Chương 1 của Luận văn, tác giả sẽ tập trung phân tích và làm rõ một số hạn chế trong quy định về quyền khởi kiện dưới các nội dung: (i) Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác; (ii) Vướng mắc và kiến nghị hoàn thiện đối với việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác. Quy định của pháp luật về quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết do nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác Quyền khởi kiện vụ án dân sự là phương tiện pháp lý hiệu quả nhất để các cá nhân, tổ chức đề nghị Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi 10 bị xâm phạm. Việc quy định quyền khởi kiện trong văn bản pháp lý cao nhất là Hiến pháp năm 2013 cũng như được cụ thể hóa tại BLTTDS, các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, các Thông tư và các văn bản hướng dẫn, giải đáp của ngành Tòa án đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các chủ thể khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Việc quy định quyền khởi kiện cũng mang nhiều ý nghĩa chính trị - xã hội to lớn, góp phần xây dựng một nền tư pháp dân chủ.
BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, trình tự thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án tranh chấp dân sự. Như vậy, khi quyền và lợi ích hợp pháp của một cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm phạm bởi một hành vi trái pháp luật, người đó có quyền được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp. Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, pháp luật tố tụng dân sự quy định về quyền khởi kiện của đương sự. Cơ quan, tổ chức, cá nhân do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu Tòa án bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác; 2.
Tòa án không được từ chối yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng.” Như vậy, cơ quan, tổ chức, cá nhân có toàn quyền trong việc có quyết định khởi kiện hay không, phạm vi khởi kiện đến mức độ nào. Nguyên đơn có quyền khởi kiện một hoặc nhiều bị đơn ra Tòa án, về một mối quan hệ pháp luật hay nhiều mối quan hệ pháp luật có liên quan để giải quyết trong cùng một vụ án. Nhìn chung, người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật tố tụng dân sự quy định khởi kiện để nhằm yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi họ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc “Cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng được xem là nguyên đơn” và Tòa án chỉ thụ lý giải quyết khi có đơn khởi kiện và cũng chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện của đương sự thi thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật. 11 Tuy nhiên, quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân vẫn phải bị hạn chế trong một số trường hợp nhất định.
Cụ thể theo quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS quy định “Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”. Căn cứ theo quy định tại Điều 217 BLTTDS đã liệt kê những trường hợp sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Như vậy, đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS nêu trên thì trong trường hợp vụ án đình chỉ theo quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 BLTTDS hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật được hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2017 thì nguyên đơn sẽ có quyền khởi kiện lại vụ án. Ngoài ra, trong các trường hợp đình chỉ khác thì đương sự sẽ mất quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó.
Vụ án sau khi có quyết định đình chỉ giải quyết sẽ bị chấm dứt hoàn toàn việc giải quyết về cả thủ tục và cả nội dung. Nhưng đó không phải là một quyết định đưa ra nhận định của Tòa án về nội dung thụ lý. Và có lý do đình chỉ thường gặp như sau đương sự sẽ mất quyền khởi kiện như: Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật này. Theo một quan điểm phân tích: Có thể khẳng định rằng không phải ngẫu nhiên mà Bộ luật tố tụng dân sự có quy định không cho phép nguyên đơn khởi kiện lại vụ án có cùng các bên đương sự, có cùng quan hệ pháp luật phát sinh tranh chấp.
Quy định này xuất phát từ nguyên tắc tư pháp có tên gọi theo tiếng La tinh là Res judicata – tạm dịch là “vấn đề đã được giải quyết”. Nguyên tắc này được áp dụng đối với vụ án do Tòa án Việt Nam thụ lý để giải quyết và vụ án thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam nhưng Tòa án nước ngoài đã thụ lý trước khi Tòa án Việt Nam thụ lý và đã ra bản án, quyết định. Nguyên tắc này đã được cụ thể hóa thành quy 12 định tại điểm d khoản 1 Điều 472 của BLTTDS. Nguyên tắc Res judicata được lý giải như sau: Thứ nhất, nguyên đơn không được quyền khởi kiện lại trong các trường hợp sau đây: - Nguyên đơn đã khởi kiện để Tòa án giải quyết một yêu cầu đối với bị đơn nhưng sau khi Tòa án đã giải quyết theo hướng không chấp nhận yêu cầu đó của nguyên đơn hoặc đã giải quyết chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, thì nguyên đơn không được khởi kiện lại bị đơn đối với yêu cầu đã bị bác bỏ đó hoặc yêu cầu đã được Tòa án giải quyết.
Bên cạnh đó, nếu trong vụ án có yêu cầu phản tố và đã được Tòa án giải quyết trong cùng vụ án, thì người đưa ra yêu cầu phản tố cũng không được khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại yêu cầu phản tố đó. Thứ hai, “Tòa án đã giải quyết” cần được hiểu là việc Tòa án đưa ra quyết định áp dụng pháp luật đối với các tình tiết khách quan của vụ án và chứng cứ mà các bên đã xuất trình trước Tòa án. Nói cách khác, các quyết định về thủ tục tố tụng mà Tòa án đưa ra từ khi thụ lý vụ án không được coi là việc “Tòa án đã giải quyết” vụ án. Ví dụ: Các trường hợp sau đây không được coi là các trường hợp Tòa án đã giải quyết vụ án: Tòa án từ chối thụ lý hoặc đình chỉ giải quyết với lý do Tòa án đó không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn; nguyên đơn tự nguyện từ bỏ vụ kiện (rút đơn khởi kiện); nguyên đơn không tuân thủ một yêu cầu cụ thể của Tòa án dẫn đến việc Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án.
Thứ ba, nguyên đơn không được khởi kiện lại vụ án tại chính Tòa án đã giải quyết vụ án đó hoặc Tòa án khác của một nước, không phân biệt quyết định giải quyết vụ án của Tòa án có thể bị kháng cáo hoặc chưa có hiệu lực pháp luật. Thứ tư, nguyên tắc Res judicata còn được áp dụng trong trường hợp cùng một vụ án có cùng các bên đương sự, có cùng nội dung tranh chấp nhưng được Tòa án nhiều nước cùng thụ lý, giải quyết. Theo đó, trường hợp một Tòa án của một nước khi nhận đơn khởi kiện hoặc sau khi thụ lý vụ án mà phát hiện vụ án 13 đó chính là vụ án đã được Tòa án nước khác đã giải quyết, thì Tòa án nhận đơn hoặc đã thụ lý vụ án sẽ từ chối thụ lý hoặc đình chỉ giải quyết vụ án.1 Vậy theo quan điểm của học giả này thì đương sự chỉ mất quyền khởi kiện lại nếu như vụ án đã được giải quyết theo cả nghĩa đen, lẫn nghĩa bóng, có nghĩa đã có một phán quyết để giải quyết nội dung tranh chấp của các bên. Quan điểm của học viên đồng tình với quan điểm của học giả, việc tước bỏ quyền khởi kiện lại vụ án dân sự trong một số trường hợp là cần thiết để hạn chế quyền lạm dụng của đương sự khởi kiện vụ án trong khi vụ án đã được giải quyết để tránh trường hợp cùng một quan hệ tranh chấp, cùng đương sự nhưng do phán quyết trước đương sự không đồng ý, để tránh lãng phí thời gian của người dân và tạo tính ổn định của một phán quyết của Tòa án, tuy nhiên nếu quy định theo như luật hiện hành thì quyền khởi kiện lại của đương sự dễ bị mất đi nhưng tính công bằng trong pháp luật sẽ khó được thực thi.
Bởi lẽ: Để hiểu nội dung “việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác đối với vụ án trước” để đưa ra quyết định không cho đương sự quyền khởi kiện lại trong thực tiễn luôn xảy ra các luồng quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: Nếu như vụ án trước đã được giải quyết bởi một phán quyết của Tòa án có thể bằng một quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định công nhận sự thỏa thuận hoặc có thể bằng một bản án thì đã thỏa mãn được điều kiện đương sự không còn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án, chỉ trừ một số trường hợp quy định. Minh thị cho quan điểm trên là quy định hiện hành tại khoản 1 Điều 218 BLTTDS.