mở đầu việc yêu cầu cơ quan có chức năng xét xử người khác đã làm thiệt hại đến quyền lợi của mình. Trong phạm vi của khóa luận, tác giả nghiên cứu khởi kiện dưới góc độ là một hoạt động tố tụng của cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án dẫn đến hậu quả pháp lý Tòa án phải xem xét thụ lý và giải quyết VADS. Do đó, có thể định nghĩa khởi kiện như sau: “Khởi kiện là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật TTDS thực hiện việc nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác, bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước trong trường hợp những lợi ích đó bị xâm phạm hoặc xảy ra tranh chấp với các chủ thể khác. Khái niệm tranh chấp về hôn nhân và gia đình Trước tiên, có thể hiểu “tranh chấp” là đấu tranh, tranh giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào hoặc đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên14.
Trong cuộc sống, có rất nhiều vấn đề, lĩnh vực có thể xảy ra tranh chấp như tranh chấp hợp đồng, tranh chấp đất đai, tranh chấp về kinh doanh thương mại hoặc tranh chấp về các quyền và nghĩa vụ giữa các bên… Và trong hôn nhân - gia đình cũng vậy, các tranh chấp có thể phát sinh trong thời kỳ hôn nhân hoặc là sau khi chấm dứt thời kỳ hôn nhân. Có thể thấy, các loại tranh chấp về hôn nhân và gia đình phổ 12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2021), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam. Nxb Công an nhân dân, tr. 13 Từ điển Tiếng Việt, http://tratu.vn/dict/vn_vn/Ki%E1%BB%87n, truy cập ngày 16/3/2022.php?search=tranh+ch%E1%BA%A5p&dict=en_vn&btnSearch , truy cập ngày 14/3/2022 10 biến hiện nay là tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn hoặc tranh chấp về ai là người có quyền nuôi con…Những tranh chấp này thường là những tranh chấp phức tạp và kéo dài, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình cảm giữa các thành viên trong gia đình và sự ổn định của xã hội.
Nguyên nhân dẫn tới tranh chấp trên một phần do tính chất đa dạng, phức tạp của các quan hệ tài sản của vợ chồng. Mặt khác tình trạng gia tăng các tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng cũng cho thấy những bất cập, góc khuất của pháp luật về vấn đề này. Do đó, có thể hiểu khái niệm “tranh chấp hôn nhân và gia đình” là tổng hợp những mâu thuẫn, bất đồng, tranh giành về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ hôn nhân và gia đình. Như vậy, từ việc tìm hiểu và phân tích hai khái niệm “khởi kiện” và “tranh chấp về hôn nhân và gia đình”, có thể hiểu khái niệm “khởi kiện các tranh chấp về hôn nhân và gia đình” như sau: “Khởi kiện các tranh chấp về hôn nhân và gia đình được hiểu là việc một chủ thể thuộc quan hệ hôn nhân và gia đình (có thể là vợ, chồng, cha mẹ, con cái…) thực hiện quyền khởi kiện của mình để yêu cầu Tòa án giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng, tranh giành về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong mối quan hệ hôn nhân và gia đình mà chủ thể đó cho rằng có thể quyền và lợi ích hợp pháp của họ đã và đang bị xâm phạm hoặc đang xảy ra tranh chấp.
Các loại tranh chấp về hôn nhân và gia đình Luật HNGĐ năm 2014 quy định các chế định như kết hôn, ly hôn, quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ với con cái, cấp dưỡng… trong mỗi chế định đều quy định rõ về thẩm quyển giải quyết, thủ tục giải quyết. Từ đó, BLTTDS năm 2015 cũng quy định các vụ việc hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Cụ thể, theo Điều 28 Luật Tố tụng dân sự 2015, những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm: Thứ nhất, ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.) Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo Bản án, Quyết định có hiệu lực của Tòa án. Khác với yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn được giải quyết theo thủ tục việc dân sự, việc giải quyết theo thủ tục vụ án dân sự được áp dụng trong các trường hợp sau15: 15 Hoàng Hồng Hạnh (2020), Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp hôn nhân, gia đình và thực tiễn thực hiện tại các Toà án nhân dân ở tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.
11 - Trường hợp thứ nhất, một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn; - Trường hợp thứ hai, cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu ly hôn khi một bên vợ chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bảo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe và tinh thần của họ. - Trường hợp thứ ba, một bên vợ hoặc chồng hoặc thuận tình ly hôn nhưng các bên không thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con hoặc có thỏa thuận được nhưng không đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng của vợ và con. Thứ hai, tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Đối với trường hợp này, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung (trừ trường hợp quy định tại Điều 42 Luật HNGĐ năm 2014), nếu không tự thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết trong những trường hợp sau: Một bên vợ hoặc chồng yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng bên còn lại không muốn và cả hai bên vợ chồng đều yêu cầu chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhưng không thỏa thuận được về phần tài sản đem chia, cách chia… Thứ ba, tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
Đây là trường hợp mà trước khi đương sự khởi kiện giữa họ đã chấm dứt quan hệ vợ chồng và đã giao con cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Do thay đổi tình hình của một trong hai bên mà nếu không thay đổi việc nuôi con thì có thể ảnh hưởng đến cuộc sống của người con và giữa họ không thống nhất được việc thay đổi nuôi con thì họ có quyền xin thay đổi việc nuôi con16. Trường hợp này có sự tranh chấp nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 BLTTDS 2015. Nếu có sự thỏa thuận và chỉ yêu cầu công nhân sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con thì là việc HNGĐ, không phải vụ án HNGĐ.
Thứ tư, tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ. Theo quy định của pháp luật hiện hành, cơ quan có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con là cơ quan đăng ký hộ tịch và Tòa án. Trong đó, Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ con trong trường hợp có tranh chấp, hoặc người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết; và trường hợp có yêu cầu 16 https://www.vn/webcenter/portal/tatc/chi-tiet-chi-dao-dieu-hanh?dDocName=TAND048477, truy cập ngày 14/3/2022. 12 về việc xác định cha, mẹ, con mà người có yêu cầu chết, người thân thích của người này yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ, con cho người yêu cầu đã chết17.
Thứ năm, tranh chấp về cấp dưỡng. Đây là trường hợp chỉ có một yêu cầu về cấp dưỡng của những người được cấp dưỡng và những người có nghĩa vụ cấp dưỡng như cha, mẹ, con, anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ chồng. việc cấp dưỡng xuất phát có thể từ việc người có nghĩa vụ cấp dưỡng trốn tránh nghĩa vụ hoặc có sự thay đổi về mức cấp dưỡng khi có căn cứ cho rằng mức cấp dưỡng đó không còn phù hợp với người được cấp dưỡng nữa. Tuy nhiên, yêu cầu cấp dưỡng này chỉ được Tòa án thụ lý để giải quyết là vụ án tranh chấp khi có căn cứ cho rằng giữa họ không thỏa thuận được mức cấp dưỡng, thời gian cấp dưỡng, cấp dưỡng một lần hay theo định kỳ.và giữa họ đã xảy ra tranh chấp với nhau18.
Khi có yêu cầu của những người có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng (người được cấp dưỡng, cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó; người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia định; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; hội liên hiệp phụ nữ), Tòa án phải thụ lý để giải quyết. Thứ sáu, tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Khi người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân hoặc sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ khi hôn nhân chấm dứt được coi là con chung của vợ chồng. Nếu người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.
Nguyên tắc này được áp dụng trong cả trường hợp con sinh ra không có huyết thống với cha hoặc mẹ hoặc với cha và mẹ (do phải xin tinh trùng, noãn hoặc phôi). Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với đứa trẻ được sinh ra. Do đó, khi đứa trẻ được sinh ra, nếu người cha, người mẹ không muốn thừa nhận con thì cũng không được yêu cầu xác định lại. Do vậy, tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản phải do Tòa án giải quyết19.
Thứ bảy, tranh chấp về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Luật HNGĐ và các văn bản hưỡng dẫn đã kịp thời có những quy định về vấn đề này, BLTTDS năm 17 Hoàng Hồng Hạnh (2020), tlđd số chú dẫn trước đó 15, tr.vn/webcenter/portal/tatc/chi-tiet-chi-dao-dieu-hanh?dDocName=TAND048477, truy cập ngày 14/3/2022. 19 Hoàng Hồng Hạnh (2020), tlđd số chú dẫn trước đó 17, tr. 13 2015 cũng đã ghi nhận thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan.
Tuy nhiên, quyền yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp đó lại chưa được quy định cụ thể.