Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và thực hiện chiến lược cải cách tư pháp của Đảng, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự nhằm bảo vệ công lý, quyền con người và quyền công dân là một đòi hỏi cấp thiết. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, các quan hệ dân sự ngày càng gia tăng về số lượng và tính chất phức tạp. Để bảo đảm việc giải quyết vụ án chính xác, khách quan và minh bạch, Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 đã bổ sung chế định "Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ" tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Đây là thủ tục tố tụng độc lập về bản chất so với phiên hòa giải, nhằm bảo đảm nguyên tắc tranh tụng, tạo điều kiện cho các đương sự tiếp cận đầy đủ tài liệu, chứng cứ trước khi vụ án được đưa ra xét xử.
Tại Tòa án nhân dân (TAND) quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội – một địa bàn kinh tế trọng điểm với tốc độ đô thị hóa nhanh, số lượng tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động thụ lý hằng năm luôn ở mức cao. Mặc dù đội ngũ Thẩm phán và cán bộ Tòa án đã nỗ lực triển khai các quy định mới, thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng dân sự liên quan đến phiên họp này vẫn còn bộc lộ nhiều khó khăn, vướng mắc. Sự thiếu vắng các văn bản hướng dẫn chi tiết từ cấp có thẩm quyền dẫn đến việc áp dụng thiếu thống nhất giữa các Thẩm phán, làm phát sinh tình trạng mở phiên họp mang tính hình thức hoặc kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Thùy Linh (Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2023) xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận, bản chất pháp lý, đặc điểm, nội dung, chủ thể và ý nghĩa của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong tố tụng dân sự.
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của BLTTDS năm 2015 về thông báo, thành phần, trình tự và biên bản phiên họp.
- Khảo sát, đánh giá thực tiễn tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ tại TAND quận Nam Từ Liêm qua các số liệu thống kê và hồ sơ vụ án cụ thể giai đoạn 2020 – 2023.
- Nhận diện các tồn tại, hạn chế, xác định nguyên nhân và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn.
- Đối tượng nghiên cứu: Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự (trọng tâm là BLTTDS năm 2015) về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và thực tiễn thi hành tại TAND quận Nam Từ Liêm.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Địa bàn quận Nam Từ Liêm, tập trung tại TAND quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Thời gian: Dữ liệu và hồ sơ thực tiễn được thu thập từ năm 2020 đến hết năm 2023.
- Nội dung: Tập trung vào hoạt động kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự theo nghĩa rộng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, cùng các chủ trương, đường lối cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Hệ thống khái niệm và cơ sở pháp lý nền tảng trong công trình gồm:
- Khái niệm chứng cứ và tiếp cận chứng cứ: Căn cứ Điều 93 BLTTDS năm 2015 quy định về chứng cứ; Khoản 8 Điều 70 BLTTDS năm 2015 và Khoản 1 Điều 98 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 về quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ; Điều 96 và Điều 97 BLTTDS năm 2015 về giao nộp và xác minh, thu thập chứng cứ.
- Quy định chuyên biệt về phiên họp: Các điều luật thuộc Chương XIII BLTTDS năm 2015: Điều 48 (nhiệm vụ của Thẩm phán), Điều 51 (nhiệm vụ của Thư ký), Điều 206 (những vụ án không tiến hành hòa giải được), Điều 208 (thông báo phiên họp), Điều 209 (thành phần phiên họp), Điều 210 (trình tự phiên họp), Điều 211 (biên bản phiên họp).
- Văn bản pháp luật liên quan: Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Nghị quyết số 132/NQ-CP ngày 27/12/2013 của Chính phủ về việc thành lập quận Nam Từ Liêm; các văn bản lịch sử như Sắc lệnh số 13/SL ngày 21/01/1946, Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 và Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950.
- Tài liệu học thuật tham khảo: Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam (Đại học Luật Hà Nội, Nguyễn Công Bình chủ biên); các công trình nghiên cứu chuyên sâu của TS. Bùi Thị Huyền, TS. Đỗ Xuân Lân, tác giả Nguyễn Thị Ninh, Lê Văn Sưa, Lê Hồng Phương và Thái Chí Bình.
Phương pháp nghiên cứu được vận dụng xuyên suốt gồm: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp tổng kết thực tiễn, phương pháp thống kê xã hội học pháp lý, phương pháp so sánh luật học và phương pháp quy nạp - khái quát hóa.
Nguồn dữ liệu thực nghiệm phục vụ đánh giá bao gồm các Báo cáo công tác tổng kết năm của TAND quận Nam Từ Liêm từ năm 2020 đến năm 2023, cùng các hồ sơ giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại thực tế tại đơn vị.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề chung về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong giải quyết vụ án dân sự
Tác giả làm rõ các phương diện lý luận và phân tích kết cấu pháp lý của chế định trong BLTTDS năm 2015:
-
Khái niệm và đặc điểm: Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là phương thức tố tụng do Tòa án tổ chức để các bên trao đổi, bổ sung tài liệu chứng cứ, xác nhận những vấn đề đã thống nhất và chưa thống nhất, trình bày các yêu cầu cần Tòa án giải quyết. Chế định có 4 đặc điểm cơ bản:
- Được tổ chức bởi bên thứ ba độc lập không có quyền lợi tranh chấp là Tòa án.
- Tiến hành dưới hình thức phiên họp tố tụng mang tính bắt buộc, có sự tham gia của các đương sự.
- Bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền tiếp cận, sao chụp, ghi chép chứng cứ và yêu cầu Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ.
- Là biện pháp tố tụng nhằm bảo đảm tuân thủ pháp luật về chứng cứ, xác lập giới hạn yêu cầu và định hình hướng giải quyết vụ án.
-
Nội dung và chủ thể tiến hành: Nội dung phiên họp gồm 3 hoạt động chính: kiểm tra việc giao nộp chứng cứ của đương sự; kiểm tra việc thực hiện quyền tiếp cận chứng cứ của các bên; kiểm tra việc công khai các tài liệu do Tòa án thu thập (biên bản lấy lời khai, đối chất, kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, giám định). Chủ thể tiến hành gồm Thẩm phán chủ trì và Thư ký lập biên bản; chủ thể tham gia gồm đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, người phiên dịch và cơ quan, tổ chức có thẩm quyền hỗ trợ khi cần thiết.
-
Ý nghĩa tố tụng: Tạo điều kiện cho đương sự nắm bắt chứng cứ nhanh chóng, loại trừ yếu tố bất ngờ trong tranh tụng; giúp các bên nhận thức rõ điểm mạnh, điểm yếu về mặt pháp lý để chủ động hòa giải, thỏa thuận; hỗ trợ Tòa án rút ngắn thời gian chuẩn bị xét xử và tiết kiệm chi phí tố tụng.
-
Khung quy định luật thực định (Điều 208 – Điều 211 BLTTDS năm 2015):
- Thông báo phiên họp (Điều 208): Thẩm phán thông báo trước về thời gian, địa điểm, nội dung. Đối với tranh chấp hôn nhân gia đình có con chưa thành niên từ đủ 7 tuổi trở lên, Thẩm phán bắt buộc phải lấy ý kiến của con, phối hợp cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em và bảo đảm tuyệt đối bí mật đời tư.
- Thành phần phiên họp (Điều 209): Quy định việc xử lý khi đương sự vắng mặt; trường hợp bị đơn, người liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần 2 nhưng cố tình vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp kiểm tra chứng cứ mà không hòa giải được.
- Trình tự phiên họp (Điều 210): Kiểm tra căn cước, phổ biến quyền và nghĩa vụ; công bố công khai chứng cứ; Thẩm phán làm rõ yêu cầu khởi kiện, sửa đổi, bổ sung, rút yêu cầu, yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập và các vấn đề chưa thống nhất.
- Biên bản phiên họp (Điều 211): Thư ký Tòa án lập biên bản ghi nhận toàn bộ diễn biến, ý kiến đương sự và quyết định của Thẩm phán.
Chương 2: Thực tiễn thực hiện phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ tại Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội và một số kiến nghị hoàn thiện
Chương 2 tập trung phản ánh kết quả hoạt động, khảo sát hồ sơ xét xử và đề xuất giải pháp:
- Tổng quan địa bàn và kết quả xét xử giai đoạn 2020 – 2023: TAND quận Nam Từ Liêm (trụ sở tại số 2 đường Liên Cơ, ngõ 18 Nguyễn Cơ Thạch, phường Cầu Diễn) được thành lập theo Nghị quyết số 132/NQ-CP năm 2013. Tình hình thụ lý và giải quyết các vụ án dân sự theo nghĩa rộng (dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động) được tổng hợp qua bảng số liệu sau:
| Năm |
Tổng số thụ lý (vụ) |
Tổng số giải quyết (vụ) |
Số vụ còn lại (vụ) |
Tỷ lệ giải quyết (%) |
| 2020 |
928 |
813 |
115 |
87,6% |
| 2021 |
902 |
805 |
97 |
89,2% |
| 2022 |
1.107 |
987 |
120 |
89,2% |
| 2023 |
966 |
849 |
117 |
85,3% |
Đặc điểm thực tiễn: Giai đoạn năm 2021 có sự chững lại do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 và các biện pháp giãn cách xã hội. Sau dịch, số lượng vụ việc gia tăng nhanh chóng với tính chất ngày càng phức tạp. Các vụ án kinh doanh thương mại và dân sự chủ yếu phải đưa ra xét xử do tranh chấp gay gắt, trong khi phần lớn án hôn nhân gia đình được giải quyết thông qua công nhận thuận tình ly hôn.
-
Những tồn tại, hạn chế từ thực tiễn áp dụng:
- Mở nhiều phiên họp không cần thiết khi chưa có chứng cứ mới: Vụ án HNGĐ thụ lý số 233/2023/TLST-HNGĐ ngày 01/6/2023 về "Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn" giữa chị Nguyễn Thị Bích H và anh Phạm Nguyễn H1. Tòa án đã mở tới 4 phiên họp kiểm tra chứng cứ; trong đó phiên thứ hai và thứ ba không thu thập thêm chứng cứ nào mới, biên bản lập lại nội dung phiên đầu, gây tốn kém thời gian và công sức của đương sự.
- Không mở thêm phiên họp khi phát sinh chứng cứ mới: Vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 50/2023/TLST-KDTM ngày 10/7/2023 về "Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa" giữa Công ty TNHH Thương mại Quốc tế A và Công ty CP B. Sau phiên họp ngày 15/8/2023, nguyên đơn giao nộp thêm biên bản chốt công nợ ngày 09/8/2023 và hóa đơn giá trị gia tăng, nhưng Thẩm phán không mở thêm phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ mới, làm ảnh hưởng đến quyền phản tố và bào chữa của bị đơn.
- Biên bản phiên họp sơ sài, thiếu chi tiết: Vụ án HNGĐ thụ lý số 361/2023/TLST-HNGĐ ngày 06/9/2023 về "Xin ly hôn" giữa anh Đỗ Trọng L và chị Đặng Ngọc T. Biên bản phiên họp lập ngày 06/9/2023 chỉ ghi chung chung "Nguyên đơn đã nộp toàn bộ tài liệu kèm theo đơn xin ly hôn", không liệt kê cụ thể từng danh mục tài liệu, chứng cứ.
- Thiếu sự thống nhất trong việc ban hành thông báo kết quả cho đương sự vắng mặt: Khoản 3 Điều 210 BLTTDS năm 2015 quy định phải thông báo kết quả phiên họp cho đương sự vắng mặt, nhưng Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC không ban hành biểu mẫu chuẩn, dẫn đến tình trạng Tòa án không gửi thông báo hoặc áp dụng các mẫu văn bản không đồng nhất.
-
Nguyên nhân của hạn chế: Quy định của BLTTDS năm 2015 còn khoảng trống (chưa ấn định thời điểm mở phiên họp và không giới hạn số lần mở phiên họp); nhận thức pháp luật và ý thức hợp tác giao nộp chứng cứ của một bộ phận đương sự còn hạn chế; kinh nghiệm, kỹ năng điều hành của một số Thẩm phán chưa đồng đều.
-
Kiến nghị, giải pháp:
- Về hoàn thiện pháp luật: Quy định thời điểm mở phiên họp kiểm tra chứng cứ phải sau khi đã lấy xong lời khai của các đương sự (hoặc sau một thời hạn luật định khi có biên bản không thể ghi lời khai); ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể việc thẩm tra nguồn gốc, tính hợp pháp của tài liệu tại Điều 210; bổ sung biểu mẫu tố tụng chuẩn về "Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ"; quy định chặt chẽ về căn cứ và số lần hoãn phiên họp nhằm chống lạm dụng trì hoãn.
- Về bảo đảm thực thi: Nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng điều hành tố tụng cho đội ngũ Thẩm phán, Thư ký; tăng cường tuyên truyền, phổ biến nghĩa vụ giao nộp và công khai chứng cứ cho người dân.
Kết quả và đóng góp
- Kết quả thực chứng: Khóa luận phản ánh bức tranh toàn diện về công tác xét xử sơ thẩm tại TAND quận Nam Từ Liêm qua 4 năm (2020 – 2023), làm rõ cơ cấu giải quyết đối với từng nhóm án (Dân sự, HNGĐ, Kinh doanh thương mại, Lao động) với tỷ lệ giải quyết trung bình đạt trên 85% - 89%.
- Phát hiện khoa học: Khóa luận chỉ ra mâu thuẫn giữa quy định mang tính nguyên tắc của BLTTDS năm 2015 với thực tiễn áp dụng: việc thiếu quy định về thời điểm tổ chức phiên họp dẫn đến hai thái cực sai lệch (hoặc mở quá sớm khi chưa đủ chứng cứ gây lãng phí thủ tục, hoặc mở một lần rồi bỏ qua chứng cứ phát sinh sau đó làm xâm phạm quyền tiếp cận chứng cứ).
- Đóng góp về mặt lập pháp và thực tiễn: Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chế định kiểm tra chứng cứ độc lập với hòa giải; cung cấp các luận cứ thực tiễn từ cấp Tòa án cơ sở để cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung BLTTDS và ban hành biểu mẫu hướng dẫn áp dụng thống nhất.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Phạm vi khảo sát thực tiễn chỉ giới hạn tại một đơn vị TAND cấp huyện (quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội) trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến 2023; đối tượng nghiên cứu khu biệt ở thủ tục sơ thẩm vụ án dân sự theo nghĩa rộng, chưa mở rộng nghiên cứu sang thủ tục giải quyết việc dân sự hoặc các giai đoạn tố tụng khác.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát so sánh thực tiễn áp dụng chế định tại nhiều TAND quận/huyện trên các địa bàn đô thị và nông thôn khác nhau; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế xử lý trách nhiệm và chế tài đối với hành vi cố tình che giấu, chậm trễ giao nộp chứng cứ của đương sự trong tố tụng dân sự.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự; Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án, Luật sư và những người tham gia tố tụng.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Mục 1.1 và 1.2: Hệ thống hóa logic về 4 đặc điểm pháp lý và phân tích chi tiết các điều luật (Điều 208 – 211 BLTTDS năm 2015).
- Mục 2.2: Bảng số liệu thống kê thực tế và phân tích chuyên sâu 3 hồ sơ vụ án điển hình (Vụ 233/2023/TLST-HNGĐ, Vụ 50/2023/TLST-KDTM, Vụ 361/2023/TLST-HNGĐ) phản ánh chính xác các lỗ hổng nghiệp vụ thực tế.
- Mục 2.3: Các đề xuất lập pháp cụ thể về thời điểm mở phiên họp và ban hành biểu mẫu chuẩn theo Khoản 3 Điều 210.
Câu hỏi thường gặp
-
Chế định "Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ" được ghi nhận chính thức lần đầu tiên trong văn bản pháp luật nào của Việt Nam?
Chế định này được ghi nhận chính thức lần đầu tiên trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 chỉ quy định về thủ tục hòa giải mà không quy định riêng phiên họp kiểm tra chứng cứ).
-
Khi giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp quyền nuôi con chưa thành niên, Điều 208 BLTTDS năm 2015 đặt ra yêu cầu bắt buộc nào trước khi mở phiên họp?
Thẩm phán phải thu thập tài liệu xác định nguyên nhân tranh chấp, bắt buộc phải lấy ý kiến của con chưa thành niên từ đủ 07 tuổi trở lên, bảo đảm thân thiện, phù hợp tâm lý lứa tuổi và giữ bí mật đời sống riêng tư; trường hợp cần thiết có thể tham khảo ý kiến hoặc mời đại diện cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em tham gia.
-
Tỷ lệ giải quyết các vụ án dân sự theo nghĩa rộng tại TAND quận Nam Từ Liêm giai đoạn 2020 – 2023 đạt kết quả cụ thể ra sao?
Năm 2020 đạt 87,6% (813/928 vụ); năm 2021 đạt 89,2% (805/902 vụ); năm 2022 đạt 89,2% (987/1.107 vụ); năm 2023 đạt 85,3% (849/966 vụ).
-
Bất cập lớn nhất liên quan đến số lần và thời điểm mở phiên họp tại TAND quận Nam Từ Liêm được khóa luận chỉ ra là gì?
BLTTDS năm 2015 không quy định cụ thể thời điểm mở phiên họp và không giới hạn số lần mở, dẫn đến việc Thẩm phán mở nhiều phiên họp trùng lặp khi chưa có chứng cứ mới (như vụ án HNGĐ số 233/2023/TLST-HNGĐ mở 4 phiên), hoặc mở phiên họp quá sớm nhưng khi đương sự nộp thêm chứng cứ mới lại không mở thêm phiên họp để công khai (như vụ án KDTM số 50/2023/TLST-KDTM).
-
Tác giả khóa luận kiến nghị thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nên được luật hóa như thế nào?
Tác giả kiến nghị nên quy định thời điểm mở phiên họp là sau khi Tòa án đã ghi xong lời khai của các đương sự; trường hợp không thể lấy lời khai thì ấn định mở phiên họp sau một thời hạn cụ thể tính từ ngày thụ lý vụ án và có biên bản xác nhận việc không ghi được lời khai.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đinh Thùy Linh là một công trình nghiên cứu chuyên khảo có kết cấu chặt chẽ, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận pháp lý tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử sơ thẩm tại TAND quận Nam Từ Liêm giai đoạn 2020 – 2023. Công trình đã làm rõ bản chất độc lập và tầm quan trọng của phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ trong việc bảo đảm quyền tranh tụng của đương sự theo tinh thần BLTTDS năm 2015. Bằng việc phân tích các vụ án điển hình cùng các số liệu thống kê cụ thể, khóa luận đã chỉ ra những khoảng trống pháp luật và hạn chế nghiệp vụ thực tế, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực thi mang tính khả thi cao.