẩm định giá khi công ty mua lại cổ phần của cổ đông.
- Hoàn thiện quy định về bộ máy quản trị và kiểm soát:
- Quy định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm bồi thường thiệt hại của HĐQT và Tổng giám đốc khi để xảy ra các giao dịch tư lợi, giao dịch nội gián sai quy định.
- Tăng cường vị thế độc lập và quyền hạn thực chất của Ban kiểm soát; quy định BKS có quyền độc lập tiếp cận toàn bộ chứng từ tài chính kế toán mà không cần sự phê duyệt của Ban điều hành.
- Bắt buộc kiểm toán độc lập đối với các giao dịch tài sản lớn và hợp đồng có liên quan đến người quản lý trước khi trình ĐHĐCĐ phê duyệt.
- Kiến nghị về phương thức tái cơ cấu ngân hàng:
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý cho việc xử lý các ngân hàng yếu kém; xem xét lại tính pháp lý và cơ chế định giá trong biện pháp "mua lại với giá 0 đồng" của NHNN.
- Thiết lập cơ chế bồi hoàn hoặc hoán đổi cổ phần minh bạch trong các thương vụ sáp nhập bắt buộc nhằm bảo đảm cổ đông không bị tước đoạt tài sản bất hợp lý.
Kết quả và đóng góp
- Hệ thống hóa lý luận: Công trình làm rõ bản chất quyền của cổ đông trong thiết chế đặc thù là NHTMCP – nơi chịu ràng buộc nghiêm ngặt bởi các chỉ tiêu an toàn vốn và chính sách tiền tệ quốc gia, chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa lý thuyết đại diện và các lớp cơ chế bảo vệ quyền (tự bảo vệ, nội bộ, bên ngoài).
- Phát hiện lỗ hổng quy phạm qua thực tiễn: Khóa luận đối chiếu chi tiết sự bất cập giữa Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Các tổ chức tín dụng 2010. Tác giả chứng minh rằng quy định bảo vệ cổ đông trên thực tế còn mang tính hình thức, thông qua các dẫn chứng xác thực: tình trạng "nhịn" cổ tức nhiều năm tại Techcombank, MaritimeBank; rào cản chi phí định giá cổ phần tại Điều 129 Luật Doanh nghiệp 2014; bất cập kiểm soát đặc biệt và phân chia tài sản theo Điều 101 Luật Phá sản 2014.
- Đóng góp giải pháp: Luận văn đề xuất các sửa đổi mang tính thực thi cao về việc luật hóa tỷ lệ trích cổ tức tối thiểu, giải tỏa rào cản về tỷ lệ 10% khi triệu tập ĐHĐCĐ, hoàn thiện quy định trách nhiệm bồi thường của HĐQT, và đặc biệt là kiến nghị minh bạch hóa cơ chế tái cơ cấu/mua lại bắt buộc nhằm hạn chế thiệt hại cho cổ đông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Tác giả thừa nhận công trình không tránh khỏi những thiếu sót nhất định về mặt kinh nghiệm và bề dày kiến thức nghiên cứu. Về mặt dữ liệu, các vụ việc thực tiễn và số liệu phân tích tập trung chủ yếu vào giai đoạn tái cơ cấu 2011–2016 (các vụ việc VNCB, Oceanbank, sáp nhập Habubank - SHB, chính sách mua ngân hàng 0 đồng năm 2015, báo cáo Doing Business 2016). Các vụ án kinh tế phát sinh sau thời điểm nghiên cứu chưa được bao quát.
- Hướng mở: Tiếp tục mở rộng nghiên cứu về cơ chế khởi kiện phái sinh của cổ đông thiểu số đối với ban điều hành ngân hàng; xây dựng các tiêu chí định giá tài sản độc lập trong tái cơ cấu ngân hàng; và theo dõi hiệu lực của các văn bản sửa đổi, bổ sung Luật Các tổ chức tín dụng trong giai đoạn tiếp theo.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Ngân hàng - Tài chính, Quản trị kinh doanh.
- Cổ đông cá nhân, nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tham gia đầu tư vào cổ phiếu ngành ngân hàng.
- Các nhà làm luật, chuyên viên pháp chế tại các tổ chức tín dụng.
- Nội dung đáng tham khảo nhất:
- Toàn bộ nội dung phân tích thực trạng tại Chương 2, đặc biệt là phần mổ xẻ sự bất bình đẳng trong phát hành thêm cổ phần, rủi ro pháp lý của việc nhận cổ tức bằng cổ phiếu, và rủi ro thứ tự thanh toán khi ngân hàng phá sản theo Luật Phá sản 2014.
- Hệ thống các tiêu chí đánh giá bảo vệ nhà đầu tư của WB/IFC và chuẩn mực quản trị Basel được viện dẫn tại Chương 1.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo báo cáo Doing Business 2016 của WB và IFC, chỉ số bảo vệ nhà đầu tư của Việt Nam được xếp hạng bao nhiêu và dựa trên những tiêu chí nào?
Việt Nam được xếp ở vị trí thứ 87 trên 189 quốc gia và nền kinh tế (đứng sau Singapore ở vị trí thứ 1, Malaysia thứ 3, Thái Lan thứ 27). Chỉ số này được đo lường dựa trên ba tiêu chí tiêu chuẩn: (i) Mức độ công bố thông tin; (ii) Trách nhiệm của ban giám đốc; (iii) Mức độ dễ dàng để cổ đông có thể khởi kiện ra tòa án.
2. Tỷ lệ sở hữu cổ phần tối đa trong NHTMCP được Luật Các tổ chức tín dụng 2010 giới hạn như thế nào?
Theo Điều 55 Luật Các tổ chức tín dụng 2010: Một cổ đông cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% vốn điều lệ; một cổ đông tổ chức không được sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ (trừ các trường hợp ngoại lệ quy định tại khoản 3 Điều 149, sở hữu cổ phần nhà nước hoặc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài); cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng.
3. Khóa luận nêu những dẫn chứng thực tế nào về việc cổ đông NHTMCP không được chi trả cổ tức?
Khóa luận dẫn chứng trường hợp của MaritimeBank suốt 3 năm (từ 2014 đến thời điểm nghiên cứu) không thực hiện chi trả cổ tức cho cổ đông; Techcombank từ năm 2011 không chia cổ tức dù kết quả kinh doanh báo lãi nghìn tỷ và thù lao lãnh đạo ở mức cao; cùng vướng mắc chính sách cổ tức tại VietinBank và BIDV trong năm 2016.
4. Trong thủ tục phá sản tổ chức tín dụng theo Luật Phá sản 2014, quyền nhận tài sản của cổ đông được xếp ở thứ tự nào?
Căn cứ Điều 101 Luật Phá sản 2014, tài sản của tổ chức tín dụng phá sản được phân chia theo thứ tự ưu tiên: (1) Chi phí phá sản; (2) Lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm của người lao động; (3) Tiền gửi của khách hàng và tiền bảo hiểm tiền gửi; (4) Nghĩa vụ tài chính với Nhà nước và các khoản nợ không bảo đảm. Quyền nhận tài sản của cổ đông chỉ được giải quyết sau khi đã hoàn thành toàn bộ các nghĩa vụ trên, do đó chỉ mang tính khả năng và đối mặt với rủi ro mất vốn rất cao.
5. Những rào cản lớn nhất khi cổ đông thực hiện quyền yêu cầu triệu tập ĐHĐCĐ bất thường là gì?
Cổ đông gặp hai khó khăn lớn: Thứ nhất, khi lấy lý do HĐQT vi phạm nghiêm trọng, cổ đông rất khó thu thập tài liệu, hóa đơn chứng từ kế toán do ban điều hành nắm giữ, đồng thời luật chưa có định nghĩa định lượng rõ ràng thế nào là "vi phạm nghiêm trọng". Thứ hai, việc gom nhóm cổ đông đạt đủ tỷ lệ 10% cổ phần phổ thông liên tục trong 6 tháng gặp trở ngại lớn do các giao dịch khớp lệnh mua bán cổ phiếu trên sàn diễn ra liên tục làm thay đổi cơ cấu cổ đông mỗi ngày.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Tạ Thị Hiển đã phân tích toàn diện khung khổ lý luận và thực trạng áp dụng pháp luật về bảo vệ quyền của cổ đông trong hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam. Công trình chỉ rõ những bất cập tại các điểm giao thoa giữa Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Các tổ chức tín dụng 2010 và các văn bản điều chỉnh chính sách tái cơ cấu, xử lý ngân hàng yếu kém. Những đề xuất về sửa đổi quy định chi trả cổ tức, bỏ phiếu điện tử, minh bạch hóa cơ chế mua bán ngân hàng và nâng cao trách nhiệm người quản trị mang giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào việc hoàn thiện thể chế bảo vệ nhà đầu tư trên thị trường tài chính Việt Nam.