CHƯƠNG 1: KHÁI NIỆM HOẠT ĐỘNG CỦA TỎ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ PHÁP LUAT VE HOAT ĐỘNG CUATO CHỨC TÀI CHÍNH VIMÔ 1. Khái niệm về hoạt động của tô chức tài chính vi mô 1. Quá trình hình thành và phát triển của tô chức tài chính vi mô Thuật ngữ tài chính vi mô được biết đến lần đâu tiên vào những năm đâu thé kỷ thứ 17, với hình thức quỹ tin dung do Jonathan Swift sáng lập tai Iceland Đến thé ky thứ 19, TCVM đã phat triển khắp các khu vực nông thôn ở Châu Âu dưới các hình thức: Ngân hàng Nhân dan (People's Bank), Liên hiệp tin dung (Credit Unions) va Hợp tác xã tín dung (Savings and Credit Cooperatives). TCVMở khu vực nay chủ yếu hướng tới nhu cau tim việc lam cho người thất nghiệp, tạo thêm thu nhập cho người lao động nghèo.
Tại Mỹ, các NHTM thực hiện việc dau tư vào nhóm dân cư nghèo sinh sông tại các khu đô thị, thành phố lớn và cả các vùng nông thôn bằng các nghiệp vụ TCVM thông qua các NGO, các tô chức xã hôi. Ở châu Phi, gắn liên với tình hình phát triển của khu vực có một hình thức tô chức của các nha cung cấp TCVM rất phát triển với nhiều tên gọi khác nhau ở tùy từng nước như Susu (Ghana), Gameya (Egypt), Sanduk (Tunisia)}. được hiểu là hiệp hôi tin dụng, tiết kiếm quay vòng. Khu vực châu A 1a một trong những nơi tập trung nhiêu người nghèo nhất trên thé giới vây nên hoạt động của các tô chức TCVM rất phát triển và thánh.
Các mô hình TCVM thành công nhất gồm Grameen Bank (Bangladesh), Nhóm tự quản — SHG (An Ðộ), Ngân hang Bank Rakyat Indonesia - BRI (Indonesia). Trong đó mô hình điển hình là mô hình Grameen Bank đã nhận được giải Nobel Hòa Binh đã mang đến thành công nở rộ cho hoạt động TCVM. Mô hình đã có những tác đông tích cực trong công cuộc xoá đói giảm nghèo ¢ 3 Sxof isiise in Dita! Combing the Best Practices of Traditional and Modern Microfinance Approaches towards Poverty Eradication 13 Bangladesh ndi riêng va thé giới nói chung qua đó làm thay đôi nhận thức của nhiều người về lĩnh vực TCVM Tai Việt Nam, TCVM khởi dau ở Việt Nam từ trước những năm 1080, mô hình TCVM non trẻ ở Việt Nam ra đời thông qua các chương trình hợp tác, giao lưu về các hoạt động văn hóa, kinh tế, xã hôi của các tô chức quốc tê và Chính phủ Việt Nam. Các chương trình ra đời với mục tiêu xóa đói giảm nghèo va giải quyết van dé bat bình dang thu nhập.
Với một số chương trình, dự án hoạt động cung cấp các dich vụ TCVM là hoạt động chính, nhưng tại một số chương trình, dự án khác thì TCVM chỉ là một bộ phận trong tông thể của chương trình, dự án lớn hoặc là một công cu xã hội nhằm hỗ trợ cho một nhóm đối tượng đặc thủ trong một giai đoạn nhật định. Trong giai đoạn đâu, TCVM hoạt động dua trên khung pháp lý của Nghị định 177/1999/NĐ-CP ban hành ngày 22/12/1999 vé Quy chế tô chức và hoạt động của Quỹ xã hôi, Quỹ tử thiện. Đến năm 2005, khi Nghị định 28 vẻ tô chức và hoạt động của tổ chức TCVM quy mô nhỏ ra đời, đã tạo ra khuôn khô hành lang pháp lý đâu tiên cho các hoạt động TCVM. Vao thang 10 năm 2010, lân đầu tiên hoạt động TCVM ở Việt Nam được đưa vào trong pham vi điều chỉnh của Luật các TCTD.
Sự ra đời của quyết đính sô 20/2017/QĐ-TTg quy định về hoạt đông của chương trình, du án TCVM của tô chức chính trị, tổ chức chính. tri - xã hội, NGO, và những thông tư, nghị định hướng dẫn khác đã đánh dau mốc phát triển mới của hoạt đông TCVM tại Việt Nam, khung pháp lý ngày cảng hoàn thiên đã tạo điều kiên đáng ké đến môi trường phát triển của ngành TCVM Việt Nam 1. Khái niệm, đặc điểm tô chức tài chính vi mô 1. Khái niém tô cluức tài chinh vi mô Mặc dù TCVM đã có một khoảng thời gian tổn tại khá dai song một cách hiểu thông nhất về khai niêm tổ chức TCVM vẫn chưa được xác định mà hiện nay van tôn tai khá nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm nay: 14 Theo quan điểm của Ngân hàng phát triên châu Á (ADB) thì “Tô chức TCVM là cac tô chức có hoạt động kinh doanh chủ yếu về TCVM” và cơ quan nảy cũng xác định TCVM không chỉ được cung ứng bởi các tô chức TCVM mà trái lại, có tới ba nguồn cung ứng dịch vu TCVM bao gôm: các tô chức chính thức, vi du các ngân hang và các hợp tác xã; các tô chức bản chính thức, vi du như các tô chức phi chính phủ, vả nguồn không chính thức, như những người cho vay tiên và chủ hiệu.
Dưới cách tiếp cân khác, nhóm Tư van hỗ trợ người nghèo (Counsultative Group to Assist the Poor - CGAP) cho rang các td chức TCVM bao gôm các ngân hang thương mai va các ngân hang phát triển nha nước cung cấp dịch vụ TCVM (các tổ chức TCVIMNH) và các hop tác xã tai chính gồm các hiệp hội tin dung, các tổ chức được cap giấy phép và không được cập giây phép khác (các tô chức TCVM phi NH). Có thé lý giải rằng, theo cách hiểu nay tô chức TCVM là một tô chức có cung ứng dich vụ TCVM ma không phụ thuộc vào việc TCVM có phải là hoạt động chủ yếu của tô chức đó hay không. Ngoai các ý kiến trên, Mạng lưới tai chính vi mô (Microfinance network - MEN) cho rang tô chức TCVM bao gồm nhiều loại hình như từ các chương trình TCVM phi loi nhuận hình thành nên các TCVM chính thức hoặc từ các ngân hang thương mại thành lập các đơn vị phu thuộc và các hình thức khác. * Từ những phân tích trên có thé thay trong thực tiễn có rat ít lập luận giải thích thé nào la tô chức TCVM mà thường tập trung xác định hình thức nguồn gốc cung ứng của dich vụ nay.
Vậy nên vẫn chưa thực sư thông nhat được các tiêu chi để nhận biết tô chức TCVM mà van xoay quanh hai cách lý giải rằng tô chức TCVM cung ứng dịch vụ TCVM như là một trong sô các dịch vụ cùng cung ứng khác hay tô chức 2 Ngân hang Pháttriển châu A (2003), Chuẩn bị khuôn khổ phát tiễn tài chính vi mô., Tear (2004), Key principles of Microfinance, Washington D. Tr1 * Craig Churchill (2000), Regulation and supervision of microfinance institutions - Case studies, Occational, Tr2 15 TCVM cung ứng dịch vụ TCVM như là hoạt động kinh doanh đôc nhật. Do phần lớn các quốc gia đã xác định được tâm quan trọng của TCVM trong công cuộc xóa đói giảm nghèo như là một phương pháp cấp tín dụng có cơ chế hiệu quả mang lại triển vọng cho các doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp tiêm năng phát triển tạo công ăn việc lam cho người nghèo, người có thu nhập thấp. Vậy nên việc xây đựng hành lang pháp lý cho TCVM là điều quan trọng và vô cing cân thiết đôi với các quốc gia quan tâm đền dich vu nay.
Những năm gân aay bắt đầm có nhiều nghiên cứa về 16 chức tài chính vi mô. Các tô chức TCVM thường được chia thanh 3 nhóm: Các tô chức TCVM chính thức, các tô chức TCVM bán chính thức và các tô chức TCVM không chính thức”. Theo cách lý giải nay thì pham vi hoạt động của TCVM rat rông bởi theo khái niệm nảy thi bat kỷ một chủ thể nao bao gồm cả các tô chức, cá nhân và nhóm tự phát thực hiện việc cung ứng dich vu tai chính — ngân hang cho đối tượng có thu nhập thập trong xã hôi thì đều được coi là tô chức TCVM. Như vậy có thé hiểu, tô chức TCVM Ia t6 chức hoạt động cung cấp các dịch vụ tai chính cơ bản như.
tín dụng, chuyến tiên, bão hiếm thanh toán,. vả cả các dịch vu phi tai chính khác với mục dich giáo dục, y tế,. cho nhóm đối tượng có thu nhập thấp, người nghèo, doanh nghiệp nhỏ không có khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính thức. Tuy nhiên, phạm vi hoạt động mà tô chức TCVM được phép thực hiên sé có sự khác biệt tuỷ thuộc vào quy định pháp luật mỗi quốc gia Tại Viet Nam, các nhà làm luật đã nghiên cứu theo hướng coi đây là các tổ chức tin dụng, thực hiện hoạt động ngân hang.
Các văn bản pháp luật của Việt Nam từ giai đoạn đâu cho dén nay cũng đã có các điều khoản định nghĩa tô chức TCVM với nên móng là định nghĩa về “t6 cinte tài chính guy mô nhỏ” trong Nghị định 28/2005/NĐ-CP Và cuối cùng khái niệm nay được quy định rổ Š Nguyễn Kim Anh và Lê Thanh Tâm (Bang chữ biên), (2013), Mức độ bên vững của các tổ chức tai chính vi mô Việt Nam: Thực trang và một số khuyến nghi- Sách chuyển khão, Hà nội, Nhà xuất bản Giao thông Vận tải, GPXB số 222-2013/GXB/179-05/GTVT cấp ngày 9/12/2013.25 16 rang tại khoản 5 điêu 4 Luật các Tô chức tin dụng năm 2010: “7ô chute TCVM là loại lành tô clưức tin dung chit yếu tlưực hiện một số hoat động ngần hàng nhằm đáp ứng niu cầu của cúc cú nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.” Đây cũng là khai niệm dé hiểu và sâu sát nhật với tinh hình thực tế hiện tai của các tô chức TCVM. Khái niệm nay đã bao ham được ban chất và nội dung hoạt đông cũng như đôi tượng hướng đến của tô chức nay, cụ thể như sau: 1. Đặc diém của tỗ chức tài chính vi mô Dựa trên quy định tại Khoản 5 Điều 4 Luật các tô chức tín dụng năm 2010 và các phân tích tông quan về tô chức TCVM , chúng ta thay tô chức tải chính vi mô có những đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất, t6 chức tài chính vi mô là một trong những loại hình tô chức tin đụng. Đây là một loại hình TCTD tôn tại song song bên cạnh ba loại hình TCTD khác là ngân hàng, TCTD phi ngân hang và Quỹ tín dung nhân dan.
La một tô chức tin đụng nên đối tương kinh doanh là tiên tệ và hoạt động mang tính nghé nghiệp của tô chức TCVM là hoạt động ngân hang Thứ hai, đối tương hưởng đến của tô chức TCVM chủ yễu là người nghèo, người có tìm nhập thấp, người yếu thé trong xã hội. Dù vê ban chat theo Luật TCTD 2010 thì một tô chức chi được coi lä tô chức TCVM nếu đối tượng khách hàng mà tổ chức đó phục vu là các cá nhân, hô gia đình có thu nhập thâp và doanh nghiệp siêu nhỏ, tuy nhiên điêu nay không có nghĩa la tô chức TCVM chi đươc phục vụ duy nhất đối tượng này.