CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Từ trước tới nay, người Cơ Tu được giới chuyên môn trong và ngoài nước quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau. Ngoài những công trình, bài viết liên quan đến người Cơ Tu trên phạm vi cả nước còn có một số nghiên cứu đi sâu vào đặc trưng văn hóa của người Cơ Tu tại tỉnh Quảng Nam. Trên cơ sở các nghiên cứu của tác giả đi trước, chúng tôi nhóm các công trình, bài viết theo những vấn đề nghiên cứu khác nhau.
Các công trình nghiên cứu về lý luận nghi lễ vòng đời người 1. Công trình của tác giả nước ngoài Những nghiên cứu lí luận, lí thuyết liên quan đến nghi lễ vòng đời, nghi lễ chuyển đổi phải kể đến là cuốn Nhân học - một quan điểm về tình trạng nhân sinh của Schultz và Lavenda. Theo các tác giả, nghi lễ có 4 yếu tố cơ bản: (1) Nghi lễ là một hoạt động xã hội được lặp đi lặp lại, gồm nhiều động tác được thực hiện có tính chất biểu tượng dưới dạng múa, ca hát, lời nói, điệu bộ, thao tác trên một số đồ vật gì đó…; (2) Nghi lễ thường tách riêng khỏi các hoạt động thường ngày trong xã hội; (3) Nghi lễ theo đúng một mô hình do văn hóa đặt ra. Điều này có nghĩa là các thành viên trong một nền văn hóa nào đó có thể nhận ra nghi lễ cuả một loạt các hoạt động, mặc dù chưa thấy nghi lễ đó bao giờ; (4) Hoạt động nghi lễ liên quan chặt chẽ đến một số tư tưởng thường xuất hiện trong huyền thoại.
Đó có thể là những tư tưởng về bản chất cái xấu, cái ác, về quan hệ giữa con người và thế giới thần linh. Mục đích thực hiện nghi lễ là để hướng dẫn việc lựa chọn tư tưởng nêu trên và thực thi chúng qua biểu tượng [54; tr. Tác phẩm đánh dấu bước ngoặt và có ảnh hưởng đối với những tác giả nước ngoài cũng như các tác giả Việt Nam sau này là cuốn The Rites of Passage – Nghi lễ chuyển đổi. Đây là cuốn sách được xem là sách kinh điển về nghi lễ chuyển đổi tuân thủ theo chu kỳ đời người của các nhà nghiên cứu nhân học.
Nghi lễ chuyển đổi được nhà nhân học Arnold van Gennep phân tích có hệ thống. Ông cho rằng: “Những thay đổi trạng thái (của con người) làm khuấy động cuộc sống xã hội và cuộc sống cá nhân, và chính làm giảm thiểu các tác động có hại của những thay đổi đó mà một số nghi thức chuyển tiếp ra đời” [Arnold van Gennep, 1960: 13]. Theo đó, ông chia các hoạt động liên quan đến nghi lễ thành ba giai đoạn chính: nghi thức phân ly (trước ngưỡng), nghi thức chuyển tiếp (trong ngưỡng) và nghi thức hội nhập (sau ngưỡng). Từ đó, van Gennep định nghĩa các nghi thức chuyển đổi là “các nghi thức đi kèm bất kỳ một sự thay đổi nào về địa điểm, trạng thái, địa vị xã hội và tuổi tác”.
Nghi lễ chuyển đổi đánh dấu sự chuyển đổi của cá nhân trong suốt vòng đời, hợp nhất những kinh nghiệm của con người và kinh nghiệm văn hóa với vận số sinh học: ra đời, trưởng thành, kết hôn, lên lão và chết đi. Mỗi một nghi lễ chuyển đổi, mỗi người chỉ trải qua một lần trong đời, nên nghi lễ này rất quan trọng và đáng nhớ, được tổ chức chu đáo, phản ánh sâu sắc bản chất văn hoá của từng tộc người [48; tr. Ngoài ra, van Gennep cũng đã đề cập đến nghi lễ chuyển đổi của sự chuyển đổi lãnh thổ [territorial passage], những cá nhân gia nhập nhóm, thụ thai và sinh con [pregnancy and childbirth], sự chào đời và tuổi niên thiếu, thành đinh [initiation rites], đính hôn và kết hôn, lễ tang, lễ động thổ và khánh thành, cắt tóc lần đầu, mọc cái răng đầu tiên, bước đi đầu tiên, lần kinh nguyệt đầu tiên, những nghi lễ gắn với sự thay đổi của tháng, mùa, năm, lễ tạ ơn, nghi thức giao mùa, nghi lễ liên quan đến chu kỳ mặt trăng [121]. Trên cơ sở kế thừa công trình The Rites of Passage – Nghi lễ chuyển đổi của Arnold van Gennep, trong công trình The Liminal Period in the Rite de Passage, Turner đã phân tích chi tiết về tình trạng ngưỡng trong các nghi lễ chuyển đổi như: Sinh nở, hôn nhân và tang ma.
Theo ông, trong cuộc đời mỗi con người có ba giai đoạn chuyển đổi: trước ngưỡng, trong ngưỡng và sau ngưỡng [Victor W. Ông đã đã chứng minh việc phân tích biểu tượng và hành vi nghi lễ được sử dụng như chìa khóa để hiểu cấu trúc và tiến trình xã hội. Hiểu được “giai đoạn ngưỡng” của nghi lễ chuyển đổi có thể hiểu được phạm vi bao quát những hiện tượng xã hội [Victor W. Turner, 1969: 2] và “những nghi lễ này có liên quan đến lịch sử và cấu trúc của một xã hội nhất định” [Victor W.
Những công trình về lý thuyết của các tác giả nước ngoài giúp chúng tôi cách tiếp cận kế thừa về phương pháp định tính, tham dự và phỏng vấn cộng đồng. Các lý thuyết được áp dụng trong luận án cũng được kế thừa từ các công trình này như lý thuyết chuyển tiếp, thuyết cấu trúc – chức năng. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước giúp chúng tôi tham khảo về phương pháp nghiên cứu được vận dụng cho luận án là phương pháp nghiên cứu định tính. Công trình của tác giả trong nước Ở Việt Nam, một số tác giả khi nghiên cứu về nghi lễ vòng đời cũng đã tập trung mô tả, giới thuyết về quan niệm, nhân sinh quan, thế giới quan trong các nghi lễ liên quan cuộc đời mỗi con người từ sinh đẻ, trưởng thành, cưới hỏi, lên lão, tang ma.
Trong cuốn Nghi lễ vòng đời người (2000), tác giả Lê Trung Vũ cùng nhóm nghiên cứu đã trình bày chi tiết về các nghi lễ trong chu kỳ vòng đời người. Theo nhóm tác giả, trong những nghi lễ ấy, có nhiều nghi lễ không chỉ gắn với đời sống tâm linh mà còn đánh dấu những chặng đường trưởng thành của mỗi con người, là những kỉ niệm, vai trò, vị thế của mỗi cá nhân sau mỗi nghi lễ mà họ đã trải qua mà mỗi con người trong cuộc đời chỉ trải một lần như: lễ đặt tên, lễ cưới, lễ lên lềnh, lên lão. Trong những nghi lễ này, các tác giả cũng đề cập tới cái thiêng, những kiêng cữ, sự nhất quán trong quan niệm vũ trụ, nhân sinh quan. Trong công trình Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam (2001), nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh đã phác họa bức tranh tín ngưỡng dân gian các dân tộc Việt Nam và mối quan hệ giữa tín ngưỡng và văn hóa trong sinh hoạt văn hóa dân gian.
Qua đó, tác giả cũng đã đi sâu vào việc trình bày một số hình thức văn hóa nghệ thuật dân gian có quan hệ mật thiết với tôn giáo tín ngưỡng. Trong công trình này, tác giả có đề cập tới nghi lễ vòng đời người. Theo tác giả, nghi lễ vòng đời là cách ứng xử của cộng đồng người đối với một cá nhân, cũng là sự ứng xử đối với toàn bộ xã hội và toàn bộ thế giới tự nhiên bao quanh con người. Qua mỗi giai đoạn của cuộc đời, cá nhân đó thực sự có những thay đổi về vai trò, trách nhiệm với gia đình, với xã hôi.
Trong cuốn Nghi lễ vòng đời người (2010), Trương Thìn đã khái quát, giới thiệu các giai đoạn trong chu kỳ đời người (nghi lễ ở thời kỳ phôi thai, từ lúc lọt lòng đến tuổi học trò, hôn lễ, lên lão mừng thọ, qua đời). Tác giả cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa các giai đoạn trong chu kỳ vòng đời người; qua mỗi nghi lễ đều đánh dấu những chặng đường trưởng thành của mỗi con người. Tất cả những nghi lễ là những kỉ niệm mà mỗi con người trong cuộc đời chỉ trải một lần duy nhất. Do đó, khi viết về những nghi lễ, tác giả đã trình bày như nó vốn có.
Rõ ràng những nghi lễ đời người đều có quá trình lịch sử ra đời, phát triển và biến đổi không ngừng. Những công trình lý luận của các tác giả trong nước giúp chúng tôi tham khảo về quan điểm tiếp cận, phương pháp nghiên cứu cũng như cách trình bày các lễ nghi trong chu kỳ vòng đời người, đặc biệt là phong tục tập quán bản địa có ảnh hưởng đến quan niệm, kiêng kỵ trong NLVĐN. Các công trình nghiên cứu về nghi lễ vòng đời người của các tộc người ở Việt Nam Nghi lễ vòng đời người của các tộc người ở Việt Nam đã được nhiều tác giả trong nước quan tâm nghiên cứu. Nhiều công trình, bài viết không chỉ nghiên cứu về hình thức tôn giáo sơ khai của con người mà còn nghiên cứu, tìm hiểu các phong tục tập quán, tín ngưỡng, nghi thức, nghi lễ trong chu kỳ vòng đời người.
Trình bày về nghi lễ vòng đời của người Việt (Kinh) một cách đầy đủ phải kể đến các công trình như: Nhiều tác giả (2000), Phong tục tập quán các dân tộc Việt Nam; Quảng Tuệ (2004), Một số phong tục nghi lễ dân gian truyền thống Việt Nam; Lê Trung Vũ (chủ biên, tái bản, 2007): Nghi lễ vòng đời người; Trương Thìn (2010): Nghi lễ vòng đời người; Thuận Phước (2017), Phong tục dân gian nghi lễ đời người. Nhìn chung các tác giả đã phác thảo một bức tranh tương đối đầy đủ và hệ thống những NLVĐ của người Việt như: Nghi lễ thời kỳ phôi thai từ lúc lọt lòng đến tuổi trưởng thành, hôn lễ, lên lão, qua đời và các lễ tiết trong năm liên quan đến cuộc đời một con người. Ở nhiều công trình khác các tác giả đi vào tìm hiểu, nghiên cứu NLVĐ của từng dân tộc cụ thể. Trong cuốn Phong tục và nghi lễ vòng đời người Khmer Nam Bộ (2002), Trần Văn Bổn phân tích, mô tả khá đầy đủ diện mạo văn hóa của người Khmer về các mặt: Tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội, phong tục tập quán, văn học, nghệ thuật, âm nhạc, nghệ thuật tạo hình.
Cùng viết về đề tài này trong cuốn Nghi lễ vòng đời người Khmer tỉnh Sóc Trăng (2011), Võ Thành Hùng đã trình tương đối đầy đủ về NLVĐ của người Khmer tỉnh Sóc Trăng. Trong các giai đoạn của vòng đời người (sinh nở và nuôi dạy con cái, cưới hỏi, tuổi già, tang tế, thờ cúng) tác giả tập trung phân tích các lễ tục và chỉ ra sự biến đổi của nó. Đặc biệt tác giả đã trình bày về tang ma đối với sư sãi.