Mở đầu Phần 2: Nội dung Phần 3: Kết luận Phần nội dung, chia làm ba chương với các nội dung chính sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn - Cơ sở lí thuyết cơ bản liên quan đến đề tài: Khái quát về câu, nghĩa của câu, NTT và NTTĐG. Sơ lược về từ, tổ hợp từ, cặp từ, cặp tổ hợp từ, từ loại. - Cơ sở thực tiễn là vấn đề dạy học truyện và kí, dạy học NTT và giáo dục văn hóa cho học sinh ở trường THPT Chƣơng 2: Các phƣơng tiện, các sắc thái nghĩa tình thái đánh giá của câu trong những văn bản truyện và kí Trong chương này, chúng tôi thống kê các phương tiện biểu thị NTTĐG, phân loại các sắc thái đánh giá theo hai nhóm: sắc thái đánh giá về lượng; sắc thái đánh giá về chất. Chƣơng 3: Vận dụng nghĩa tình thái đánh giá vào việc dạy học Ngữ văn ở trƣờng trung học phổ thông Trong chương này, luận văn tập trung phân tích những ứng dụng của NTTĐG vào việc dạy Văn học, Tiếng Việt và giáo dục văn hóa cho học sinh THPT.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1. Sơ lƣợc về câu xét trên hai bình diện cấu trúc và ngữ nghĩa 1. Khái niệm câu và thuật ngữ câu 1. Khái niệm câu Sau khi khảo sát các tài liệu khác nhau về định nghĩa câu, chúng tôi thấy nổi lên năm khuynh hướng chính: định nghĩa câu dựa vào mặt ý nghĩa; định nghĩa câu dựa riêng vào mặt hình thức; định nghĩa câu dựa vào cả mặt ý nghĩa và hình thức; định nghĩa câu dựa vào khối lượng và chức năng; khuynh hướng định nghĩa câu tổng hợp toàn diện.
Trong khuynh hướng cuối này nổi bật là hai định nghĩa: - Tác giả Diệp Quang Ban đã đưa ra định nghĩa: “Câu là đơn vị ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [3, tr. - Tác giả Nguyễn Như Ý cho rằng câu là: " Phạm trù ngữ pháp cơ bản của cú pháp học. Nó là đơn vị độc lập nhỏ nhất của lời nói, đơn vị hiện thực của giao tiếp được cấu tạo từ từ và ngữ theo quy luật ngữ pháp và ngữ điệu của một ngôn ngữ, là đơn vị cơ bản để hình thành, thể hiện và thông báo ý nghĩa, cảm xúc với thực tại và mối quan hệ của chúng với người nói" [46, tr.
- Tác giả Nguyễn Thị Nhung trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt cho rằng: trong các khuynh hướng trên, hai khuynh hướng định nghĩa cần chú ý hơn cả là: + Định nghĩa giúp phân biệt câu với những đơn vị nhỏ hơn và lớn hơn nó. Đó là: Câu là đơn vị thông báo nhỏ nhất. Chức năng thông báo giúp phân biệt câu với đơn vị nhỏ hơn là từ, tính chất nhỏ nhất trong số các đơn vị thông báo giúp phân biệt câu với đơn những đơn vị lớn hơn là đoạn văn và văn bản. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Định nghĩa đem lại cái nhìn toàn diện về câu, có thể phát biểu là: “Câu là đơn vị ngôn ngữ được tạo ra trong quá trình tư duy và giao tiếp, do các từ, ngữ trực tiếp tạo thành theo một quy tắc ngữ pháp, sử dụng một ngữ điệu kết thúc nhất định, thường biểu đạt một sự tình thường kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói.
Câu đồng thời là đơn vị lời nói nhỏ nhất có chức năng thông báo” [31, tr. Định nghĩa này giúp thấy được những nét khái quát về các mặt: sự hình thành, hình thức, nội dung và chức năng của câu. Vì vậy để phục vụ cho việc nghiên cứu nghĩa của câu mà cụ thể là NTT của câu trong luận văn này, chúng tôi theo quan niệm về câu của tác giả Nguyễn Thị Nhung. Về thuật ngữ câu trong luận văn Giới nghiên cứu ngôn ngữ học lâu nay vẫn phân biệt câu với phát ngôn.
Câu theo nghĩa khắt khe của nó, được coi là một đơn vị trừu tượng của hệ thống ngôn ngữ. Nó chỉ có thể được nhận thức thông qua các biến thể trong lời nói, đó là phát ngôn. Vậy phát ngôn là đơn vị hiện thực của câu. Trong luận văn này, đối tượng khảo sát là những đơn vị hiện thực nói trên, nhưng đồng thời nó cũng là đơn vị có khi được nhìn nhận ở mặt tĩnh tại, khái quát của nó.
Chúng tôi chọn thuật ngữ thông dụng là câu để gọi tên đối tượng mang NTT được nghiên cứu trong câu. Có thể coi đây là câu hiểu theo nghĩa rộng, bao hàm cả hai loại đơn vị được phân biệt nói trên. Trong luận văn, ở những trích dẫn ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, đôi khi, đối tượng này vẫn được gọi là phát ngôn. Sơ lƣợc về câu xét trên bình diện cấu trúc 1.
Thành phần câu Thành phần câu là những bộ phận trực tiếp tạo nên cấu trúc ngữ pháp của câu. Tâm điểm của cấu trúc ngữ pháp câu là nòng cốt câu. Đó là thành phần đảm bảo cho câu được trọn nghĩa và độc lập về ngữ pháp. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Dựa vào quan hệ với nòng cốt câu, có thể chia thành phần câu làm hai nhóm: - Các thành phần chính: là những thành phần trực tiếp tạo nên nòng cốt câu, việc lược bỏ sẽ ảnh hưởng tới tính độc lập của câu; trong trường hợp bình thường, bao gồm chủ ngữ, vị ngữ.
+ Chủ ngữ: là một trong hai thành phần chính của câu, có quan hệ trực tiếp, chặt chẽ, qua lại và quy định lẫn nhau với vị ngữ, chỉ đối tượng có đặc trưng hoặc quan hệ được nói đến ở vị ngữ. Ví dụ (1): Tôi là học sinh. + Vị ngữ: là một trong hai thành phần chính của câu, có quan hệ trực tiếp, chặt chẽ, qua lại và quy định lẫn nhau với chủ ngữ, chỉ đặc trưng hoặc quan hệ của đối tượng được nói đến ở chủ ngữ. Ví dụ (2): Tôi đang học bài.
- Các thành phần phụ: là thành phần không đóng vai trò quyết định đối với tính trọn vẹn về nghĩa, độc lập về ngữ pháp của câu, nó có quan hệ với cả nòng cốt câu để bổ sung cho nòng cốt câu một ý nghĩa nào đó, việc lược bỏ không ảnh hưởng tới tính độc lập của câu. Thành phần phụ của câu bao gồm: trạng ngữ, khởi ngữ, tình thái ngữ, hô ngữ, liên ngữ, phụ chú ngữ. Trong đó thành phần tình thái ngữ có vai trò rất quan trọng đối việc xác định và biểu thị NTT nói chung và NTTĐG nói riêng. Tình thái ngữ được hiểu là một bộ phận phụ của câu dùng để thể hiện mục đích nói, ý kiến, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với sự việc được nói đến trong câu và quan hệ, thái độ của người nói đối với người nghe.
Tình thái ngữ thường do tình thái từ, trợ từ, quán ngữ tình thái đảm nhiệm. Ví dụ (3): Hành thì nhà thị may lại còn. (Nam Cao, Chí Phèo) Tuy nhiên, tình thái ngữ không phải là bộ phận duy nhất trong câu có thể biểu thị NTT. Phân loại câu 1/ Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Nhung, dựa vào cấu trúc, có thể chia câu tiếng Việt thành một hệ thống các nhóm, loại ở các cấp độ khác nhau.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trước hết dựa vào tiêu chí kiểu nòng cốt, có thể chia câu tiếng Việt thành 2 nhóm: nhóm nòng cốt không phải là cụm C- V (gọi là câu đặc biệt) và nhóm nòng cốt là cụm C-V (bao gồm tất cả các kiểu câu còn lại mà chúng tôi tạm gọi là câu bình thường). Dựa vào số lượng nòng cốt, có thể chia nhóm thứ nhất thành câu đặc biệt đơn và câu đặc biệt phức, chia nhóm thứ hai thành 2 kiểu: câu có 1 cụm C-V (gọi là câu đơn) và câu có hai cụm C- V trở lên (gọi là câu phức). Dựa vào quan hệ giữa các cụm C-V, có thể tiếp tục chia câu phức thành câu phức mà quan hệ giữa các cụm C-V là quan hệ bao nhau và câu phức mà quan hệ giữa các cụm C-V là không bao nhau. Loại thứ nhất (gọi là câu phức thành phần) chỉ có một kết cấu C- V làm nòng cốt câu, các kết cấu C-V còn lại giữ vai trò làm thành phần bên trong của nòng cốt câu.
Loại thứ hai (gọi là câu ghép) không kết cấu C-V nào bao kết cấu C-V nào. Ở mỗi kiểu này lại có thể tiếp tục chia thành những kiểu nhỏ hơn nữa. Ngoài ra, dựa vào sự có mặt hay tạm thời vắng mặt của bộ phận nòng cốt, có thể chia câu đơn, câu phức thành 2 kiểu đối lập nhau là câu tỉnh lược và câu không tỉnh lược (31, tr. 2/Phân loại câu theo mục đích nói Dựa vào mục đích nói, câu trong tiếng Việt lâu nay được các nhà Việt ngữ học thống nhất được chia ra thành 4 kiểu: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cảm thán và câu cầu khiến.
- Câu trần thuật được dùng với mục đích tả, kể, trình bày, giới thiệu hay nêu ý kiến (vì thế còn được gọi là câu kể, câu miêu tả). - Câu nghi vấn là câu được người nói dùng để nêu điều mình chưa biết và mong muốn người nghe giải đáp. - Câu cảm thán (hay câu cảm) là câu sử dụng các từ ngữ chuyên biệt để biểu thị những cảm xúc mạnh, đột ngột, có tính bộc phát tức thì của người nói, thường được dùng trong ngôn ngữ sinh hoạt và ngôn ngữ văn chương. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Câu cầu khiến (câu mệnh lệnh, khuyến lệnh) là kiểu câu phân chia theo mục đích nói, có dấu hiệu hình thức riêng nhằm yêu cầu, nhắc nhở, khuyên bảo.người nghe nên/ không nên thực hiện một việc gì đó.
Sơ lƣợc về câu xét trên bình diện ngữ nghĩa 1. Nghĩa của câu Là một đơn vị tín hiệu, câu có đặc tính hai mặt: hình thức và nội dung. Mặt nội dung chính là mặt nghĩa của các đơn vị tín hiệu ngôn ngữ. Theo đó nghĩa của câu là toàn bộ nội dung mà câu biểu thị.
Nghĩa của câu được biểu thị bởi hình thức cấu tạo của câu, còn hình thức cấu tạo của câu được tạo thành bởi các phương tiện từ vựng và các phương tiện ngữ pháp.