Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tài chính vi mô (TCVM) được xác định là một công cụ hữu hiệu trong chiến lược xóa đói, giảm nghèo bền vững và thúc đẩy tài chính toàn diện tại các quốc gia đang phát triển. Tại Việt Nam, sau gần ba thập kỷ hình thành và phát triển, hoạt động TCVM đã tiếp cận nhóm đối tượng thu nhập thấp, người nghèo tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Tính đến thời điểm nghiên cứu (năm 2024), cả nước có 04 tổ chức tài chính vi mô (TCTCVM) chính thức được Ngân hàng Nhà nước cấp phép thành lập và hoạt động, với mạng lưới gồm 62 chi nhánh phân bố tại 25 tỉnh, thành phố. Mặc dù đã đạt được những kết quả ban đầu, quy mô và tốc độ phát triển của hệ thống TCTCVM tại Việt Nam vẫn còn chậm, chưa thu hút được nhiều nguồn lực xã hội và nguồn vốn đầu tư. Một trong những rào cản căn bản xuất phát từ những điểm nghẽn, bất cập trong khuôn khổ pháp lý hiện hành điều chỉnh tổ chức và hoạt động của loại hình tổ chức tín dụng đặc thù này, đơn cử như giới hạn về quy mô vốn, hạn mức cho vay, hình thức pháp lý và phạm vi cung ứng dịch vụ.

Trong bối cảnh Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 được Quốc hội khóa XV thông qua tại Kỳ họp bất thường lần thứ 5 (thay thế Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017), việc nghiên cứu một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật điều chỉnh TCTCVM trở nên cần thiết.

Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ những nội dung lý luận về pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của TCTCVM; đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành tại Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động của các TCTCVM.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Nhiệm vụ thứ nhất: Phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về TCTCVM, hoạt động TCVM và cấu trúc pháp luật điều chỉnh tổ chức, hoạt động của TCTCVM.
  • Nhiệm vụ thứ hai: Khảo cứu, phân tích thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về cơ cấu tổ chức, mạng lưới quản trị - điều hành và hoạt động kinh doanh của TCTCVM; đánh giá tính tương thích và chỉ ra những điểm bất cập, mâu thuẫn trong thực tiễn áp dụng.
  • Nhiệm vụ thứ ba: Xác định định hướng và đề xuất các giải pháp lập pháp, hoàn thiện quy phạm pháp luật cùng các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật đối với TCTCVM tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của TCTCVM; hệ thống quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức, hoạt động của TCTCVM tại Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy phạm pháp luật điều chỉnh cơ cấu tổ chức, quản trị, điều hành, mạng lưới hoạt động và hoạt động nghiệp vụ của TCTCVM (các mô hình TCVM bán chính thức và phi chính thức chỉ mang tính dẫn chiếu, so sánh).
  • Phạm vi thời gian: Khảo cứu các văn bản quy phạm pháp luật và số liệu thực tiễn áp dụng từ năm 2010 (thời điểm ban hành Luật Các tổ chức tín dụng 2010) đến năm 2024 (thời điểm ban hành Luật Các tổ chức tín dụng 2024).
  • Phạm vi không gian: Hệ thống pháp luật và thực tiễn hoạt động của TCTCVM trên lãnh thổ Việt Nam, kết hợp tham chiếu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế (như mô hình Grameen Bank tại Bangladesh, mạng lưới MFIN tại Ấn Độ).

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và cơ sở pháp lý:

  • Khái niệm và nguyên lý tài chính vi mô: Dựa trên khung lý thuyết của Nhóm tư vấn hỗ trợ người nghèo (CGAP) và Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) về bản chất kép của TCVM (kết hợp mục tiêu kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận và mục tiêu an sinh xã hội), đặc tính tín dụng tín chấp dựa trên nhóm tương trợ, tiết kiệm bắt buộc và quản lý rủi ro vi mô.
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; Nghị định số 28/2005/NĐ-CP và Nghị định số 165/2007/NĐ-CP của Chính phủ; Thông tư số 02/2008/TT-NHNN, Thông tư số 33/2015/TT-NHNN (về tỷ lệ bảo đảm an toàn), Thông tư số 03/2018/TT-NHNN (sửa đổi bởi Thông tư số 13/2019/TT-NHNN về cấp phép, tổ chức và hoạt động), Thông tư số 19/2019/TT-NHNN (về mạng lưới hoạt động của TCTCVM); Quyết định số 2195/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống TCVM tại Việt Nam đến năm 2020.

Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được triển khai trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích: Sử dụng chủ yếu tại Chương 1 và Chương 2 nhằm mổ xẻ cấu trúc điều luật, tiêu chuẩn chức danh quản trị, điều kiện thành lập mạng lưới và cơ chế cấp tín dụng của TCTCVM.
  • Phương pháp tổng hợp: Được vận dụng xuyên suốt nhằm khái quát hóa các thuộc tính pháp lý, xâu chuỗi các số liệu thực tiễn để rút ra kết luận khoa học và xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
  • Phương pháp lịch sử: Khảo cứu tiến trình lập quy điều chỉnh TCVM tại Việt Nam từ giai đoạn sơ khai (cuối thập niên 80), qua mốc Nghị định 28/2005/NĐ-CP đến Luật Các TCTD 2010 và Luật Các TCTD 2024.
  • Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu quy định pháp luật Việt Nam với các chuẩn mực quốc tế (CGAP, ADB) và quy định pháp luật của các quốc gia khác nhằm làm rõ những điểm đặc thù, sự tương đồng và khoảng trống pháp lý.
  • Phương pháp phân tích logic quy phạm: Đánh giá tính thống nhất nội tại, phát hiện xung đột quy phạm giữa Luật Các tổ chức tín dụng với các văn bản dưới luật (như mâu thuẫn trong thẩm quyền bổ nhiệm/bãi nhiệm Tổng Giám đốc và trách nhiệm giải trình giữa Chủ sở hữu và Hội đồng thành viên).

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thành văn từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam; các báo cáo và số liệu thống kê chính thức của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; tài liệu công bố quốc tế của CGAP, ADB, Grameen Bank; các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý và kinh tế đã công bố liên quan đến địa hạt TCVM.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của pháp luật về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Chương 1 tập trung xây dựng nền tảng lý luận về TCVM và khung pháp lý điều chỉnh TCTCVM:

  • Bản chất và đặc trưng của TCVM: TCVM là hoạt động cung ứng dịch vụ tài chính quy mô nhỏ (tín dụng, tiết kiệm, thanh toán, bảo hiểm vi mô) kết hợp dịch vụ phi tài chính cho người nghèo, hộ thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ. Khác với tín dụng thương mại, TCVM kết hợp hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận tự trang trải và sứ mệnh an sinh xã hội, không sử dụng tài sản bảo đảm truyền thống mà thay bằng cơ chế bảo lãnh nhóm, lịch hoàn trả linh hoạt và tiết kiệm bắt buộc.
  • Nhận diện TCTCVM trong hệ thống pháp luật: Tiếp cận quốc tế coi TCTCVM gồm 3 nhóm (chính thức, bán chính thức, phi chính thức). Pháp luật Việt Nam tiếp cận theo phạm vi hẹp: xác định TCTCVM là một loại hình tổ chức tín dụng (theo khoản 5 Điều 4 Luật Các TCTD 2010 và khoản 37 Điều 4 Luật Các TCTD 2024), bắt buộc phải hoạt động dưới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH một thành viên hoặc TNHH hai thành viên trở lên), chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước.
  • Vai trò của TCTCVM: Hỗ trợ khách hàng yếu thế tạo dựng sinh kế, hình thành thói quen tích lũy tài chính; đối với quốc gia, TCTCVM mở rộng diện bao phủ tài chính, hạn chế hoạt động "tín dụng đen" và giảm gánh nặng chi ngân sách cho an sinh xã hội.
  • Cấu trúc pháp luật về TCTCVM: Được cấu thành từ hai phân hệ quy phạm chính: (i) Nhóm quy phạm điều chỉnh cơ cấu tổ chức, bộ máy quản trị, kiểm soát, điều hành và mạng lưới hoạt động; (ii) Nhóm quy phạm điều chỉnh các hoạt động kinh doanh nghiệp vụ và các tỷ lệ bảo đảm an toàn.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Chương 2 đi sâu phân tích toàn diện thực trạng các quy phạm pháp luật hiện hành và đánh giá thực tiễn thi hành:

  • Quá trình phát triển quy định pháp luật: Phân tích bước chuyển từ Nghị định 28/2005/NĐ-CP, Nghị định 165/2007/NĐ-CP, Thông tư 02/2008/TT-NHNN đến khi chính thức luật hóa tại Luật Các TCTD 2010, được hoàn thiện qua hệ thống văn bản hướng dẫn nghiệp vụ (Thông tư 33/2015/TT-NHNN, Thông tư 03/2018/TT-NHNN, Thông tư 19/2019/TT-NHNN) và Luật Các TCTD 2024.
  • Pháp luật về bộ máy quản trị, điều hành và kiểm soát:
    • Hội đồng thành viên (HĐTV): Là cơ quan quản trị. Pháp luật giới hạn số lượng thành viên HĐTV tại TCTCVM một thành viên là từ 05 đến 11 người (Luật 2024 điều chỉnh giảm xuống tối đa 09 người), nhưng lại để trống quy định về số lượng thành viên đối với TCTCVM có từ hai thành viên trở lên.
    • Tổng Giám đốc (Giám đốc): Là người điều hành cao nhất, cư trú tại Việt Nam, đáp ứng tiêu chuẩn chuyên môn và kinh nghiệm nghiêm ngặt (theo Điều 22 Thông tư 03/2018/TT-NHNN). Tác giả chỉ ra bất cập: Tại TCTCVM một thành viên, Tổng Giám đốc do Chủ sở hữu bổ nhiệm nhưng luật chỉ quy định Tổng Giám đốc chịu trách nhiệm trước HĐTV mà không quy định trách nhiệm trực tiếp trước Chủ sở hữu.
    • Ban kiểm soát (BKS): Có tối thiểu 03 thành viên, ít nhất 1/2 là thành viên chuyên trách, nhiệm kỳ tối đa 05 năm. Luật quy định BKS bầu Trưởng ban nhưng chưa quy định quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm Trưởng ban của BKS.
  • Pháp luật về mạng lưới hoạt động: Mạng lưới gồm chi nhánh, phòng giao dịch, văn phòng đại diện và đơn vị sự nghiệp nội địa (Thông tư 19/2019/TT-NHNN). Thẩm quyền cấp phép thuộc Thống đốc NHNN hoặc Giám đốc NHNN chi nhánh cấp tỉnh.
Tiêu chí Đối với TCTCVM hoạt động $\ge$ 12 tháng Đối với TCTCVM hoạt động < 12 tháng
Số lượng chi nhánh tối đa được mở/năm Tối đa không quá 03 chi nhánh Tối đa không quá 02 chi nhánh
Ràng buộc vốn điều lệ thực $03\text{ tỷ VNĐ} \times \text{Tổng số chi nhánh} \le \text{Giá trị thực vốn điều lệ}$ $03\text{ tỷ VNĐ} \times \text{Tổng số chi nhánh} \le \text{Giá trị thực vốn điều lệ}$
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ Không vượt quá 3% tại thời điểm báo cáo Không vượt quá 3% tại thời điểm báo cáo
Kết quả kinh doanh Có lãi theo BCTC kiểm toán năm trước liền kề Có giá trị thực vốn điều lệ $\ge$ vốn pháp định
Quy định phòng giao dịch Một chi nhánh quản lý tối đa 05 phòng giao dịch; chi nhánh quản lý phải hoạt động tối thiểu 12 tháng Phụ thuộc vào năng lực chi nhánh quản lý
  • Thực tiễn áp dụng và hạn chế: Mới chỉ có 04 TCTCVM được cấp phép hoạt động tại 25 tỉnh/thành phố. Việc bắt buộc áp dụng mô hình công ty TNHH khiến các TCTCVM gặp khó khăn trong việc huy động vốn mở rộng quy mô; trần hạn mức cho vay còn thấp; TCTCVM chưa được trực tiếp cung cấp dịch vụ bảo hiểm vi mô mà chỉ dừng lại ở khâu liên kết, đại lý.

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính vi mô ở Việt Nam

Dựa trên các bất cập đã chỉ ra, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:

  • Định hướng hoàn thiện pháp luật: Gắn kết chính sách TCVM với Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa Luật Các tổ chức tín dụng 2024 và các văn bản dưới luật; duy trì cân bằng giữa kiểm soát an toàn hệ thống và tạo độ mở cho TCTCVM tiếp cận thị trường.
  • Giải pháp hoàn thiện quy định về tổ chức, quản trị và mạng lưới:
    • Bổ sung quy định về số lượng tối thiểu và tối đa thành viên HĐTV đối với TCTCVM có từ hai thành viên trở lên nhằm ngăn chặn tình trạng thâu tóm quyền lực nội bộ.
    • Sửa đổi quy định xác lập rõ ràng trách nhiệm giải trình của Tổng Giám đốc trước Chủ sở hữu tại mô hình TCTCVM một thành viên.
    • Bổ sung thẩm quyền bãi nhiệm, miễn nhiệm Trưởng Ban kiểm soát cho tập thể Ban kiểm soát.
  • Giải pháp hoàn thiện quy định về hoạt động kinh doanh: Mở rộng phạm vi huy động vốn; nới lỏng cơ chế liên kết cung cấp bảo hiểm vi mô; từng bước cho phép TCTCVM cung ứng dịch vụ tài khoản thanh toán và trung gian thanh toán quy mô nhỏ.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành: Tăng cường năng lực quản trị rủi ro nội bộ của TCTCVM; đẩy mạnh chương trình giáo dục tài chính cá nhân cho khách hàng thu nhập thấp; nâng cao hiệu lực thanh tra, giám sát chuyên ngành từ phía Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý địa phương.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính dựa trên dữ liệu văn bản:

  • Hệ thống hóa toàn bộ khung pháp lý điều chỉnh TCTCVM từ giai đoạn Nghị định 28/2005/NĐ-CP đến Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024.
  • Đánh giá thực trạng mạng lưới TCTCVM chính thức tại Việt Nam gồm 04 tổ chức với 62 chi nhánh hoạt động trên 25 tỉnh, thành phố.
  • Phân tích cơ chế pháp lý về tỷ lệ an toàn vốn và mạng lưới: định lượng hóa điều kiện vốn mở chi nhánh ($03\text{ tỷ VNĐ} \times \text{số chi nhánh} \le \text{vốn điều lệ thực}$), trần nợ xấu kiểm soát dưới 3%, giới hạn 05 phòng giao dịch/chi nhánh.
  • Dẫn chứng số liệu thực tiễn quốc tế tiêu biểu: Mô hình Ngân hàng Grameen (Bangladesh) đạt doanh số giải ngân lũy kế 37.997,09 triệu USD cho 10,50 triệu thành viên (97% là phụ nữ) với tỷ lệ thu hồi nợ đạt 96,70% (tính đến tháng 01/2024), khẳng định tính khả thi của mô hình tín dụng vi mô tín chấp.

Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Hoàn thiện khoảng trống pháp luật về số lượng thành viên HĐTV đối với TCTCVM có từ hai thành viên trở lên.
  • Điều chỉnh kỹ thuật lập pháp để xử lý mâu thuẫn về thẩm quyền và trách nhiệm của chức danh Tổng Giám đốc đối với Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên.
  • Quy định rõ quyền bãi nhiệm, miễn nhiệm Trưởng Ban kiểm soát của BKS trong Luật Các TCTD và các thông tư hướng dẫn.
  • Mở rộng khuôn khổ cung ứng dịch vụ: xem xét mở rộng nghiệp vụ thanh toán vi mô và nới lỏng hạn mức tín dụng phù hợp với biến động chỉ số giá tiêu dùng.

Đóng góp của khóa luận:

  • Đặt vấn đề nghiên cứu TCTCVM dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên sâu (pháp luật kinh tế - ngân hàng), khắc phục tình trạng phần lớn các đề tài trước đây chỉ tiếp cận dưới lăng kính kinh tế học hoặc xã hội học.
  • Cập nhật và phân tích trực tiếp các điểm mới của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (vừa được thông qua đầu năm 2024) so với các công trình nghiên cứu ở giai đoạn trước (như luận văn năm 2010, 2012 và luận án năm 2016 vốn chỉ dựa trên Luật Các TCTD 2010).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hệ thống TCTCVM chính thức (loại hình tổ chức tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cấp phép), chưa đi sâu phân tích toàn diện các chương trình, dự án TCVM bán chính thức của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ và các quỹ tín dụng nhân dân. Bên cạnh đó, do Luật Các TCTD năm 2024 mới được thông qua và chưa có hiệu lực toàn diện tại thời điểm viết, một số đánh giá thực thi các điều khoản mới dừng ở mức dự báo lập pháp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành các văn bản dưới luật (Nghị định, Thông tư) hướng dẫn Luật Các tổ chức tín dụng 2024 sau khi luật chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2024; nghiên cứu cơ chế pháp lý thử nghiệm (sandbox) cho các mô hình công nghệ tài chính vi mô (Fintech microfinance) và dịch vụ ngân hàng số cho người nghèo.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Tài chính - Ngân hàng, cũng như các nhà nghiên cứu chính sách an sinh xã hội và tài chính toàn diện.
  • Nội dung có giá trị cao: Phần phân tích chi tiết cơ cấu tổ chức quản trị (HĐTV, Tổng Giám đốc, Ban kiểm soát) và các điều kiện thành lập mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch theo Thông tư 19/2019/TT-NHNN; hệ thống đối chiếu điểm mới của Luật Các tổ chức tín dụng 2024 về TCTCVM.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, TCTCVM bắt buộc phải thành lập dưới hình thức pháp lý nào?
TCTCVM tại Việt Nam bắt buộc phải được tổ chức dưới hình thức Công ty trách nhiệm hữu hạn (bao gồm Công ty TNHH một thành viên hoặc Công ty TNHH hai thành viên trở lên), không được chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần hay loại hình doanh nghiệp khác.

2. Điều kiện về vốn để TCTCVM được phép thành lập thêm chi nhánh được tính toán như thế nào?
Theo quy định tại Thông tư 19/2019/TT-NHNN, tổng số lượng chi nhánh đã thành lập và chi nhánh đang đề nghị thành lập phải bảo đảm điều kiện: $03\text{ tỷ đồng} \times \text{số lượng chi nhánh} \le \text{giá trị thực của vốn điều lệ của TCTCVM}$.

3. Khóa luận đã chỉ ra khoảng trống pháp lý nào liên quan đến cơ cấu Hội đồng thành viên của TCTCVM?
Pháp luật hiện hành quy định số lượng thành viên HĐTV tại TCTCVM một thành viên bị giới hạn từ 05 đến 11 người (Luật Các TCTD 2024 giảm xuống tối đa 09 người), nhưng lại không có bất kỳ quy định giới hạn nào về số lượng thành viên HĐTV tối thiểu hay tối đa đối với TCTCVM có từ hai thành viên trở lên.

4. Điểm bất cập trong mối quan hệ quản trị đối với chức danh Tổng Giám đốc TCTCVM một thành viên là gì?
Tổng Giám đốc TCTCVM một thành viên do Chủ sở hữu bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm; tuy nhiên khoản 2 Điều 48 Luật Các TCTD 2010 lại quy định Tổng Giám đốc chịu trách nhiệm trước HĐTV, đồng thời pháp luật thiếu vắng điều khoản xác định nghĩa vụ chịu trách nhiệm trực tiếp của Tổng Giám đốc trước Chủ sở hữu.

5. Cơ cấu và yêu cầu chuyên trách của Ban kiểm soát trong TCTCVM được quy định như thế nào?
Ban kiểm soát của TCTCVM có nhiệm kỳ không quá 05 năm, số lượng thành viên tối thiểu là 03 người và bắt buộc phải bảo đảm ít nhất một phần hai (1/2) tổng số thành viên là thành viên chuyên trách, không đồng thời đảm nhiệm chức vụ, công việc khác tại tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp khác.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Ngọc Mai đã nghiên cứu toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về tổ chức, hoạt động của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam. Công trình đã phân tích sâu sắc cấu trúc quản trị, điều kiện mạng lưới và nhận diện những điểm bất cập, mâu thuẫn quy phạm trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành, đặc biệt đặt trong mối liên hệ so sánh với Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024. Các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi được đề xuất mang tính cụ thể, có giá trị đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế ngân hàng và thúc đẩy chiến lược xóa đói giảm nghèo bền vững.