Tổng quan luận án
Hoạt động tài chính vi mô (TCVM) trên thế giới có nguồn gốc lịch sử từ thời trung cổ tại châu Âu và phát triển mạnh mẽ tại châu Á bắt đầu từ dự án cho vay thí điểm của Giáo sư Muhammad Yunus năm 1976 tại Jobra, tiền thân của Ngân hàng Grameen thành lập năm 1983. Ban đầu, các chương trình TCVM hoạt động dựa trên nguồn tài trợ không hoàn lại với mục tiêu chính là xóa đói giảm nghèo và mở rộng tiếp cận cộng đồng. Tuy nhiên, trong hai thập kỷ gần đây, sự sụt giảm nguồn tài trợ quốc tế đặt ra yêu cầu các tổ chức TCVM phải chính thức hóa mô hình hoạt động để trở thành trung gian tài chính thực sự, huy động vốn từ thị trường để bù đắp chi phí hoạt động. Do đó, việc đạt được hiệu quả tài chính và khả năng tự vững trở thành điều kiện tiên quyết để duy trì sứ mệnh xã hội một cách bền vững.
Tại Việt Nam, sau khi du nhập vào năm 1987, hoạt động TCVM phát triển qua nhiều giai đoạn. Nghị định số 28/2005/NĐ-CP của Chính phủ đã tạo hành lang pháp lý cho làn sóng chuyển đổi từ các chương trình, dự án phi chính phủ sang các tổ chức TCVM chính thức được Ngân hàng Nhà nước cấp phép, khởi đầu là Tổ chức TCVM TNHH MTV Tình Thương (TYM) năm 2010, tiếp theo là Tổ chức TCVM TNHH M7 (M7MFI), Tổ chức TCVM TNHH Thanh Hóa (Thanh Hóa MFI) và Tổ chức TCVM TNHH MTV Cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP). Khi chuyển đổi sang khu vực chính thức, các tổ chức này phải đồng thời thực hiện hai mục tiêu: phục vụ người nghèo và duy trì hiệu quả tài chính để tự trang trải chi phí, tái đầu tư mở rộng. Thực tế giai đoạn 2013 - 2017 cho thấy bên cạnh các kết quả về quy mô và chất lượng tín dụng, các tổ chức còn bộc lộ hạn chế về tốc độ tăng trưởng chưa đồng đều, khả năng sinh lời và mức độ tự vững chưa ổn định, chịu tác động đan xen từ các nhân tố nội tại lẫn môi trường vĩ mô.
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng (Mã số: 9 34 02 01) của tác giả Phan Thị Hồng Thảo, thực hiện tại Học viện Ngân hàng dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đinh Xuân Hạng và PGS. Phạm Thị Hoàng Anh (bảo vệ năm 2019), giải quyết vấn đề nêu trên với các nội dung trọng tâm sau:
- Mục tiêu nghiên cứu tổng quát: Nghiên cứu tập trung tìm kiếm các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của các tổ chức TCVM chính thức tại Việt Nam.
- Mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Hoàn thiện khung lý thuyết về tổ chức TCVM chính thức;
- Xây dựng khung lý thuyết về hiệu quả tài chính của các tổ chức TCVM chính thức;
- Phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả tài chính của các tổ chức TCVM chính thức tại Việt Nam dựa trên bộ tiêu chí xác lập;
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các tổ chức TCVM chính thức tại Việt Nam thông qua mô hình kinh tế lượng;
- Đề xuất hệ thống giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của các tổ chức TCVM chính thức tại Việt Nam đến năm 2030.
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Tổ chức TCVM chính thức là gì? Sự khác biệt giữa tổ chức TCVM chính thức với tổ chức TCVM bán chính thức và phi chính thức? Hoạt động của các tổ chức TCVM chính thức bao gồm những nội dung nào?
- Hiệu quả tài chính của các tổ chức TCVM chính thức được đo lường bởi các tiêu chí nào?
- Nhân tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các tổ chức TCVM chính thức?
- Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả tài chính và nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các tổ chức tài chính vi mô chính thức.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung: Hiệu quả tài chính của các tổ chức TCVM chính thức được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp phép.
- Không gian: 4 tổ chức TCVM chính thức tại Việt Nam gồm: TYM, M7MFI, Thanh Hóa MFI và CEP.
- Thời gian: Phân tích thực trạng trong giai đoạn 2013 - 2017; thu thập dữ liệu định lượng đánh giá các nhân tố ảnh hưởng trong giai đoạn 2008 - 2017 (nhằm bảo đảm tối thiểu 30 quan sát cho mô hình kinh tế lượng); định hướng và giải pháp đề xuất đến năm 2030.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 4 nhóm chủ đề chính:
| Nhóm chủ đề |
Tác giả và công trình tiêu biểu |
Luận điểm chính được trích dẫn |
| Quan điểm về bản chất TCVM |
Ledgerwood (1998); Nguyễn Kim Anh, Lê Thanh Tâm & cs (2013); ADB (2000); Cgap (2012); Trong Vi Ngo (2012); El-Maksoud (2016); Phạm Bích Liên (2016); Nguyễn Thái Hà (2016); Đặng Thu Thủy (2017); Nguyễn Quỳnh Phương (2017). |
Chia thành hai trường phái: (i) TCVM bao gồm cả trung gian tài chính và trung gian xã hội/phi tài chính (Ledgerwood; Nguyễn Kim Anh & cs); (ii) TCVM chỉ tập trung cung cấp các dịch vụ tài chính quy mô nhỏ cho người nghèo (ADB; Cgap; Trong Vi Ngo). |
| Phân loại tổ chức TCVM và mô hình cung cấp |
Ledgerwood (1998); Ledgerwood & cs (2012); Had & cs (2009); Trong Vi Ngo (2012); Masawe (2013); Nguyễn Quỳnh Phương (2017). |
Phân loại theo 3 khu vực (chính thức, bán chính thức, phi chính thức); phân loại theo mức độ chính thức hóa (dựa vào cộng đồng và có tổ chức); phân loại theo mức độ ưu tiên (tiếp cận người nghèo hoặc tự vững tài chính); tiếp cận sản phẩm theo hướng tối thiểu (đơn năng) hoặc tổng hợp (đa năng). |
| Hiệu quả tài chính của NHTM và tổ chức TCVM |
Nguyễn Việt Hùng (2008); Trương Thị Hoài Linh (2012); Tạ Thị Kim Dung (2016); Đặng Thị Minh Nguyệt (2017); Vanroose & cs (2009); El-Maksoud (2016); Njuguna (2013); Afude (2017); Nguyễn Đức Hải (2012); Nguyễn Kim Anh & cs (2014, 2016). |
Xác lập các tiêu chí đo lường: khả năng sinh lời (ROA, ROE), khả năng tự vững (OSS, FSS), chất lượng tài sản và rủi ro (PAR30), hiệu quả chi phí (OER). Các nghiên cứu NHTM nhấn mạnh tỷ suất sinh lời và hiệu quả kỹ thuật; các nghiên cứu TCVM nhấn mạnh tính bền vững tài chính song hành cùng tiếp cận xã hội. |
| Mô hình nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả |
Vanroose & cs (2009); El-Maksoud (2016); Njuguna (2013); Afude (2017); Đặng Thị Minh Nguyệt (2017); Nguyễn Quỳnh Phương (2017). |
Sử dụng các mô hình OLS, Tobit, REM/FEM. Các biến tác động gồm: biến vĩ mô (tăng trưởng GDP, lạm phát, lãi suất, sự phát triển của hệ thống ngân hàng); biến nội tại tổ chức (quy mô tài sản, tuổi, năng suất lao động, đòn bẩy tài chính, cấu trúc vốn, mức độ tiếp cận, chính sách pháp lý). |
Từ việc tổng quan tài liệu, tác giả chỉ ra 4 khoảng trống nghiên cứu cụ thể:
- Khung lý thuyết về tổ chức TCVM chính thức: Chưa có sự thống nhất về định nghĩa và các đặc trưng phân định rõ ràng giữa tổ chức TCVM chính thức với tổ chức bán chính thức và phi chính thức.
- Khung lý thuyết về hiệu quả tài chính của tổ chức TCVM chính thức: Các nghiên cứu trước đây thường gộp chung hiệu quả hoạt động hoặc tách rời hiệu quả tài chính với hiệu quả xã hội mà chưa xây dựng khái niệm riêng cho tổ chức TCVM chính thức.
- Bộ tiêu chí đo lường hiệu quả tài chính: Các bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại không hoàn toàn tương thích với đặc thù TCVM; ngược lại, các nghiên cứu TCVM hiện có chỉ sử dụng một vài chỉ tiêu đơn lẻ. Cần xây dựng bộ tiêu chí toàn diện gồm 3 nhóm: kết quả kinh doanh, hiệu quả tài sản và hiệu quả vốn.
- Mô hình kinh tế lượng đánh giá nhân tố ảnh hưởng: Các nghiên cứu định lượng trước đây thường chỉ xem xét riêng rẽ nhân tố vĩ mô hoặc nhân tố vi mô. Cần thiết lập mô hình tích hợp đồng thời biến môi trường bên ngoài (kinh tế vĩ mô, quy định an toàn, chính sách thuế), biến bên trong (tiếp cận, cấu trúc vốn, hiệu suất cán bộ) và biến kiểm soát hình thức pháp lý tại các tổ chức TCVM chính thức ở Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Luận án kế thừa quan điểm của Ledgerwood (1998), Luật các Tổ chức tín dụng (2017) và định nghĩa: Tổ chức TCVM chính thức là những tổ chức cung ứng dịch vụ TCVM ở khu vực chính thức, hoạt động theo giấy phép của NHTW, chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của người nghèo, người có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ. Khác biệt căn bản của tổ chức TCVM chính thức là chịu sự giám sát an toàn của Ngân hàng Nhà nước, có tư cách pháp nhân, được huy động tiền gửi tiết kiệm tự nguyện và kết hợp mục tiêu phát triển với tự vững tài chính thay vì dựa vào trợ cấp.
Hiệu quả tài chính của tổ chức TCVM chính thức được xác định là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trong hoạt động để đạt được các mục tiêu tài chính, biểu hiện tập trung qua 3 nhóm tiêu chí:
- Nhóm 1 - Kết quả kinh doanh: Lợi nhuận sau thuế (RET), Chỉ số tự vững hoạt động (OSS), Chỉ số tự vững tài chính (FSS), Tỷ lệ chi phí hoạt động (OER).
- Nhóm 2 - Hiệu quả sử dụng tài sản: Tăng trưởng tài sản (RAG), Tăng trưởng dư nợ (RLG), Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tài sản (LTA), Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), Tỷ lệ nợ rủi ro quá hạn 30 ngày (PAR30).
- Nhóm 3 - Hiệu quả sử dụng vốn: Tăng trưởng vốn chủ sở hữu (REG), Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE).
Hoạt động của tổ chức TCVM chính thức tại Việt Nam được phân tích theo cách tiếp cận tối thiểu (đơn năng), tập trung vào các dịch vụ tài chính cốt lõi: huy động tiền gửi (tiết kiệm bắt buộc, tiết kiệm tự nguyện theo tài khoản, hợp đồng, kỳ hạn), hoạt động tín dụng (cấp vốn theo nhóm hoặc cá nhân, thay thế tài sản đảm bảo bằng bảo lãnh nhóm/tiết kiệm bắt buộc), bảo hiểm vi mô và dịch vụ thanh toán, chuyển tiền.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp đồng thời phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
-
Phương pháp định tính:
- Phân tích, tổng hợp lý thuyết: Thu thập, phân loại tài liệu chuyên khảo để hệ thống hóa cơ sở lý luận về TCVM, tổ chức TCVM chính thức và hiệu quả tài chính.
- So sánh và phân tích chỉ số tài chính: Sử dụng các kỹ thuật phân tích xu hướng chuỗi thời gian (so sánh dọc giai đoạn 2013 - 2017) và so sánh ngang với các nhóm đồng đẳng (peer groups) trong nước và quốc tế để làm rõ thực trạng của 4 tổ chức TCVM chính thức.
-
Phương pháp định lượng:
- Mô hình kinh tế lượng: Luận án áp dụng kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng (panel data) bằng mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), sử dụng kiểm định Hausman để chọn mô hình tối ưu.
- Công cụ phân tích: Phần mềm Stata 14.
- Dữ liệu nghiên cứu: Dữ liệu thứ cấp được trích xuất từ Báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động thường niên của 4 tổ chức TCVM chính thức (TYM, M7MFI, Thanh Hóa MFI, CEP), Danh bạ TCVM của Nhóm Công tác TCVM Việt Nam (VMFWG), The Microfinance Information Exchange (The Mix), Tổng cục Thống kê (GSO) và Ngân hàng Thế giới (World Bank) trong giai đoạn 2008 - 2017.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận cơ bản về hiệu quả tài chính của tổ chức tài chính vi mô chính thức
Chương này hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng:
- Lịch sử và bản chất TCVM: Trình bày sự phát triển từ mô hình Grameen đến xu hướng thương mại hóa, khẳng định tính tất yếu của việc chuyển dịch từ phụ thuộc viện trợ sang tự vững tài chính.
- Nhận diện tổ chức TCVM chính thức: Phân tích tiêu chí phân loại tổ chức cung cấp TCVM theo 3 khu vực (chính thức, bán chính thức, phi chính thức) và theo mức độ chính thức hóa. Xác lập 6 đặc trưng cơ bản của tổ chức TCVM chính thức: hình thức pháp lý chịu sự cấp phép/giám sát của Ngân hàng Nhà nước; cơ cấu tổ chức chuẩn hóa; khách hàng trọng tâm là người nghèo và doanh nghiệp vi mô; mục tiêu hoạt động cân bằng kinh doanh và xã hội; danh mục dịch vụ giới hạn theo luật định; cơ cấu vốn đa dạng (đặc biệt có tiền gửi tự nguyện).
- Bộ tiêu chí đo lường và khung phân tích nhân tố: Thiết lập hệ thống 3 nhóm chỉ tiêu tài chính (kết quả kinh doanh, hiệu quả tài sản, hiệu quả vốn) và nhận diện các nhân tố ảnh hưởng gồm: nhóm nhân tố nội tại (quy mô, cấu trúc vốn, mức độ tiếp cận, năng suất lao động/hiệu suất cán bộ) và nhóm nhân tố bên ngoài (tăng trưởng kinh tế, lạm phát, mức độ phát triển của hệ thống ngân hàng, khung khổ pháp lý và thuế).
Chương 2: Thực trạng hiệu quả tài chính của các tổ chức tài chính vi mô chính thức tại Việt Nam
Chương 2 phân tích chi tiết dữ liệu thực tế giai đoạn 2013 - 2017 của 4 tổ chức TCVM chính thức (TYM, CEP, M7MFI, Thanh Hóa MFI):
- Về kết quả kinh doanh: Tăng trưởng quy mô tiết kiệm và dư nợ duy trì ổn định; lợi nhuận sau thuế của các tổ chức có xu hướng tăng nhưng còn chênh lệch lớn giữa các đơn vị (quy mô lớn như CEP, TYM so với quy mô nhỏ như M7MFI, Thanh Hóa MFI). Chỉ số tự vững hoạt động (OSS) phần lớn duy trì trên ngưỡng 100%, tỷ lệ chi phí hoạt động (OER) có xu hướng giảm dần.
- Về hiệu quả sử dụng tài sản: Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tài sản (LTA) đạt mức cao (phản ánh nguồn vốn tập trung chính cho hoạt động cho vay người nghèo); tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) duy trì ở mức dương; tỷ lệ nợ rủi ro quá hạn trên 30 ngày (PAR30) được kiểm soát ở mức rất thấp, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân của các nhóm đồng đẳng quốc tế.
- Về hiệu quả sử dụng vốn: Tăng trưởng vốn chủ sở hữu (REG) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) phản ánh khả năng tích lũy thặng dư để tái cấp vốn cho hoạt động tín dụng vi mô.
Từ kết quả phân tích thực trạng, chương 2 tổng kết 5 kết quả đạt được và 4 hạn chế tồn tại kèm nguyên nhân:
- 5 kết quả đạt được: (1) Quy mô hoạt động tăng trưởng liên tục; (2) Khả năng sinh lời và mức độ tự vững được duy trì ở mức khá; (3) Tỷ lệ chi phí hoạt động có xu hướng giảm; (4) Chất lượng tín dụng tốt với tỷ lệ nợ rủi ro (PAR30) rất thấp; (5) Hiệu quả sử dụng tài sản và vốn được cải thiện.
- 4 hạn chế: (1) Tốc độ tăng trưởng không đồng đều giữa các tổ chức; (2) Khả năng sinh lời và độ tự vững còn dao động, chưa thực sự ổn định; (3) Hiệu quả quản lý chi phí tại một số đơn vị còn thấp; (4) Cơ cấu vốn còn phụ thuộc, tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm tự nguyện chưa cao.
- Nguyên nhân: Do hạn chế về địa bàn hoạt động, mạng lưới chi nhánh, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, trình độ nhân sự, cùng các rào cản về cơ chế pháp lý quản lý chuyên biệt và sự cạnh tranh từ các ngân hàng thương mại, Ngân hàng Chính sách xã hội.
Chương 3: Đánh giá nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của các tổ chức tài chính vi mô chính thức tại Việt Nam thông qua mô hình kinh tế lượng
Chương 3 xây dựng các mô hình kinh tế lượng dựa trên dữ liệu bảng của 4 tổ chức TCVM giai đoạn 2008 - 2017:
- Cấu trúc mô hình: Phát triển từ mô hình gốc của Vanroose & cs (2009), bổ sung các biến đặc thù tại Việt Nam.
- Biến phụ thuộc: Phản ánh 3 nhóm hiệu quả tài chính (kết quả kinh doanh/tự vững: OSS, RET; hiệu quả tài sản: ROA, PAR30, LTA; hiệu quả vốn: ROE).
- Biến độc lập:
- Biến vi mô bên trong: Quy mô tài sản, mức độ tiếp cận (số lượng khách hàng vay, quy mô khoản vay bình quân), cấu trúc vốn (tỷ lệ tiền gửi/vốn chủ sở hữu), hiệu suất cán bộ (năng suất lao động của cán bộ tín dụng).
- Biến vĩ mô và môi trường bên ngoài: Tăng trưởng kinh tế (GDP), tỷ lệ lạm phát (INF), sự phát triển của hệ thống tài chính chính thức, quy định đảm bảo an toàn hoạt động, chính sách thuế.
- Biến kiểm soát: Hình thức pháp lý chuyển đổi.
- Kết quả hồi quy và thảo luận: Luận án thực hiện ước lượng mô hình FEM và REM, kiểm định Hausman để chọn mô hình thích hợp; đánh giá tác động riêng rẽ và kết hợp của các nhóm nhân tố vi mô, vĩ mô đến kết quả kinh doanh, hiệu quả tài sản và hiệu quả vốn, chỉ rõ chiều hướng tác động cùng chiều hoặc ngược chiều của từng biến số lên hiệu quả tài chính của các tổ chức TCVM chính thức.
Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính của các tổ chức tài chính vi mô chính thức tại Việt Nam
Chương 4 đề xuất quan điểm, định hướng đến năm 2030 và thiết lập hệ thống giải pháp:
- Định hướng phát triển: Hoạt động TCVM theo hướng bền vững, mở rộng tài chính toàn diện, nâng cao năng lực cạnh tranh và đảm bảo an toàn hệ thống.
- 7 nhóm giải pháp đối với các tổ chức TCVM chính thức:
- Tăng cường công tác quản trị điều hành, quản lý rủi ro theo quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế;
- Đa dạng hóa và phát triển sản phẩm, dịch vụ theo định hướng thị trường dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại;
- Tăng cường quy mô và cải thiện cấu trúc vốn theo hướng tăng tỷ trọng nguồn vốn tiền gửi và vốn chủ sở hữu;
- Mở rộng địa bàn hoạt động, đa dạng hóa đối tượng khách hàng;
- Nâng cao chất lượng thực hiện quy trình cho vay, đặc biệt là khâu phân tích khách hàng;
- Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin để giảm chi phí hoạt động;
- Nâng cao số lượng và chất lượng nguồn nhân lực.
- 3 nhóm khuyến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước:
- Khuyến nghị với Chính phủ: Hoàn thiện chiến lược phát triển TCVM quốc gia, tạo môi trường pháp lý bình đẳng trong việc cung ứng dịch vụ TCVM giữa các định chế tài chính;
- Khuyến nghị với Ngân hàng Nhà nước: Hoàn thiện quy định về cấp phép, mở rộng mạng lưới phòng giao dịch, nới lỏng các giới hạn về trần huy động/cho vay phù hợp với đặc thù TCVM, tăng cường năng lực giám sát chuyên trách;
- Khuyến nghị với Bộ Tài chính: Xây dựng chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp phù hợp cho các tổ chức TCVM chính thức để hỗ trợ tích lũy vốn tái đầu tư cho mục tiêu an sinh xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Khái niệm: Luận án chuẩn hóa khái niệm về tổ chức TCVM chính thức và xác định nội hàm khái niệm hiệu quả tài chính của tổ chức TCVM chính thức, phân biệt rõ ràng với hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại thông thường và hiệu quả xã hội.
- Bộ tiêu chí đánh giá: Thiết lập bộ tiêu chí đo lường hiệu quả tài chính chuyên biệt cho tổ chức TCVM chính thức gồm 3 nhóm (kết quả kinh doanh, hiệu quả tài sản, hiệu quả vốn), tập trung vào các trụ cột: khả năng tự vững (OSS, FSS), khả năng sinh lời (ROA, ROE) và mức độ an toàn danh mục (PAR30).
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá thực trạng: Phân tích thực trạng tài chính của toàn bộ 4 tổ chức TCVM chính thức tại Việt Nam giai đoạn 2013 - 2017, so sánh đối chuẩn với các nhóm đồng đẳng trong và ngoài nước; xác định rõ 5 thành tựu và 4 hạn chế cốt lõi.
- Mô hình kinh tế lượng: Ứng dụng mô hình dữ liệu bảng (giai đoạn 2008 - 2017), bổ sung các biến đặc thù (tiếp cận, cấu trúc vốn, hiệu suất cán bộ, quy định an toàn, chính sách thuế, hình thức pháp lý) để lượng hóa các nhân tố tác động đến hiệu quả tài chính.
- Giải pháp ứng dụng: Đề xuất hệ thống 7 giải pháp thực thi cho tổ chức TCVM và 3 nhóm khuyến nghị chính sách gửi Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính đến năm 2030, trong đó nhấn mạnh các điểm mới: cơ cấu lại nguồn vốn qua tiền gửi tự nguyện và vốn chủ sở hữu, mở rộng thị trường khách hàng và kiến tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do số lượng tổ chức TCVM chính thức được Ngân hàng Nhà nước cấp phép tại Việt Nam còn hạn chế (chỉ có 4 tổ chức: TYM, M7MFI, Thanh Hóa MFI, CEP), quy mô mẫu nghiên cứu nhỏ buộc tác giả phải mở rộng chuỗi thời gian thu thập dữ liệu định lượng về giai đoạn 2008 - 2017 để bảo đảm số quan sát tối thiểu cho mô hình kinh tế lượng.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Khi tiến trình chính thức hóa các chương trình, dự án TCVM bán chính thức tại Việt Nam được đẩy mạnh, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng quy mô mẫu tổ chức khảo sát, hoặc thực hiện nghiên cứu so sánh liên quốc gia giữa các tổ chức TCVM chính thức tại các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị chuyên môn cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Tham khảo khung lý thuyết, bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả tài chính TCVM và phương pháp ứng dụng mô hình dữ liệu bảng (FEM/REM trên Stata) trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
- Nhà quản trị các tổ chức TCVM: Ứng dụng 7 nhóm giải pháp để cơ cấu lại nguồn vốn, quản trị rủi ro nợ quá hạn (PAR30), cắt giảm tỷ lệ chi phí hoạt động (OER) và nâng cao chỉ số tự vững (OSS).
- Các chương trình, tổ chức TCVM bán chính thức: Tham khảo bài học kinh nghiệm và yêu cầu chuyển đổi pháp lý sang tổ chức chính thức.
- Cơ quan quản lý (Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Tham khảo các khuyến nghị chính sách trong việc sửa đổi quy định cấp phép, trần giao dịch và ưu đãi thuế nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện.
Câu hỏi thường gặp
1. Bốn tổ chức tài chính vi mô chính thức được nghiên cứu trong luận án gồm những đơn vị nào?
Bốn tổ chức được Ngân hàng Nhà nước cấp phép nghiên cứu trong luận án gồm: Tổ chức TCVM TNHH một thành viên Tình Thương (TYM), Tổ chức TCVM TNHH hai thành viên trở lên M7 (M7MFI), Tổ chức TCVM TNHH hai thành viên trở lên Thanh Hóa (Thanh Hóa MFI) và Tổ chức TCVM TNHH một thành viên cho người lao động nghèo tự tạo việc làm (CEP).
2. Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả tài chính của tổ chức TCVM chính thức trong luận án gồm những chỉ tiêu nào?
Bộ tiêu chí được chia thành 3 nhóm: (i) Nhóm kết quả kinh doanh (Lợi nhuận sau thuế - RET, Tự vững hoạt động - OSS, Tự vững tài chính - FSS, Tỷ lệ chi phí hoạt động - OER); (ii) Nhóm hiệu quả tài sản (Tăng trưởng tài sản - RAG, Tăng trưởng dư nợ - RLG, Tỷ lệ dư nợ/tài sản - LTA, Tỷ suất sinh lời tài sản - ROA, Tỷ lệ nợ rủi ro quá hạn 30 ngày - PAR30); (iii) Nhóm hiệu quả vốn (Tăng trưởng vốn chủ sở hữu - REG, Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu - ROE).
3. Vì sao luận án mở rộng thời gian thu thập dữ liệu định lượng từ năm 2008 đến 2017 trong khi phân tích thực trạng tập trung vào giai đoạn 2013 - 2017?
Do tại thời điểm nghiên cứu, Việt Nam chỉ có 4 tổ chức TCVM chính thức được cấp phép. Nếu chỉ lấy dữ liệu giai đoạn 2013 - 2017 thì số lượng quan sát trong bảng dữ liệu không đạt ngưỡng tối thiểu theo thông lệ kinh tế lượng (tối thiểu 30 quan sát). Việc mở rộng thu thập dữ liệu từ 2008 đến 2017 bảo đảm số quan sát để ước lượng mô hình dữ liệu bảng đạt độ tin cậy.
4. Luận án sử dụng mô hình kinh tế lượng và phần mềm nào để phân tích các nhân tố ảnh hưởng?
Luận án sử dụng mô hình hồi quy dữ liệu bảng với mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), kết hợp kiểm định Hausman để chọn mô hình phù hợp, được xử lý trên phần mềm Stata 14.
5. Các nhóm giải pháp chủ yếu được luận án đề xuất là gì?
Luận án đề xuất 7 giải pháp đối với tổ chức TCVM (quản trị rủi ro; phát triển sản phẩm công nghệ; tăng tỷ trọng tiền gửi tự nguyện và vốn chủ sở hữu; mở rộng địa bàn/khách hàng; nâng cao quy trình cho vay; ứng dụng công nghệ giảm chi phí; nâng cao chất lượng nhân sự) và 3 khuyến nghị cơ chế chính sách gửi Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính đến năm 2030.
Kết luận
Luận án của tác giả Phan Thị Hồng Thảo đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức TCVM chính thức và xác lập bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả tài chính phù hợp với đặc thù trung gian tài chính xã hội. Công trình cung cấp bức tranh thực trạng hoạt động của toàn bộ 4 tổ chức TCVM chính thức tại Việt Nam giai đoạn 2013 - 2017, đồng thời định lượng hóa các nhân tố ảnh hưởng qua mô hình dữ liệu bảng giai đoạn 2008 - 2017. Hệ thống 7 giải pháp và 3 khuyến nghị chính sách được xây dựng là cơ sở thực tiễn định hướng nâng cao hiệu quả tài chính và phát triển bền vững hệ thống TCVM chính thức tại Việt Nam đến năm 2030.