Chương 1: Khái quát chung về bảo vệ các quyền dân sự trong hoạt động công chứng. Chương 2: Pháp luật và thực tiễn bảo vệ các quyền dân sự trong hoạt động công chứng tại Việt Nam hiện nay. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ các quyền dân sự trong hoạt động công chứng tại Việt Nam hiện nay. 6 z Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ BẢO VỆ CÁC QUYỀN DÂN SỰ TRONG HOẠT ĐỘNG CÔNG CHỨNG 1.
Một số khái niệm, ý nghĩa, vai trò bảo vệ các quyền dân sự trong hoạt động công chứng 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm công chứng Trên thế giới, thuật ngữ “Notariat” (tiếng Đức), “Notary” (tiếng Anh) “Notaire” (tiếng Pháp) đều có gốc Latinh là Notarius có nghĩa là ghi chép. “Notarius” trong Luật Anh Cổ là một người sao chép hay trích lục các loại văn bản, giấy tờ khác, người làm chứng.
Trong Luật La Mã, Notarius là người ghi chép, thư ký, tốc ký, người ghi chép các hoạt động trong nghị viện của Tòa án hoặc ghi chép theo lời người khác đọc, người soạn các di chúc và giấy chuyển nhượng sở hữu. Vậy công chứng là gì? Theo từ điển Luật học của Mỹ, Notarial (được hiểu là công chứng) là hoạt động của công chứng viên [22, tr.11] với mục đích không chỉ ghi chép lại mà còn được mở rộng hơn, đó là nhằm ghi nhận lại những thông tin cần thiết. Tại Việt Nam, công chứng có nhiều cách định nghĩa thể hiện thông qua việc ghi nhận khái niệm này trong các thời kỳ khác nhau. Công chứng trong giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 được xác lập bằng Sắc lệnh ngày 24/8/1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng được áp dụng ở Đông Dương theo Quyết định ngày 07/10/1931 của Viên Toàn quyền Đông Dương ở Việt Nam.
Theo đó, tại thời điểm này, chỉ có 01 Văn phòng công chứng tại Hà Nội, 03 Văn phòng công chứng tại Sài Gòn và ngoài ra, ở các thành phố như Nam Định, Hải Phòng, Đà Nẵng thì việc công chứng do Chánh lục sử Tòa án sơ thẩm kiêm nhiệm. Có thể coi đây là văn bản pháp lý đầu tiên làm cơ sở cho việc thiết lập hệ thống công chứng ở Việt Nam 7 z trong thời kỳ Pháp thuộc [20, tr. Thuật ngữ “công chứng” và tổ chức hoạt động với danh nghĩa là một tổ chức công chứng lần đầu tiên được chính thức ghi nhận [26]. Tuy nhiên, do điều kiện hoàn cảnh của cuộc kháng chiến thực dân Pháp lúc bấy giờ nên Văn phòng công chứng mới trên không hoạt động hiệu quả [20, tr.
Đến năm 1987, về mặt pháp lý thì thuật ngữ công chứng chính thức được sử dụng với tên gọi là công chứng nhà nước và được xác định là một hoạt động của Nhà nước với mục đích giúp công dân, cơ quan và tổ chức lập và xác nhận các văn bản, sự kiện có ý nghĩa pháp lý, hợp pháp hóa các văn bản, sự kiện đó, làm cho các văn bản, sự kiện đó có hiệu lực thực hiện [4, đoạn đầu tiên]. Về hệ thống thể chế được pháp luật của Nhà nước quy định về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước thì Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/02/1991 là văn bản pháp luật đầy đủ về tổ chức và hoạt động công chứng nhà nước ở Việt Nam [20, tr. Theo đó: Công chứng nhà nước là việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các hợp đồng và giấy tờ đã được công chứng có giá trị chứng cứ [28, Điều 1].
Đến năm 1996, khi Chính phủ ban hành Nghị định số 31/CP thay thế Nghị định số 45/HĐBT thì công chứng cũng được xác định như khái niệm công chứng nhà nước được quy định tại Nghị định số 45/HĐBT nhưng bổ sung một số quy định loại trừ giá trị chứng cứ của hợp đồng, giấy tờ đã được công chứng nhà nước chứng nhận hoặc Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền chứng thực khi bị Tòa án tuyên bố vô hiệu. Chỉ đến khi Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP ngày 08/12/2000 thay thế Nghị định số 31/CP, 8 z khái niệm công chứng mới được xác định khoa học hơn; cụ thể, “công chứng là việc phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại và quan hệ xã hội khác và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định số 75/2000/NĐ-CP”. Đây là lần đầu tiên thuật ngữ pháp lý công chứng độc lập được sử dụng để thay thế cho thuật ngữ pháp lý "công chứng nhà nước" trong các văn bản pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực công chứng trước đó; chủ thể của hoạt động công chứng là Phòng công chứng, không phải công chứng viên. Tóm lại, thông qua ba Nghị định nêu trên, có thể thấy, tổ chức hoạt động công chứng đều xác định công chứng là hoạt động do Nhà nước thực hiện.
Tuy nhiên, quy định về chủ thể của hoạt động công chứng theo Nghị định số 75/2000/NĐ-CP lại không phù hợp với quy định của pháp luật về thẩm quyền công chứng của cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài theo Pháp lệnh Lãnh sự năm 1990 và Nghị định số 75/2000/NĐ-CP (Điều 25). Vì vậy, nhằm khắc phục những bất cập phát sinh, ngày 29/11/2006, Quốc hội thông qua Luật Công chứng số 82/2006/QH11. Công chứng được xác định là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Theo khái niệm này, công chứng là hành vi của công chứng viên (không còn là hành vi của Phòng Công chứng), điều này phân biệt với chứng thực là hành vi của người đại diện của cơ quan hành chính nhà nước; đối tượng của hoạt động công chứng là các hợp đồng, giao dịch về dân sự, kinh tế, thương mại; văn bản công chứng có giá trị chứng cứ do tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đã được công chứng viên xác nhận; các hợp đồng, giao dịch khác được công chứng viên xác nhận sẽ được coi là hợp pháp (có tính hợp pháp) [6].
Tuy nhiên, khi Quốc Hội thông qua 9 z Luật Công chứng số 53/2014/QH13 thì khái niệm công chứng một lần nữa lại tiếp tục được thay đổi. Theo đó, công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Với định nghĩa này, ngoài việc xác định cụ thể hình thức hoạt động hành nghề của công chứng viên tại các tổ chức hành nghề công chứng, Luật Công chứng 2014 còn quy định thêm thẩm quyền của công chứng viên đối với việc chứng nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản; công chứng viên chịu trách nhiệm về nội dung bản dịch mà mình công chứng trước người yêu cầu công chứng, người dịch sẽ chịu trách nhiệm về tính chính xác của bản dịch trước công chứng viên [6, tr. Như vậy, rà soát các quy định về công chứng qua các thời kỳ cho ta thấy nhận thức về công chứng ở các thời kỳ là khác nhau.
Có thời kỳ công chứng được đồng nhất với hoạt động của cơ quan nhà nước. Theo quan điểm của tác giả thì Luật Công chứng năm 2014 đã đưa ra định nghĩa về công chứng tương đối đầy đủ và toàn diện. Theo đó: Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. Khái niệm hoạt động công chứng Hoạt động công chứng xuất hiện là do yêu cầu của việc quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động giao dịch, yêu cầu cung cấp chứng cứ cho hoạt động tài phán [24].
Để thực hiện công chứng, bên cạnh các quy định của pháp luật thì cần có các chủ thể thực hiện trên thực tế. Theo đó, tùy từng thời kỳ khác nhau mà chủ thể thực hiện việc công chứng được định nghĩa và xác định cụ thể về phạm vi hoạt động. Tuy nhiên, về cơ bản, chủ thể thực hiện công chứng là công chứng viên. Công chứng viên là những người được pháp luật trao quyền làm chứng khách quan thông qua một chuỗi các hành vi để thực hiện việc công chứng, theo một thủ tục quy định nhất định nhằm xác nhận, làm chứng chứng thực các giao dịch dân sự, các thỏa thuận theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức hoặc xác minh thẩm định các sự kiện pháp lý như một biên bản ghi nhớ các giao dịch, di chúc hoặc lưu trữ các tài liệu [14, tr.
Về mặt thể chế, công chứng viên là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của Luật Công chứng năm 2014, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề công chứng [15, Điều 2]. Ngoài chủ thể thực hiện, còn có chủ thể yêu cầu công chứng. Theo quy định hiện nay, người yêu cầu công chứng là cá nhân, tổ chức Việt Nam hoặc cá nhân, tổ chức nước ngoài có yêu cầu công chứng hợp đồng, giao dịch, bản dịch theo quy định của Luật Công chứng 2014. Từ đó, theo đó, tác giả cho rằng, “hoạt động công chứng là một chuỗi các hành vi của người yêu cầu công chứng và công chứng viên để thực hiện việc công chứng”.