CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu đề tài Ngay khi mới xuất hiện trên thi đàn, các thi sĩ thơ Loạn lập tức nổi lên trong nền thơ ca Việt Nam như là một trong những hiện tượng thơ mang tầm thời đại. Với những cách tân thơ rõ rệt, những thi phẩm của Trường thơ Loạn đã vượt ra ngoài khuôn khổ, thoát khỏi biên độ của cái thông thường, thổi vào thơ Việt Nam đầu thế kỷ XX một luồng gió mới, góp phần quan trọng vào quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc. Điều này khiến cho người yêu thơ phải khâm phục, ngạc nhiên và các nhà nghiên cứu văn học phải ngẫm nghĩ về tài năng nghệ thuật của họ.
Càng ngày, Trường thơ Loạn càng được độc giả quan tâm yêu thích. Sáng tác của Trường thơ Loạn, vì vậy, trở thành đối tượng hướng tới của rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình bằng những phương pháp khoa học mới mẻ. Các công trình nghiên cứu về thơ Loạn được tiếp cận ở nhiều khía cạnh. Xuất phát từ mục đích nghiên cứu, góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà nghiên cứu mải miết kiếm tìm và khám phá được nhiều giá trị trong sáng tác của Trường thơ Loạn, khẳng định được tầm vóc, vị trí, vai trò của các nhà thơ trong nền văn học Việt Nam hiện đại.
Những công trình nghiên cứu về Trường thơ Loạn trước 1945 Từ những ngày phôi thai của phong trào Thơ mới, cuộc tranh luận, bút chiến giữa nội hàm Thơ mới và thơ cũ, giữa phái “nghệ thuật vị nghệ thuật” và phái “nghệ thuật vị nhân sinh” diễn ra rầm rộ trên các báo: Phong hóa, Tri tân, Ngày nay, Hà Nội báo, Phụ nữ tân văn, Tiểu thuyết thứ bảy… Nằm trong mạch nguồn Thơ mới, nhưng phản xạ của dư luận văn nghệ đương thời về Trường thơ Loạn lại khá mờ nhạt, có chăng là những bài viết nhỏ lẻ về từng thi sĩ của trường thơ. Điều này một phần vì Trường thơ Loạn không có cơ quan ngôn luận nào cổ vũ nên sáng tác của họ lúc bấy giờ không gây được tiếng vang. Từ những điểm nhìn khác nhau, văn giới, bạn đọc giải mã “ẩn số” thơ Loạn với không ít tranh cãi, bất đồng. Bằng hướng tiếp cận có phần định kiến, nhiều người phủ nhận gay gắt các tác giả thơ Loạn.
Chính Xuân Diệu sau khi tuyên bố: “Hàn Mặc Tử không phải hạng chân thi sĩ” đã hạ bệ Trường thơ Loạn xuống thành những rên siết của xác thân bệnh hoạn, xem đó 6 như biểu hiện của một thứ suy đồi: “Hãy so sánh thái độ can đảm kia với những cách đột nhiên mà khóc, đột nhiên mà cười, chân vừa nhảy, miệng vừa kêu: Tôi điên đây!. Tôi điên đây!. Điên cũng không dễ như người ta tưởng đâu! Nếu không biết điên tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà lặng yên sống” [14,10]. Đầu năm 1938, trên báo Ích hữu, Trương Tửu có bài “Quan niệm về thơ Chế Lan Viên”.
Ở bài viết này, một mặt Trương Tửu thừa nhận, nhờ vào “nghệ thuật tài hoa” và “trực giác linh mẫn”, Chế Lan Viên “đã hồi sinh được cả một cái đã mất”. Mặt khác, Trương Tửu nhận định thơ tập Điêu tàn là một “trạng thái kì dị của tâm hồn”, từ trạng thái kì dị ấy, Chế Lan Viên hình thành một quan niệm sai lầm và nguy hiểm. Ông công kích việc tác giả lý thuyết hóa cái điên, cái mê của mình trong bài tựa của tập Điêu tàn, bài tựa được Trường thơ Loạn coi như tuyên ngôn thơ của mình: “Chế Lan Viên đã khách quan hóa cái chủ thể của ông. Nên ông lầm.
Vì thi sĩ bao giờ cũng có khuynh hướng chủ quan hóa cái khách thể của sự vật. Ông đã rời bỏ khuynh hướng ấy. Ông đã phản cái bản tính thiên bẩm của mình. Ông có tội với Nàng Thơ” [96,15].
Bên cạnh đó, không thể không nhắc tới những đàm đạo sôi nổi từ các thi hữu của Trường thơ Loạn. Hàn Mặc Tử xem thơ Bích Khê là “một bông hoa lạ nở hương, một thứ hương quý trọng thơm đủ mọi mùi phước lộc. Ta có thể so sánh văn, thơ Bích Khê như đóa hoa thần dị ấy”. Hàn còn gọi Bích Khê là “thi sĩ thần linh” bởi thơ Bích Khê vừa “nhuộm đầy màu sắc của các thi gia đời Đường”, vừa “nhuộm đầy máu huyết Baudelaire”.
Hàn khẳng định thơ Bích Khê gồm ba tính cách khác nhau: tượng trưng, huyền diệu, trụy lạc, trong đó tượng trưng được coi là quan trọng nhất. Ở khu vực thơ tượng trưng, Hàn nhận thấy “Thi sĩ Bích Khê là người có đôi mắt rất thơ, rất mộng, rất ảo” [95,133]. Đây chính là bài viết đầu tiên giới thiệu thơ Bích Khê với độc giả đương thời. Đánh giá về Chế Lan Viên, Nguyễn Vỹ cho rằng thơ Chế nhiều bài cảm động, độc đáo: “Tập Điêu tàn của anh còn để lại một chiếc bóng trong văn học sử Việt Nam, giống như những tháp Chàm trên đất nước Đồ Bàn, còn văng vẳng tiếng nức nở nghìn thu Chiêm nữ hận” [45,28].
Trên báo Người mới, Chế Lan Viên nói về người bạn thơ Hàn Mặc Tử: “… Mai sau, tôi xin hứa hẹn với các người rằng, những cái tầm thường mực thước kia sẽ biến tan đi, và còn lại của cái thời kỳ này, chút gì đáng kể, đó là Hàn Mặc Tử” [97,9]… Những nhận định ưu ái này có thể chưa hoàn toàn thuyết phục được công chúng, nhưng ít ra cũng khai mở một hướng tiếp cận, khiến những người yêu sáng tác của các tác giả thơ Loạn tiêu tốn bao giấy mực để lần tìm đến địa hạt thơ bí ẩn này. 7 Năm 1941, Trần Thanh Mại hoàn thành tập sách: Hàn Mặc Tử - thân thế và thi văn, công trình chuyên khảo đầu tiên về thơ Hàn. Công trình này, tác giả đi sâu vào đời tư và tìm ra được những ảnh hưởng trầm tích văn hóa và vẻ đẹp tự nhiên của quê hương Bình Định góp phần hun đúc và thai nghén thơ Hàn. Cũng như Xuân Diệu, ban đầu Trần Thanh Mại mỉa mai, công kích Hàn Mặc Tử khi nói về âm hưởng thơ tượng trưng trong sáng tác của Hàn: “điên hẳn… còn dễ chịu hơn là những anh chàng cố tình đi vào lối thơ tượng trưng… để vừa che đậy cái dốt của mình, vừa lòe đời bằng một cách lường gạt có tổ chức”.
Nhưng sau đó, tác giả nhìn nhận: “Tôi quả đã vô duyên với thơ Hàn Mặc Tử”, và đánh giá: “Hàn Mặc Tử là người đầu tiên ở thế kỷ XX mở ra một cuộc cải cách lớn cho văn chương Việt Nam thành công một cách vinh quang, rực rỡ”… Thậm chí, khi so sánh với Baudelaire, Edgar Poe và thơ tượng trưng, ông kết luận: “Thiên tài của Hàn Mặc Tử cao hơn tất cả các thiên tài trên thế giới” [53,55]. Dù tồn tại nhiều tranh cãi, nhưng phải thừa nhận, đây là công trình nghiên cứu bài bản “bằng những phương pháp xưa nay chưa từng có trong lịch sử văn học Việt Nam” [60,25]. Việc công trình của Trần Thanh Mại giới thiệu trang trọng Hàn Mặc Tử đã gợi mở cho các nhà phê bình sau này một thông điệp quan trọng trong quá trình khảo cứu, giúp những người yêu văn học dấn thân vào công cuộc khám phá thế giới thơ Hàn, đưa nhà thơ đến rộng khắp công chúng, nhất là lúc bấy giờ độc giả chưa biết nhiều về thi sĩ. Một năm sau, Vũ Ngọc Phan cũng đưa tên tuổi Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên vào Nhà văn hiện đại và tìm ra con đường tiếp cận riêng khi so sánh: “Chế Lan Viên, trái lại không cứng cáp chút nào.
Thơ ông toàn là những tiếng khóc than; ông tả rặt những cái u sầu, ông có giống Hàn Mặc Tử thì chỉ giống ở chỗ hay nhắc đến linh hồn chứ cái sầu của ông là cái sầu não nùng, thê thảm, cái sầu bát ngát, khó khuây. Thật là thứ sầu vong quốc - thứ sầu của dân tộc Chiêm Thành tuy ông không cùng dòng máu với họ” [68,702]. Công phu nhất là các bài viết của Hoài Thanh - Hoài Chân trong Thi nhân Việt Nam. Tác phẩm tổng kết thành quả của phong trào Thơ mới với 45 nhà thơ tiêu biểu mà theo Hoài Thanh “không nhiều thì ít, ở mức độ đậm nhạt khác nhau, đều bị ám ảnh bởi Baudelaire, người đã khơi nguồn thơ ấy (tức thơ tượng trưng - VNN)”.
Cùng với các tên tuổi đương thời khác, Hoài Thanh giới thiệu, đánh giá các nhà thơ chủ chốt của vương quốc thơ Loạn: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê, Yến Lan. Và cũng ở đây, lần đầu tiên cái tên Trường thơ Loạn được một nhà phê bình 8 văn học nhắc đến: “Trái hẳn với lối thơ tả chân, có lối thơ Hàn Mặc Tử - Chế Lan Viên. Cả hai đều chịu rất nặng ảnh hưởng của Baudelaire và qua Baudelaire, ảnh hưởng nhà văn Mỹ Edgar Poe, tác giả Chuyện lạ. Có khác chăng là Chế Lan Viên đã đi từ Baudelaire, Edgar Poe đến thơ Đường, mà Hàn Mặc Tử đã đi ngược lại, từ thơ Đường đến Baudelaire, Edgar Poe và đi thêm một đoạn nữa cho gặp kinh thánh của đạo Thiên chúa.
Cả hai đều cai trị Trường thơ Loạn và chiêu tập một số đồ đệ là Hoàng Diệp, Quỳnh Dao, Xuân Khai (tức Yến Lan - VNN). Tôi vừa nói Chế Lan Viên đi về thơ Đường. Nếu nói đi đến thơ tượng trưng của Pháp có lẽ đúng hơn, tuy hai lối này có chỗ giống nhau. Điều này cũng thấy rất rõ ở các tác phẩm của một người rất gần Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử: Bích Khê”.
Tiếp cận thơ Loạn theo lối phê bình ấn tượng, tác giả Thi nhân Việt Nam thẩm bình, kết tinh sáng tác của họ một cách nhạy bén và sắc sảo. Tuy vậy, Hoài Thanh còn dè dặt khi đánh giá các nhà thơ này. Viết về Bích Khê, có lúc tác giả khẳng định: “Tôi đã bắt gặp ở Tinh huyết những câu thơ hay vào bực nhất trong thơ Việt Nam”, và cho rằng Bích Khê là một trong những nhà thơ “đi đến chỗ mà người ta thường cho là cao nhất của thơ tượng trưng: Mallarmée, Valéry”, rồi lại coi đó là “biệt thự một nhà triệu phú” xa cách và khó thâm nhập, bởi thế “chưa thể nói nhiều về Bích Khê”. Ông đánh giá Hàn Mặc Tử là “một vườn thơ rung rinh không bờ bến, càng đi xa càng thấy lạnh”, nhưng kết thúc bài giới thiệu về thơ Hàn, lại lấp lửng: “Một tác phẩm như thế ta không thể nói hay hay dở”, vì “Chê hay khen tôi đều thấy có gì bất nhẫn”.
Cũng như vậy, đánh giá Điêu tàn, Hoài Thanh xem như “một niềm kinh dị”, “giữa đồng bằng văn học Việt Nam thế kỷ XX, nó đứng sừng sững như một cái tháp Chàm chắc chắn và lẻ loi, bí mật”.