Chương 1: So sánh quy định của pháp luật quản lý lý lịch tư pháp và cấp lý lịch tư pháp giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Anh Quốc Chương 2: Thực trạng pháp luật quản lý lý lịch tư pháp và cấp lý lịch tư pháp 6 CHƢƠNG 1. SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUẢN LÝ LÝ LỊCH TƢ PHÁP VÀ CẤP LÝ LỊCH TƢ PHÁP GIỮA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ PHÁP LUẬT LIÊN HIỆP VƢƠNG QUỐC ANH 1.1 Lịch sử ra đời và phát triển của pháp luật lý lịch tƣ pháp Việt Nam và Anh Quốc Lịch sử pháp luật về lý lịch tư pháp của Việt Nam bắt đầu khá sớm, bắt đầu từ thời phong kiến nhà Lý năm 1075. Kéo dài cho đến thời Pháp thuộc, tòa án giữ trách nhiệm quản lý và cấp lý lịch tư pháp cá nhân tại phòng lục sự. Thuật ngữ lý lịch tư pháp được chính phủ Bảo Đại chính thức sử dụng trong quy định của pháp luật Việt Nam kể từ tháng 9/1951.
Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2009, công tác quản lý và cấp lý lịch tư pháp được thực hiện theo quy định tại Nghị định và thông tư. Từ ngày 01/7/2010 hoạt động quản lý nhà nước về quản lý lý lịch tư pháp và cấp lý lịch tư pháp được điều chỉnh bằng các văn bản sau: - Luật Lý lịch tư pháp Luật số 28/2009/QH12 về quản lý lý lịch tư pháp; - Nghị định 111/2010/NĐ-CP7 của Chính phủ ngày 23/11/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp; - Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA- 8 BQP ngày 10/5/2012 của Bộ Tư pháp – Tòa án nhân dân tối cao – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Quốc phòng hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp; -Thông tư 63/2011/TT-BCA9 của Bộ Công an ngày 07/9/2011 về biểu mẫu thi hành án hình sự. 7 Nghị định 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Lý lịch tư pháp (sau đây gọi tắt là Nghị định 111/2010/NĐ-CP). 8 Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP8 ngày 10/5/2012 của Bộ Tư pháp – Tòa án nhân dân tối cao – Viện Kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ Công an – Bộ Quốc phòng hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin lý lịch tư pháp (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 04/2012/ TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP).
9 Thông tư 63/2011/TT-BCA. ngày 07/9/2011 về biểu mẫu thi hành án hình sự (sau đây gọi tắt là thông tư 63/2011/TT-BCA). 7 Phạm vi điều chỉnh của Luật Lý lịch tư pháp10 là trình tự, thủ tục cung cấp, tiếp nhận, cập nhật thông tin lý lịch tư pháp; lập Lý lịch tư pháp; tổ chức và quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp; cấp Phiếu Lý lịch tư pháp; quản lý nhà nước về lý lịch tư pháp. Mục tiêu Luật Lý lịch tư pháp11: Đáp ứng yêu cầu cần chứng minh cá nhân có hay không có án tích, có bị cấm hay không bị cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản; Ghi nhận việc xoá án tích, tạo điều kiện cho người đã bị kết án tái hoà nhập cộng đồng; Hỗ trợ hoạt động tố tụng hình sự và thống kê tư pháp hình sự; Hỗ trợ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã.
Luật lý lịch tư pháp vận hành theo 3 nguyên tắc12: Lý lịch tư pháp chỉ được lập trên cơ sở bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; quyết định của Tòa án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản đã có hiệu lực pháp luật; thông tin lý lịch tư pháp phải đầy đủ, chính xác; và bảo đảm tôn trọng bí mật đời tư của cá nhân. Đối tượng chịu sự quản lý về lý lịch tư pháp13: Công dân Việt Nam bị kết án bằng bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật của Toà án Việt Nam, Toà án nước ngoài; Người nước ngoài bị Toà án Việt Nam kết án bằng bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật; Công dân Việt Nam, người nước ngoài bị Toà án Việt Nam cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong quyết định tuyên bố phá sản đã có hiệu lực pháp luật. Các cơ quan Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an, cơ quan thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng và cơ quan, tổ chức có liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin lý lịch tư pháp14. Đối tượng được quyền yêu cầu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp, theo quy định tại Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp, gồm có: Công dân Việt Nam, người nước ngoài đã hoặc đang cư trú tại Việt Nam; Cơ quan tiến hành tố tụng có quyền yêu cầu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử; Cơ quan nhà 10 Điều 1 Luật Lý lịch tư pháp.
11 Điều 3 Luật Lý lịch tư pháp. 12 Điều 4 Luật Lý lịch tư pháp. 13 Điều 5 Luật Lý lịch tư pháp. 14 Điều 6 Luật Lý lịch tư pháp.
8 nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội có quyền yêu cầu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp để phục vụ công tác quản lý nhân sự, hoạt động đăng ký kinh doanh, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã. Hành vi bị cấm trong Luật Lý lịch tư pháp15: Khai thác, sử dụng trái phép, làm sai lệch, hủy hoại dữ liệu lý lịch tư pháp; Cung cấp thông tin lý lịch tư pháp sai sự thật; Giả mạo giấy tờ yêu cầu cấp Phiếu Lý lịch tư pháp; Tẩy xoá, sửa chữa, giả mạo Phiếu Lý lịch tư pháp; Cấp Phiếu Lý lịch tư pháp có nội dung sai sự thật, trái thẩm quyền, không đúng đối tượng; Sử dụng Phiếu Lý lịch tư pháp của người khác trái pháp luật, xâm phạm bí mật đời tư của cá nhân. Thẩm quyền quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và cấp lý lịch tư pháp, theo quy định tại Điều 12 và 13 Luật Lý lịch tư pháp là Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thuộc Bộ Tư pháp và tại Sở Tư pháp. Tại Anh Quốc, các quy định của pháp luật về lý lịch tư pháp được điều chỉnh bởi: - Luật Cảnh sát Anh 1997 (Police Act 1997 criminal record) phần V16.
- Một số luật khác có nội dung điều chỉnh liên quan như: Luật Trẻ em Anh năm 2004 (The Children Act 2004)17; Luật Trẻ em và vị thành niên 1963 (Children and Young Persons Act 1963 chapter 1937)18; Luật Bảo vệ nhóm người dễ bị tổn thương (Safeguarding Vulnerable Groups Act 2006)19; Luật Tái hòa nhập cộng đồng Anh Quốc 1974 (Rehabilitation of Offenders Act 1974)20.2 Một số vấn đề pháp lý liên quan đến lý lịch tƣ pháp 1.1 Về tên gọi lý lịch tư pháp Tại Việt Nam, lý lịch tư pháp được khái niệm tại khoản 1 điều 2 Luật Lý lịch tư pháp, là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của 15 Điều 8 Luật Lý lịch tư pháp. 16 Toàn văn Luật Cảnh sát Anh 1997 phần V Criminal record truy cập tại http://www.uk/ukpga/1997/50/part/V 17 Luật Trẻ em Anh năm 2004 (The Children Act 2004 chapter 31) (sau đây gọi tắt là Luật Trẻ em Anh 2014). 18 Luật Trẻ em và vị thành niên 1963 (Children and Young Persons Act 1963 chapter 1937) (sau đây gọi tắt là Luật Trẻ em và vị thành niên Anh 1963). 19 Luật Bảo vệ nhóm người dễ bị tổn thương (Safeguarding Vulnerable Groups Act 2006 chapter 47) (sau đây gọi tắt là Luật bảo vệ nhóm người dễ bị tổn thương 2006).
20 Luật Tái hòa nhập cộng đồng Anh Quốc 1974 (Rehabilitation of Offenders Act 1974 No 1023) (sau đây gọi tắt là Luật Tái hòa nhập cộng đồng Anh Quốc 1974). 9 Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. Tại Anh Quốc, Luật Cảnh sát Anh 1997 phần 5 có tựa đề là criminal record “lý lịch hình sự”. Tên gọi này chỉ rõ, đích danh những gì sẽ được ghi nhận trong bản lý lịch tư pháp cá nhân : chỉ có những tội hình sự.
Mục đích hướng đến của lý lịch hình sự là ghi nhận án tích của người bị kết án hình sự. Hạn chế một số cá nhân tham gia vào một số nghề nghiệp hoặc giữ một số giấy phép vì lợi ích và an ninh chung của cộng đồng. Về bản chất, lý lịch tư pháp của Việt Nam và lý lịch hình sự của Anh Quốc là tương đồng nhau. Tuy nhiên, tên gọi của các văn bản này là khác nhau.
“Lý lịch hình sự” phản ánh tư duy pháp lý rõ ràng, chính xác của người Anh: ghi nhận tội hình sự của cá nhân. Tên gọi lý lịch tư pháp của Việt Nam đa nghĩa, được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Vì vậy, thông tin ghi nhận trong lý lịch tư pháp bao gồm cả quyết định hành chính của tòa án cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. Hoặc, trong báo cáo dự thảo lần 1 “Những định hướng lớn xây dựng dự án Luật Lý lịch tư pháp sửa đổi” trình Chính phủ của Bộ Tư pháp tháng 8 năm 2016 của Bộ Tư pháp có đề xuất bổ sung đối tượng quản lý lý lịch tư pháp là pháp nhân thương mại phạm tội.
Mặc dù, đề xuất trên đã tạo ra nhiều ý kiến tranh luận trái chiều về sự phù hợp và mục đích quản lý nhà nước, nhưng rõ ràng đề xuất là phù hợp với tên gọi Luật lý lịch tư pháp21.2 Về cơ quan có thẩm quyền cấp lý lịch tư pháp Tại Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền cấp lý lịch tư pháp là trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia trực thuộc Bộ Tư pháp và các Sở Tư pháp địa phương, theo quy định tại Điều 44 Luật Lý lịch tư pháp. Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia cấp lý lịch tư pháp cho các trường hợp sau: công dân Việt Nam mà không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú; người nước ngoài đã cư trú tại Việt Nam.