Lời mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn được triển khai theo kết cấu 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về các tổ chức tài chính vi mô Chƣơng 2. Thực trạng hoạt động của tổ chức tài chính vi mô chính thức tại Việt Nam Chƣơng 3. Giải pháp phát triển hoạt động của tổ chức tài chính vi mô chính thức tại Việt Nam 6 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH VI MÔ 1. Khái niệm về tổ chức TCVM 1. Định nghĩa Nhóm Tư vấn hỗ trợ người nghèo – CGAP (2003) định nghĩa “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản đáp ứng nhu cầu của người nghèo bao gồm: dịch vụ tiết kiệm, tín dụng, lương hưu, chuyển tiền, bảo hiểm vi mô và các dịch vụ phi tài chính khác cho nhóm người có thu nhập thấp bởi một cơ chế thích hợp, giúp có thể tiến hành sản xuất, phát triển nghề nghiệp, tăng thêm thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống”. ADB (2000) đưa ra khái niệm: “TCVM là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như nhận tiền gửi, cung ứng khoản vay, dịch vụ thanh toán, chuyển tiền và bảo hiểm cho người nghèo, hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ của họ”.
Còn theo Joanna Ledgerwood (2013) cho rằng TCVM được coi là một phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho người dân thu nhập thấp trong xã hội nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính, dịch vụ khác để phục vụ nhu cầu chi tiêu và đầu tư. Như vậy, TCVM có thể hiểu là hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản như tín dụng, TK, bảo hiểm thanh toán, chuyển tiền, và các dịch vụ phi tài chính khác như giáo dục, sức khỏe, giới tính, trợ giúp kĩ thuật, kĩ năng sản xuất nông nghiệp. cho các đối tượng KH có thu nhập thấp, nhóm người yếu thế, dễ bị tổn thương, các doanh nghiệp siêu nhỏ. mà không có khả năng tiếp cận đến với các dịch vụ tài chính chính thức.
Theo Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 09/3/2005 của Chính phủ quy định: “Tổ chức tài chính quy mô nhỏ là tổ chức tài chính hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, với chức năng chủ yếu là sử dụng vốn tự có, vốn vay và tiết kiệm để cung cấp một số dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp”. Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 ở Việt Nam quy định: Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện 7 một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ”. Lịch sử hình thành và phát triển của TCVM 1. Lịch sử hình thành và phát triển của TCVM trên thế giới TCVM được biết đến lần đầu tiên vào những năm đầu thế kỷ thứ 17, với hình thức quỹ tín dụng do Jonathan Swift sáng lập tại Ailen.
Ông đã bỏ ra 500 bảng tiền cá nhân để xoay vòng cho các chủ cửa hàng vay trong lúc khó khăn với điều kiện hai người hàng xóm đứng ra bảo lãnh rằng. Mô hình này được phát triển thành quỹ Irish Loan fund hoạt động mạnh tại Ailen. Đến thế kỷ thứ 19, TCVM đã phát triển khắp các khu vực nông thôn ở Châu Âu dưới các hình thức: Ngân hàng Nhân dân (People’s Bank), Liên hiệp tín dụng (Credit Unions) và Hợp tác xã tín dụng (Savings and Credit Cooperatives). TCVM ở khu vực này chủ yếu hướng tới nhu cầu tìm việc làm cho người thất nghiệp, tạo thêm thu nhập cho người lao động nghèo (nhất là tại Đông Âu, nơi có tình trạng thất nghiệp cao).
Trong đó phải kể đến mô hình do Friedrich Wilhelm Raiffeisen, một người Đức thiết kế và áp dụng từ những năm 1860 cho lĩnh vực nông nghiệp. Tại Mỹ, từ khi Luật Đầu tư Công cộng ra đời vào năm 1977, đã yêu cầu bắt buộc nhiều NHTM phải thực hiện việc đầu tư vào nhóm dân cư nghèo sinh sống tại các khu đô thị, thành phố lớn và cả các vùng nông thôn. Mặc dù phải quan tâm đến TCVM nhưng các ngân hàng, tổ chức tài chính ở Mỹ thường thực hiện các nghiệp vụ TCVM thông qua các NGO, các tổ chức xã hội. Tại châu Mỹ La tinh, người ta thường biết đến sự hoạt động của Tổ chức Accion, Banco Ademi, Finca, Prodem.
Đây là những tổ chức quốc tế có sự hoạt động trên phạm vi nhiều nước. Tại châu Phi, có một hình thức tổ chức của các nhà cung cấp TCVM rất phát triển mang rất nhiều tên gọi khác nhau ở tùy từng nước như Susus, Gamiyas. được hiểu là hiệp hội tín dụng, TK quay vòng. 8 Ở khu vực châu Á, đây là nơi tập trung nhiều người nghèo nhất trên thế giới, hoạt động của các tổ chức TCVM rất phát triển và thành công.
Các mô hình TCVM thành công nhất gồm Grameen Bank (Bangladesh), Nhóm tự quản – SHG (Ấn Độ), Ngân hàng Bank Rakyat Indonesia – BRI (Indonesia). Đặc biệt vào năm 2006 khi tác giả của mô hình Grameen nhận được giải Nobel về Hòa Bình thì hoạt động TCVM thực sự nở rộ. Mô hình Grameen đã trở thành mô hình mẫu cho hoạt động TCVM tại nhiều quốc gia trên thế giới. Thời gian gần đây, TCVM đã phổ biến rộng hơn, nhờ mô hình Grameen Bank được phát triển của Giáo sư Muhammad Yunus, người Bangladesh, mô hình đã có những tác động tích cực trong công cuộc xoá đói giảm nghèo ở nước này và trên thế giới, qua đó cũng làm thay đổi nhận thức của nhiều người về lĩnh vực TCVM.
Lịch sử hình thành và phát triển của TCVM tại Việt Nam Giai đoạn khởi đầu của TCVM ở Việt Nam (trước những năm 1980), TCVM bán chính thức ở Việt Nam ra đời thông qua các chương trình hợp tác, giao lưu về các hoạt động văn hóa, kinh tế, xã hội của các tổ chức quốc tế và Chính phủ Việt Nam. Tất cả các chương trình đều có mục tiêu xóa đói giảm nghèo và bất bình đẳng thu nhập. Một số chương trình, dự án chỉ cung cấp các dịch vụ TCVM, nhưng tại một số chương trình, dự án thì TCVM là một bộ phận trong tổng thể của chương trình, dự án lớn hoặc là một công cụ xã hội nhằm hỗ trợ cho một nhóm đối tượng đặc thù trong một giai đoạn nhất định. Trong giai đoạn đầu, TCVM hoạt động dựa trên khung pháp lý của Nghị định 177-1999/NĐ-CP.
Đến năm 2005, khi Nghị định 28 về tổ chức và hoạt động của tổ chức TCVM quy mô nhỏ ra đời, đã tạo ra khuôn khổ hành lang pháp lý đầu tiên cho các hoạt động TCVM. Vào tháng 10 năm 2010, lần đầu tiên hoạt động TCVM ở Việt Nam được đưa vào trong phạm vi điều chỉnh của Luật các TCTD. Sự ra đời của quyết định số 20/2017/QĐ-TTg quy định về hoạt động của chương trình, dự án TCVM của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, NGO, và những thông tư, nghị định hướng dẫn khác đã đánh dấu mốc phát triển mới của 9 hoạt động TCVM tại Việt Nam. Khung pháp lý ngày càng hoàn thiện đã tạo điều kiện đáng kể đến môi trường phát triển của ngành TCVM Việt Nam.
Lịch sử phát triển TCVM tại Việt Nam Năm Sự kiện Ban chấp hành Trung ương Hội LHPNVN phát động “Phụ nữ giúp nhau 1989 làm kinh tế gia đình” Quỹ Trợ Vốn cho Người lao động nghèo Tự tạo việc làm (CEP) – tổ 1991 chức cung ứng dịch vụ TCVM đầu tiên được thành lập Dự án Quỹ Tình thương (TYM) thuộc Ban Gia đình – Đời sống của Hội 1992 LHPNVN được thành lập 2004 Nhóm công tác TCVM Việt Nam thành lập (VMFWG) Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 8/3/2005 của Chính phủ về tổ chức và 2005 hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam được ban hành Ban Công tác tài chính quy mô nhỏ được thành lập theo Quyết định số 2009 1450/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ Luật TCTD 2010 ra đời, chính thức công nhận các tổ chức TCVM là 6/2010 một loại hình trong hệ thống TCTD chính thức TYM – tổ chức TCVM đầu tiên tại Việt Nam được NHNN cấp phép 8/2010 hoạt động Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 2195/QĐ-TTg năm 2011 12/2011 phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống TCVM tại Việt Nam đến năm 2020 10 Năm Sự kiện Ban Công tác TCVM được thành lập theo Quyết định số 381/QĐ-TTg 3/2014 ngày 18/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ 8/2014 Tổ chức TCVM TNHH Thanh Hóa được NHNN cấp phép hoạt động Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 20/2017/QĐ-TTg quy 6/2017 định về hoạt động của chương trình, dự án TCVM của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ 10/2017 Tổ chức TCVM CEP được NHNN cấp phép hoạt động Nguồn: Do tác giả tự tổng hợp Sau hơn 30 năm hoạt động, TCVM đã được nhìn nhận như một công cụ hữu hiệu thúc đẩy quá trình xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam. Do đó, xây dựng và phát triển hệ thống TCVM an toàn, bền vững hướng đến phục vụ người nghèo, người có thu nhập thấp, các doanh nghiệp siêu nhỏ đã được Chính phủ đánh giá là một trong những mục tiêu trọng tâm đến năm 2020. Đặc điểm của TCVM TCVM là một bộ phận của tài chính nói chung nhưng mục tiêu gắn liền với trách nhiệm xã hội. Các hoạt động cung cấp dịch vụ TCVM hướng tới các hộ gia đình nghèo, những đối tượng có thu nhập thấp, không thể tiếp cận được dịch vụ tài chính của các TCTD.
Các tổ chức TCVM duy trì hoạt động cân bằng giữa trách nhiệm xã hội và khả năng sinh lời. Đây là đặc điểm phân biệt các tổ chức TCVM với các tổ chức hoạt động tài chính khác. Do đối tượng hướng tới là những người có thu nhập thấp, người nghèo, TCVM thường tập trung ở khu vực nông thôn và triển khai thông qua các tổ chức chính trị, xã hội như Hội LHPN hay Liên đoàn lao động. Phương pháp tiếp cận KH thông qua nhóm được sử dụng phổ biến: các chương trình TCVM không cho vay trực tiếp đến từng cá nhân mà thông qua các nhóm như chi Hội phụ nữ.
11 Lãi suất của các tổ chức TCVM thường cao hơn các tổ chức tài chính khác chủ yếu do phương thức cung cấp dịch vụ “tận tay” KH, thủ tục thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng. Ngoài ra, việc duy trì mức lãi suất cao nhằm bù đắp những chi phí trong việc cung cấp dịch vụ phi tài chính. một sản phẩm đặc trưng của TCVM.