Tổng quan luận án
Cộng đồng người Cơ Tu là tộc người thiểu số thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer (ngữ hệ Nam Á), có dân số trên toàn quốc là 74.173 người theo số liệu điều tra dân số năm 2019. Tại tỉnh Quảng Nam, người Cơ Tu tập trung đông nhất với 55.091 người, giữ vị trí thứ hai về dân số sau người Kinh và đóng vai trò chiến lược ở vùng núi phía Tây của tỉnh. Trong đời sống tinh thần, người Cơ Tu còn bảo lưu hệ thống nghi lễ mang đậm dấu ấn nông nghiệp lúa nước. Nghi lễ vòng đời người được xác định là môi trường văn hóa bền vững để lưu giữ tri thức, kinh nghiệm tộc người và củng cố tính cố kết cộng đồng làng bản cũng như gia đình. Dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, nhiều nét văn hóa truyền thống của đồng bào đang đứng trước nguy cơ mai một và biến đổi sâu sắc. Việc nghiên cứu nghi lễ vòng đời người Cơ Tu đáp ứng yêu cầu cấp thiết về lý luận và thực tiễn, bám sát tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI (ngày 09 tháng 06 năm 2014) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ hiện trạng, sự biến đổi, đặc trưng và giá trị của hệ thống nghi lễ vòng đời người Cơ Tu tại tỉnh Quảng Nam.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra gồm:
- Chu kỳ vòng đời người truyền thống của dân tộc Cơ Tu gồm những nghi lễ gì?
- Các nghi lễ trong chu kỳ vòng đời người Cơ Tu tại Quảng Nam biến đổi, nguyên nhân biến đổi như thế nào?
- Những đặc điểm, giá trị và xu hướng biến đổi trong chu kỳ vòng đời người Cơ Tu tại tỉnh Quảng Nam?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu của luận án gồm:
- Nghi lễ vòng đời của người Cơ Tu tại tỉnh Quảng Nam gắn liền với sự thay đổi từng giai đoạn của một đời người. Sau mỗi nghi lễ, vai trò, vị thế, nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân thay đổi.
- Nghi lễ đời người là một yếu tố góp phần gìn giữ giá trị văn hóa truyền thống, hình thành những chuẩn mực đạo đức trong cộng đồng. Mặt khác, nghi lễ trong chu kỳ đời người đã và đang có xu hướng biến đổi do sự tác động của nhiều nguyên nhân khác nhau.
Đối tượng nghiên cứu là nghi lễ vòng đời của người Cơ Tu ở tỉnh Quảng Nam từ truyền thống đến hiện tại, tập trung khảo sát các nghi lễ tồn tại trong thực tế gồm: sinh đẻ, đặt tên, trưởng thành, hôn nhân và tang ma.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Khảo tả nghi lễ truyền thống, phân tích thực trạng và nguyên nhân biến đổi, nhận diện giá trị văn hóa và dự báo xu hướng vận động của nghi lễ vòng đời.
- Về không gian: Tập trung khảo sát thực địa tại ba huyện miền núi tỉnh Quảng Nam là Nam Giang, Đông Giang và Tây Giang. Đồng thời, tác giả mở rộng khảo sát so sánh với một số làng Cơ Tu tại huyện Hòa Vang (thành phố Đà Nẵng) và hai huyện Nam Đông, A Lưới (tỉnh Thừa Thiên Huế).
- Về thời gian: Khung thời gian nghiên cứu tập trung từ năm 1986 đến nay, đặt trong sự so sánh đối chiếu giữa giai đoạn trước và sau dấu mốc Đổi mới năm 1986.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các công trình nghiên cứu lý luận về nghi lễ vòng đời trên thế giới được tác giả điểm lại gồm: nghiên cứu của Schultz và Lavenda (1998) chỉ ra bốn yếu tố cơ bản của nghi lễ; công trình kinh điển The Rites of Passage của Arnold van Gennep (1960) phân chia cấu trúc nghi lễ chuyển tiếp thành ba giai đoạn (trước ngưỡng, trong ngưỡng, sau ngưỡng) gắn với chu kỳ sinh, trưởng thành, tử; công trình The Liminal Period in the Rite de Passage của Victor W. Turner (1969) phân tích tình trạng ngưỡng trong nghi lễ chuyển đổi nhằm nhận diện cấu trúc và tiến trình xã hội. Ở trong nước, các công trình lý luận tiêu biểu gồm: Lê Trung Vũ cùng nhóm nghiên cứu (2000, tái bản 2007) với Nghi lễ vòng đời người; Ngô Đức Thịnh (2001) với Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam; Trương Thìn (2010) với Nghi lễ vòng đời người.
Về nghi lễ vòng đời của các dân tộc tại Việt Nam, tác giả tổng thuật các nghiên cứu về người Kinh của Quảng Tuệ (2004), Thuận Phước (2017); nghiên cứu về người Khmer Nam Bộ của Trần Văn Bổn (2002), Võ Thành Hùng (2011); nghiên cứu về các dân tộc Tây Nguyên của Ngô Đức Thịnh (2006); Trương Bi (2006) về người M’nông; Phan Quốc Anh (2010) về người Chăm Ahiêr; Nguyễn Thị Song Hà (2011) về người Mường; Nguyễn Công Hoan (2011) và Trần Hạnh Minh Phương (2013) về người Hoa; Lâm Nhân (2012) về người Chơ-Ro; Nguyễn Văn Thắng (2014) về người Mảng; Nguyễn Thị Thu Hà (2016) về người Dao Thanh Y; Trịnh Thị Lan (2016) về người Hà Nhì; Lò Xuân Dừa (2016) về người Thái; Vũ Thị Uyên (2019) về người Dao Quần Chẹt. Ngoài ra, hàng loạt bài báo khoa học chuyên ngành của Phan Hữu Dật (1979), Nguyễn Văn Minh (1995), Phạm Quang Hoan (1998), Nguyễn Văn Mạnh (2013), Lê Hải Đăng (2016), Võ Thị Thùy Dung (2017) cũng được phân tích.
Về các công trình nghiên cứu trực tiếp liên quan đến người Cơ Tu:
- Tác giả nước ngoài: Các tài liệu ghi chép sớm của Nancy A. Costello (1972, 1980, 1993) về phong tục, tổ chức xã hội và tục tang ma của người Cơ Tu tại Nam Lào; Le Pichon (1938) với Les chasseurs de sang; L. Bezacier (1912) về tục xăm trán; R. Mole (1970); David Thomas và R. Headley (1970, 1973); Janet Hoskins (1996); Gerald Cannon Hickey (1982) về địa bàn cư trú; J. Hoffet (1933) phân loại nhóm cư dân. Gần đây có các nghiên cứu nhân học của Kaj Arhem (2015, 2016) về thuyết vạn vật hữu linh, tính thiêng của rừng và tập tục hiến tế của người Cơ Tu.
- Thư tịch cổ và tác giả trong nước: Tộc danh và địa bàn cư trú được ghi chép tản mạn trong Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An (1555), Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quý Đôn (1776) và Đại Nam nhất thống chí (1910). Các nghiên cứu hiện đại tập trung vào luật tục của Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Xuân Hồng, Nguyễn Hữu Thông (2001), Bùi Quang Thanh (2015); biểu tượng nghệ thuật, nhà gươl, cột xơnur và nhà mồ của Nguyễn Hữu Thông (2000, 2001), Đinh Hồng Hải (2003, 2011), Trần Tấn Vịnh (2005, 2008), Trần Đức Sáng (2007), Lưu Hùng (2006), Lê Anh Tuấn (2017); văn hóa ứng xử và sinh kế của Nguyễn Thị Cách (2000), Lâm Nhân và Nguyễn Đức Tự (2012), Ngô Văn Lệ (2016); tổ chức xã hội và gia đình của Khổng Diễn (1974), Nguyễn Hữu Thấu (1976), Lưu Hùng (1973, 1995), Đặng Nghiêm Vạn (2005), Phạm Quang Hoan (2005), Phạm Thị Xuân Bốn (2007), Đặng Thị Quốc Anh Đào (2017). Chính tác giả Nguyễn Văn Dũng cũng đã công bố các bài viết bước đầu vào các năm 2016, 2018, 2019.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra: Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào văn hóa vật thể, luật tục, tổ chức xã hội, nghề dệt hoặc hôn nhân gia đình riêng lẻ. Những ghi chép về nghi lễ vòng đời người Cơ Tu phần lớn mới dừng lại ở mức miêu thuật hiện tượng, phân tán, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống chu kỳ đời người của tộc người này dưới góc độ văn hóa học, đặc biệt là việc làm rõ thực trạng biến đổi, nguyên nhân và giá trị của các nghi lễ trong bối cảnh xã hội từ năm 1986 đến nay.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án làm rõ các khái niệm công cụ cơ bản:
- Nghi lễ (Rite): Dẫn chiếu quan điểm của E.B. Tylor, J. Cazeneuve, A. Radugin, E. Durkheim, Victor Turner, Đặng Nghiêm Vạn và Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, xác định nghi lễ là những quy ước, thực hành nghi thức có tính lặp lại của cộng đồng, kết nối đời sống thực tại với thế giới tâm linh thiêng liêng.
- Nghi lễ vòng đời người: Tiếp cận định nghĩa của Arnold van Gennep, Ngô Đức Thịnh, Lê Trung Vũ; coi đây là các nghi thức gắn với từng bước ngoặt sinh học và xã hội của cá nhân từ khi sinh ra đến khi qua đời.
- Phong tục tập quán: Thói quen bền vững hình thành qua lịch sử, tạo nên bản sắc và chuẩn mực hành vi của cộng đồng.
- Giá trị văn hóa: Dẫn định nghĩa của Ngô Đức Thịnh và Trần Ngọc Thêm, xác định giá trị văn hóa là hệ thống các yếu tố do con người sáng tạo để đáp ứng nhu cầu xã hội, là thước đo định hướng hành vi và cố kết cộng đồng.
Hệ thống khung lý thuyết nghiên cứu gồm:
- Lý thuyết nghi lễ chuyển tiếp (Arnold van Gennep, Mary Douglas, Victor Turner): Ứng dụng mô hình ba thời kỳ (trước ngưỡng/phân ly, trong ngưỡng/chuyển tiếp, sau ngưỡng/hội nhập) để phân tích các bước chuyển biến trạng thái xã hội của đời người Cơ Tu qua ba giai đoạn lớn: sinh đẻ, trưởng thành, tang ma.
- Thuyết cấu trúc – chức năng (Talcott Parsons, Radcliffe-Brown, Malinowski): Tiếp cận nghi lễ vòng đời như một tiểu hệ thống văn hóa nằm trong chỉnh thể xã hội Cơ Tu, đáp ứng bốn chức năng của mô hình AGIL (Thích ứng - Adaptation, Hướng đích - Goal Attainment, Liên kết - Integration, Duy trì khuôn mẫu - Latent Pattern Maintenance).
- Quan điểm về biến đổi văn hóa (Robert H. Winthrop, E.B. Tylor, L.H. Morgan): Phân tích văn hóa trong trạng thái vận động, làm rõ sự đan xen giữa các yếu tố truyền thống bản địa và yếu tố mới dưới tác động của giao lưu tiếp biến văn hóa.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp nghiên cứu văn hóa dân gian: Tìm hiểu tín ngưỡng vạn vật hữu linh, phong tục và tri thức dân gian bản địa.
- Phương pháp định tính:
- Quan sát – tham dự: Tác giả trực tiếp tham dự các nghi thức cúng hết ở cữ, đầy tháng, đầy năm, lễ cưới, tang ma, lễ đâm trâu tại các buôn làng.
- Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn già làng, nghệ nhân, trưởng thôn và người dân hiểu biết phong tục từ 40 tuổi trở lên.
- Phỏng vấn hồi cố: Thực hiện với các cá nhân từ 60 tuổi trở lên nhằm khôi phục và hệ thống hóa ký ức về nghi lễ cổ truyền.
- Phỏng vấn chuyên gia: Phỏng vấn các nhà nghiên cứu dân tộc học và cán bộ quản lý là người Cơ Tu từ 45 đến 70 tuổi.
- Phương pháp định lượng: Sử dụng kỹ thuật chọn mẫu phi xác suất theo phương pháp phán đoán, tiến hành phát phiếu điều tra xã hội học với quy mô 150 mẫu tại mỗi huyện (Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang), tổng cộng 450 phiếu khảo sát. Nội dung đo lường gồm: tỷ lệ sinh qua ba thế hệ, hiện tượng đặt tên con, độ tuổi kết hôn, lễ vật thách cưới.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Hệ thống hóa nguồn tư liệu, làm sáng tỏ mối liên hệ giữa các nghi lễ với cấu trúc xã hội tộc người.
Nguồn tư liệu: Luận án sử dụng nguồn tư liệu điền dã dân tộc học sơ cấp do tác giả trực tiếp thu thập tại Nam Giang, Đông Giang, Tây Giang; tư liệu thứ cấp từ tài liệu lưu trữ, sách báo khoa học; kết hợp tư liệu so sánh tại huyện Hòa Vang (Đà Nẵng), A Lưới và Nam Đông (Thừa Thiên Huế).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan, xác lập khung lý thuyết và hệ thống khái niệm công cụ. Đồng thời, tác giả cung cấp bức tranh tổng quát về địa bàn nghiên cứu và cộng đồng người Cơ Tu tỉnh Quảng Nam. Người Cơ Tu phân bố thành ba nhóm địa phương: nhóm Zal (vùng cao), nhóm Âm pâng (vùng giữa) và nhóm Phương/Phương Ếp (vùng thấp). Dân số toàn tỉnh Quảng Nam năm 2019 là 1.495.812 người, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm 139.525 người; người Cơ Tu chiếm 3,2% dân số toàn tỉnh.
| Thành phần dân tộc tại tỉnh Quảng Nam (Năm 2019) |
Tỷ lệ dân số (%) |
| Dân tộc Kinh |
91,1% |
| Dân tộc Cơ Tu |
3,2% |
| Dân tộc Xơ Đăng |
2,7% |
| Dân tộc Gié Triêng |
1,3% |
| Các dân tộc thiểu số khác |
0,9% |
Về phương thức sinh kế, đồng bào chủ yếu canh tác nương rẫy, phụ thuộc vào tài nguyên rừng và nông nghiệp tự cấp tự túc. Đời sống gắn chặt với tín ngưỡng thờ thần linh (Yang), đặc biệt là thần rừng và thần núi. Về văn hóa vật chất, trang phục truyền thống nổi bật với màu đỏ và đen, hoa văn dệt thổ cẩm tung tung và ya yá. Kiến trúc làng truyền thống hình vành khuyên khép kín xoay quanh nhà gươl ở vị trí trung tâm. Về văn hóa tinh thần, người Cơ Tu sở hữu kho tàng diễn xướng dân gian phong phú gồm hát lý (bh-nóoch), hát bơbooch, múa tung tung ya yá, khóc lý (nhim Ca lâu, Ca lênh Aph’uyh). Tổ chức xã hội làng (vêêl) truyền thống vận hành dưới sự điều hành của hội đồng già làng thông qua luật tục. Chương này cũng phân tích dữ liệu hành chính, địa lý và tỷ lệ hộ nghèo tại ba huyện điểm: Tây Giang, Nam Giang và Đông Giang.
Chương 2: Nghi lễ truyền thống trong vòng đời người Cơ Tu ở Quảng Nam
Chương 2 khảo tả hệ thống nghi lễ truyền thống xuyên suốt vòng đời người Cơ Tu theo cấu trúc chuyển tiếp:
- Nghi lễ sinh đẻ: Thể hiện qua các kiêng kỵ nghiêm ngặt đối với thai phụ và người chồng (như kiêng vào rừng cấm, kiêng chạm vào các đồ vật kiêng kỵ). Tiếp đó là tập quán sinh đẻ truyền thống, nghi lễ cắt rốn, lễ cúng thần linh sau sinh, lễ cúng hết ở cữ và nghi thức đặt tên cho đứa trẻ.
- Nghi lễ trưởng thành: Phân tích quan niệm của người Cơ Tu về sự trưởng thành của cá nhân đối với cộng đồng. Thực hành nghi lễ trưởng thành tập trung vào tục cà răng (đẽo, mài răng cửa hàm trên) và tục căng tai (xỏ lỗ và làm rộng dái tai bằng các ống nứa, gỗ). Đây là những dấu chỉ thể xác bắt buộc để cộng đồng thừa nhận tư cách thành viên trưởng thành của nam nữ thanh niên.
- Nghi lễ hôn nhân: Trình bày quan niệm hôn nhân, nguyên tắc ngoại hôn dòng họ và tàn tích liên minh hôn nhân ba thị tộc. Quy trình cưới hỏi truyền thống trải qua nhiều bước chặt chẽ: lễ dạm hỏi, lễ cưới chính thức và lễ lại mặt. Hệ thống sính lễ thách cưới truyền thống mang tính bắt buộc với các tài sản có giá trị lớn như chiêng, ché cổ, hạt cườm, trâu bò, đồ đan lát và nông sản.
- Nghi lễ tang ma: Trình bày quan niệm về cái chết và sự phân tách giữa linh hồn với thể xác để bước sang thế giới tổ tiên. Quy trình tang ma bao gồm: khâu chuẩn bị áo quan, làm nhà mồ, các nghi thức khâm liệm, diễn xướng khóc lý tiễn biệt, lễ đưa tang, nghi thức hạ huyệt và các lễ cúng sau an táng. Đặc biệt, luận án chỉ rõ các quy định kiêng kỵ phức tạp và nghi thức tẩy uế nghiêm ngặt đối với các trường hợp "chết xấu" (chết do tai nạn, chết bất đắc kỳ tử ngoài rừng suối).
Chương 3: Biến đổi của nghi lễ vòng đời người Cơ Tu ở Quảng Nam
Chương 3 phân tích thực trạng và nguyên nhân biến đổi của các nghi lễ vòng đời từ năm 1986 đến nay:
- Biến đổi trong sinh đẻ và trưởng thành: Quan niệm sinh đẻ có sự chuyển dịch rõ rệt; tỷ lệ sinh con giảm dần qua ba thế hệ. Đồng bào đã chuyển từ tập quán tự sinh nở tại nhà sang sinh con tại các cơ sở y tế xã, huyện. Xuất hiện xu hướng đặt tên con theo tiếng phổ thông hoặc lai tiếng nước ngoài (tiếng Hàn Quốc) bên cạnh tên truyền thống tiếng Cơ Tu. Tục cà răng và căng tai đánh dấu tuổi trưởng thành gần như đã bị xóa bỏ hoàn toàn trong thế hệ trẻ.
- Biến đổi trong nghi lễ hôn nhân: Các nguyên tắc hôn nhân truyền thống được nới lỏng; tình trạng tảo hôn giảm dần, độ tuổi kết hôn trung bình của thanh niên tăng lên. Nghi thức cưới hỏi được tinh giản, gọn nhẹ. Lễ vật thách cưới không còn nặng nề về chiêng ché cổ mà chuyển dịch sang quy đổi bằng tiền mặt hoặc các tiện nghi vật chất hiện đại.
- Biến đổi trong tập tục tang ma: Thời gian quàng xác người chết được rút ngắn để bảo đảm vệ sinh môi trường; hủ tục giết mổ nhiều trâu bò trong đám tang giảm bớt; hình thức phúng viếng và cấu trúc nhà mồ có sự kết hợp giữa vật liệu hiện đại (xi măng, tôn) và hoa văn điêu khắc truyền thống.
- Nguyên nhân biến đổi: Được luận án phân tích qua năm nhóm yếu tố chủ yếu gồm:
- Quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa mạnh mẽ giữa người Cơ Tu với người Kinh và các tộc người lân cận.
- Sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương.
- Tác động của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở rộng mạng lưới giao thông liên vùng.
- Sự can thiệp của hệ thống chính sách quản lý nhà nước và phong trào xây dựng nếp sống văn hóa mới.
- Yếu tố chủ quan từ sự nâng cao trình độ dân trí và nhận thức mới của chính cộng đồng người Cơ Tu.
Chương 4: Nghi lễ vòng đời của người Cơ Tu: Đặc điểm, giá trị và bàn luận
Chương 4 đúc kết những đặc điểm và giá trị cốt lõi, đồng thời đưa ra các bàn luận khoa học:
- Đặc điểm: Nghi lễ vòng đời mang đậm dấu ấn của tín ngưỡng vạn vật hữu linh bản địa, sùng kính thần linh (Yang) và gắn bó mật thiết với môi trường rừng núi; đồng thời thể hiện rõ sắc thái văn hóa chung của nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer vùng Trường Sơn – Tây Nguyên.
- Giá trị văn hóa:
- Giá trị xã hội: Củng cố trật tự tổ chức buôn làng, thắt chặt mối quan hệ dòng họ và tinh thần đoàn kết cộng đồng.
- Giá trị giáo dục: Trao truyền tri thức bản địa, kinh nghiệm sống, đạo hiếu và các chuẩn mực đạo đức qua các thế hệ.
- Giá trị nghệ thuật: Bảo tồn không gian diễn xướng dân gian (hát lý, khóc lý, múa tung tung ya yá), nghệ thuật điêu khắc nhà mồ, nhà gươl và kỹ thuật dệt hoa văn thổ cẩm.
- Giá trị nhân văn: Thể hiện qua sự tương trợ cộng đồng, chia sẻ khó khăn và niềm vui giữa các gia đình trong buôn làng.
- Giá trị tâm linh: Đáp ứng nhu cầu giải tỏa tâm lý, tạo điểm tựa niềm tin và cân bằng đời sống tinh thần của cá nhân trước tự nhiên.
- Bàn luận: Tác giả phân tích nhận thức thực tế của người Cơ Tu đối với di sản văn hóa; chỉ rõ sự đan xen giữa xu hướng phai nhạt các nghi lễ truyền thống với xu hướng thích nghi văn hóa để phù hợp với hoàn cảnh mới; đánh giá thực trạng công tác quản lý văn hóa và đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị nghi lễ vòng đời gắn với phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về tư liệu thực địa: Luận án cung cấp hệ thống tư liệu điền dã phong phú, xác thực thu thập trực tiếp tại ba huyện Tây Giang, Đông Giang, Nam Giang tỉnh Quảng Nam, gồm các biên bản phỏng vấn sâu, lời kể hồi cố, các bài hát lý, khóc lý và số liệu điều tra xã hội học.
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
- Khảo tả và hệ thống hóa toàn bộ chu kỳ vòng đời của người Cơ Tu tại Quảng Nam từ giác độ văn hóa học, bổ sung khoảng trống nghiên cứu về nghi lễ tộc người vùng Trường Sơn – Tây Nguyên.
- Vận dụng thành công lý thuyết nghi lễ chuyển tiếp và thuyết cấu trúc – chức năng để lý giải cấu trúc bên trong, ý nghĩa biểu tượng và chức năng xã hội của từng nghi lễ.
- Phân tích rõ thực trạng, cơ chế và các nguyên nhân dẫn đến sự biến đổi của nghi lễ vòng đời người Cơ Tu trong giai đoạn từ sau năm 1986 đến nay.
Kiến nghị và ứng dụng thực tiễn:
- Cung cấp luận cứ khoa học tin cậy giúp các cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Quảng Nam xây dựng chính sách văn hóa và quản lý xã hội phù hợp với phong tục tập quán của đồng bào.
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn có chọn lọc các giá trị nhân văn, loại bỏ các tập tục lạc hậu và phát huy giá trị di sản phục vụ phát triển du lịch văn hóa bền vững.
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu trong các chuyên ngành: Văn hóa học, Dân tộc học, Nhân học và Du lịch học.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài: Do điều kiện nghiên cứu, luận án chỉ tập trung khảo sát các nghi lễ phổ biến và đang tồn tại thực tế (sinh đẻ, đặt tên, trưởng thành, hôn nhân, tang ma) trong mốc thời gian từ sau năm 1986 đến nay; địa bàn khảo sát trọng tâm giới hạn ở ba huyện miền núi Quảng Nam, các địa bàn Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng mới dừng lại ở mức độ so sánh đối chiếu bổ trợ. Luận án chưa có điều kiện khảo sát trực tiếp cộng đồng người Cơ Tu sinh sống tại các tỉnh Nam Lào.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh liên văn hóa xuyên biên giới giữa cộng đồng người Cơ Tu ở Việt Nam với người Cơ Tu tại các tỉnh Xekong, Saravan thuộc Nam Lào.
- Đi sâu nghiên cứu sự khác biệt về nghi lễ và tập quán giữa ba phân nhóm địa phương (Zal, Âm pâng, Phương) trong bối cảnh tác động mạnh mẽ của không gian kinh tế du lịch và đô thị hóa vùng cao.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Dân tộc học, Nhân học, Văn hóa dân gian và Du lịch học khi tìm hiểu về văn hóa tộc người thiểu số miền núi.
- Cán bộ làm công tác quản lý văn hóa, ban dân tộc, chính quyền địa phương các cấp tại tỉnh Quảng Nam và khu vực miền Trung trong việc hoạch định chính sách phát triển văn hóa - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Các nội dung đáng tham khảo nhất gồm: hệ thống tư liệu điền dã thực tế tại ba huyện Nam Giang, Đông Giang, Tây Giang; tư liệu về các bài hát lý, khóc lý nghi lễ; phương pháp kết hợp giữa lý thuyết chuyển tiếp của van Gennep và thuyết cấu trúc - chức năng của Parsons trong phân tích nghi lễ; và bảng câu hỏi điều tra định lượng về biến đổi xã hội.
Câu hỏi thường gặp
1. Chu kỳ vòng đời truyền thống của người Cơ Tu tại Quảng Nam gồm những chặng nghi lễ chính nào?
Chu kỳ vòng đời truyền thống của người Cơ Tu gồm bốn chặng cơ bản: nghi lễ sinh đẻ (chăm sóc thai nghén, cúng sinh con, cúng hết ở cữ, đặt tên); nghi lễ trưởng thành (thực hành nghi thức cà răng và căng tai); nghi lễ hôn nhân (các bước dạm hỏi, cưới xin, sính lễ thách cưới); và nghi lễ tang ma (chuẩn bị áo quan, khóc lý tiễn biệt, hạ huyệt, cúng sau an táng và các kiêng kỵ khi chết xấu).
2. Ý nghĩa và hiện trạng của tục cà răng, căng tai trong nghi lễ trưởng thành là gì?
Trong truyền thống, cà răng (mài, đẽo răng cửa hàm trên) và căng tai (xỏ lỗ và nong dái tai) là dấu chỉ thể xác bắt buộc để cộng đồng công nhận một cá nhân đã chính thức trưởng thành, có đầy đủ tư cách tham gia vào các hoạt động của buôn làng và đủ điều kiện kết hôn. Hiện nay, dưới tác động của hiện đại hóa và giáo dục, tập tục này đã chấm dứt và không còn tồn tại trong thế hệ trẻ Cơ Tu.
3. Khung lý thuyết chủ đạo nào được tác giả sử dụng để tiếp cận nghi lễ vòng đời?
Tác giả sử dụng ba khung lý thuyết chủ đạo: Lý thuyết nghi lễ chuyển tiếp (Arnold van Gennep, Victor Turner) để phân tích cấu trúc ba giai đoạn trước ngưỡng, trong ngưỡng và sau ngưỡng; Thuyết cấu trúc – chức năng (Talcott Parsons) với mô hình bốn yêu cầu AGIL để xem xét chức năng xã hội của nghi lễ; và Quan điểm biến đổi văn hóa (Robert H. Winthrop, E.B. Tylor, L.H. Morgan) để nhận diện sự vận động của văn hóa trong đời sống mới.
4. Khảo sát định lượng của luận án được thực hiện với quy mô và nội dung như thế nào?
Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất theo phán đoán, khảo sát những cá nhân am hiểu phong tục với quy mô 150 mẫu tại mỗi huyện trong ba huyện Tây Giang, Đông Giang và Nam Giang (tổng số 450 mẫu điều tra). Bảng hỏi tập trung đo lường các nội dung: tỷ lệ sinh con qua ba thế hệ, hiện tượng đặt tên con theo tiếng mẹ đẻ hay lai tiếng nước ngoài, độ tuổi kết hôn thực tế và sự thay đổi của sính lễ thách cưới.
5. Những nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến sự biến đổi của nghi lễ vòng đời người Cơ Tu hiện nay?
Luận án chỉ ra năm nguyên nhân chính: quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa với người Kinh và các dân tộc xung quanh; sự chuyển biến về điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương; tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và truyền thông; sự định hướng của các chính sách văn hóa và pháp luật nhà nước; và sự chuyển biến trong nhận thức, trình độ học vấn của chính người Cơ Tu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Dũng là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về nghi lễ vòng đời của người Cơ Tu tại tỉnh Quảng Nam dưới góc độ văn hóa học. Bằng việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành định tính và định lượng trên nguồn tư liệu điền dã thực địa phong phú tại ba huyện Tây Giang, Đông Giang và Nam Giang, luận án đã tái hiện bức tranh chân thực về các nghi lễ truyền thống cũng như thực trạng và nguyên nhân biến đổi của chúng từ sau năm 1986. Công trình khẳng định nghi lễ vòng đời là thành tố cốt lõi lưu giữ bản sắc, cấu kết cộng đồng và biểu đạt các giá trị xã hội, nhân văn sâu sắc của tộc người Cơ Tu. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học có giá trị phục vụ công tác quản lý văn hóa của địa phương và làm tài liệu tham khảo cho hoạt động đào tạo chuyên ngành.