Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ CỞ LÝ LUẬN, KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về tang ma của các tộc người thiểu số từ góc độ nghi lễ chuyển đổi Sau năm 1986, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, việc nghiên cứu tang ma bắt đầu được quan tâm nhiều, những bí ẩn của đời sống tâm linh được chú ý. Từ những biểu hiện cụ thể của nghi lễ, phong tục tập quán diễn ra hàng ngày được các nhà khoa học tìm hiểu, nghiên cứu và giải mã niềm tin sâu xa mà con người gửi gắm vào niềm tin tín ngưỡng.
Do vậy, tang ma của các tộc người thiểu số đã trở thành đối tượng nghiên cứu chính của nhiều công trình khoa học. Tuy nhiên, nghiên cứu về tang ma từ góc độ nghi lễ chuyển đổi không nhiều. Các nghiên cứu về tang ma dưới góc độ nghi lễ chuyển đổi ở Việt Nam chủ yếu là LATS của các tác giả như: Lò Xuân Dừa, Nguyễn Công Hoan, Trần Hạnh Minh Phương, Võ Thanh Bằng, Vũ Thị Uyên, Lê Hải Đăng, v., cụ thể như: LATS VHH của tác giả Lò Xuân Dừa “Tang ma của người Thái: Quy trình nghi lễ để tạo cuộc sống mới cho người chết (trường hợp người Thái Phù Yên, Sơn La)” [16] miêu tả một cách sinh động quy trình các bước chuẩn bị và tổ chức thực hành các nghi lễ trong tang ma, tạo cuộc sống mới cho người chết; cung cấp thêm nguồn tư liệu về vũ trụ quan, quan niệm về cái chết của người Thái, các quy tắc ứng xử trong gia đình, cộng đồng, xã hội trong văn hoá của người Thái; nhận diện rõ hơn về tang ma Thái truyền thống trong đời sống hiện nay. Luận án góp phần phát hiện thêm về bản chất, nguồn gốc quy trình chuẩn bị và thực hành các nghi lễ trong đám tang, đồng thời lý giải những giá trị và chức năng văn hoá do quy trình tổ chức đám tang mang lại trong đời sống xã hội, giúp cho việc định hướng các chính sách văn hoá.
Đây là một công trình nghiên cứu chuyên sâu về tang lễ của người Thái, đặc biệt là thực hành nghi lễ tang ma, giúp tác giả luận án có thêm nguồn tư liệu quý phục vụ cho nghiên cứu của mình. 12 Nghi lễ chuyển đổi của người Hoa Triều Châu ở Nam Bộ, LATS của Nguyễn Công Hoan [33] là một trong số ít công trình nghiên cứu về nghi lễ chuyển đổi của cộng đồng người Hoa ở Việt Nam. Đây là một công trình nghiên cứu trường hợp tại Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang và thành phố Hồ Chí Minh. Tiếp cận lý thuyết nghi lễ chuyển đổi của Arnold Van Gennep, Nguyễn Công Hoan nhận diện các giai đoạn: trước ngưỡng, trong ngưỡng, sau ngưỡng của hai nghi lễ quan trọng nhất trong một đời người là lễ cưới và lễ tang.
Tác giả phân tích vai trò, vị thế xã hội, nghĩa vụ, trách nhiệm của những cá nhân thụ lễ và những người có liên quan trong nghi lễ chuyển đổi, đồng thời chú ý đến mô tả nghi lễ, chỉ ra sự chuyển đổi của cá nhân trong quá trình thực hành nghi lễ. LATS Nghi lễ chuyển đổi của người Hoa Quảng Đông ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay [66] của Trần Hạnh Minh Phương là công trình đề cập đến nghi lễ đánh dấu những bước ngoặt quan trọng của đời người liên quan đến các giai đoạn: sinh ra, trưởng thành, kết hôn, lên lão và mất đi. Tác giả mô tả tiến trình diễn ra các nghi lễ của cá nhân theo hướng tiếp cận cấu trúc của Arnold Van Gennep: trước ngưỡng, trong ngưỡng và sau ngưỡng các nghi lễ theo trình tự của vòng đời người Hoa Quảng Đông bao gồm: lễ đầy tháng, lễ khai học, lễ cưới, lễ mừng thọ và lễ tang. LATS của Vũ Thị Uyên Nghi lễ vòng đời của người Dao Quần Chẹt ở huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội [108] cũng tiếp cận theo lý thuyết nghi lễ chuyển đổi của Arnold Van Gennep.
Trên cơ sở của lý thuyết nghi lễ chuyển đổi, Vũ Thị Uyên xem xét các nghi lễ vòng đời của người Dao Quần Chẹt, xác định đâu là nghi lễ chuyển đổi, sự chuyển đổi đó diễn ra như thế nào, có ý nghĩa gì đối với cá nhân và cộng đồng người Dao Quần Chẹt, từ đó xác định nghi lễ vòng đời người Dao Quần Chẹt mang tính chuyển đổi sâu sắc tương ứng với lý thuyết chuyển đổi của Arnold Van Gennep. Công trình Nghi lễ gia đình của người Thái nhìn từ lý thuyết nghi lễ chuyển tiếp của Lê Hải Đăng [20] phân tích những đặc trưng văn hoá của người Thái qua các ứng xử và thực hành nghi lễ gia đình. Dựa vào lý thuyết nghi lễ chuyển tiếp, tác giả phân tích nghi lễ chuyển tiếp trong tang ma Thái thể hiện rõ các giai đoạn chuyển tiếp (còn gọi là giai đoạn ngưỡng): tiền ngưỡng, ngưỡng, hậu ngưỡng (tái hợp). Nghi lễ tang 13 ma của người Thái thể hiện rõ sự chuyển tiếp địa vị của người chết thành ma nhà hay ma tổ tiên, quy trình thực hành nghi lễ tang ma Thái nhằm chuẩn bị mọi thứ cần thiết cho cuộc hành trình dài trở về thế giới tổ tiên của người chết.
Hầu hết các công trình nghiên cứu kể trên đã dựa vào lý thuyết nghi lễ chuyển đổi của Arnold Van Gennep để xem xét tang lễ và các nghi lễ vòng đời của từng tộc người dưới góc độ nghi lễ chuyển đổi. Các tác giả đã xem xét nghi lễ chuyển đổi dưới dạng nghi lễ gia đình, nghi lễ chu kỳ đời người, phong tục tập quán, chú trọng mô tả trình tự nghi thức và những kiêng kỵ, đề cập đến sự chuyển đổi về vị thế của người thụ lễ, phân tích chức năng của nghi lễ, v. Các công trình nghiên cứu trên đây là nguồn tư liệu tham khảo quý trong quá trình nghiên cứu luận án, giúp tác giả có cách nhìn đa chiều khi tiếp cận nghiên cứu về tang ma của người Tày, đồng thời là cứ liệu để so sánh tang ma, tín ngưỡng của người Tày với tang ma của các tộc người khác ở Việt Nam. Các nghiên cứu về nghi lễ tang ma của người Tày liên quan đến nghi lễ chuyển đổi 1.
Các nghiên cứu giới thiệu về tang ma của người Tày nói chung Người Tày sinh sống chủ yếu ở khu vực miền núi phía Bắc nước ta, trong quá trình phát triển của lịch sử họ di cư đến nhiều vùng miền trong cả nước để sinh cơ lập nghiệp. Việc tìm hiểu văn hoá Tày như nghi lễ vòng đời, trong đó có nghi lễ tang ma đã được các nhà nghiên cứu rất quan tâm từ trước đến nay và chủ yếu tập trung ở miền núi phía Bắc, thể hiện qua nhiều công trình như: Sau cách mạng tháng Tám đến năm 1975, vấn đề nghiên cứu văn hoá các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái nói chung và tang ma của người Tày nói riêng được các học giả Việt Nam quan tâm nhiều hơn, nhiều bài viết nghiên cứu về lĩnh vực này dưới dạng miêu tả phong tục tập quán, nghi lễ đã được công bố trên các tạp chí, sách, báo. Trước hết, có thể kể đến công trình của hai nhà khoa học Lã Văn Lô và Đặng Nghiêm Vạn (1968), Sơ lược giới thiệu các nhóm dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam [47, tr. Trong công trình này, các tác giả tập trung phác hoạ giá trị văn hoá của ba tộc người Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, tang ma được đề cập đến 14 một cách khái quát, chưa có chuyên mục riêng về tang ma của người Tày.
Trong quá trình triển khai đề tài luận án, tác giả tiếp cận những công trình đề cập tới nghi lễ tang ma kể cả trực tiếp và gián tiếp của các cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái ở Việt Nam và các tài liệu liên quan đến tộc người Tày ở miền núi phía Bắc như: Cuốn Văn hoá Tày Nùng [89], của các tác giả Hà Văn Thư, Lã Văn Lô hay công trình Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc [68] do Hoàng Quyết - Tuấn Dũng sưu tầm và biên soạn, công trình Văn hoá dân gian Tày [43] của nhóm tác giả Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Tuấn Anh, v. là những công trình nghiên cứu khá đầy đủ về xã hội, truyền thống văn hoá, con người, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo, văn học dân gian của hai tộc người Tày, Nùng ở Việt Nam. Quan niệm về thế giới ba tầng của người Tày được đề cập rõ trong cuốn Văn hoá dân gian Tày [43], họ gọi thế giới đó theo thứ tự cõi Trên (trời), cõi Giữa (mặt đất) và cõi Dưới (dưới lòng đất); giữa ba cõi chỉ có một điểm khác nhau về hình dạng con người, v. Tuy nhiên, ở công trình này tang ma người Tày mới chỉ được đề cập một cách khái quát, trong khi nghi lễ tang ma của tộc người này ở mỗi địa phương có nhiều điểm khác biệt.
Bế Viết Đẳng và cộng sự biên soạn cuốn Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam [21, tr.212-226] đã dành một phần riêng trình bày những nghi lễ liên quan đến làm ma chay ở trong nhà cũng như cách thức mai táng và hình thức để tang của người Tày, Nùng (chủ yếu ở vùng Việt Bắc). Liên quan đến vấn đề tang ma, công trình mới chỉ tiếp cận dưới dạng các thông báo, từ việc điểm qua về người chết, cách ứng xử với người chết, các lễ thức sau khi chết một cách chung chung mà chưa có phân tích, nghiên cứu chuyên sâu theo từng tộc người cụ thể. Tác giả Đỗ Thúy Bình trong công trình Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam [6, tr.227-254] nghiên cứu về nghi lễ ma chay của ba tộc người Tày, Nùng, Thái, phân tích quan niệm về linh hồn, miêu tả 6 nghi lễ chính trong tang ma của người Tày, Nùng và 4 ngày trong tang ma của người Thái. Trong phần nghiên cứu về người Tày, tác giả mới chỉ tiếp cận nghiên cứu ma chay như một phong tục nghi lễ, chưa có chuyên mục nghiên cứu riêng về tang ma của người Tày.
15 Tuy nhiên, đó là những luận cứ khoa học có giá trị, giúp tác giả luận án có thêm tư liệu so sánh, làm cơ sở để tác giả tiếp cận vấn đề tang ma, đi sâu tìm tòi và hoàn thiện nghiên cứu của mình.