mở đầu cho tuyến truyện về cuộc đấu tranh giành một đứa con trai giữa hai bà mẹ Tiểu sư tử và Trần Mi được viết bằng thể loại kịch. Có thể rút ra công thức kết cấu riêng cho Ếch như sau: Tiểu thuyết = 4 thư + 1 kịch. Sự kết hợp này đã dường như bẻ đôi tác phẩm thành hai phần 20 z hoàn toàn tách biệt, nhưng lại bổ sung nhau thể hiện mối quan hệ biện chứng trong tư duy lôgich của tác giả. Nếu tiểu thuyết trong tuyến truyện đầu thể hiện chất tự truyện thì vở kịch ở tuyến truyện sau lại thể hiện sự hư cấu.
Tự truyện là để giải bày, kịch là để trình diễn. Tự truyện xuất phát từ tình cảm, kịch xuất phát từ lý trí. Tự truyện là thật, kịch là ảo. Vì thế sự lồng ghép thể loại trong tiểu thuyết Ếch là cách làm ảo hóa hiện thực đau lòng của nhân vật ―tôi‖ đã vì cái gọi là ‗tiền đồ‖ của mình mà ―tiễn đưa‖ vợ và đứa con chưa kịp chào đời xuống địa ngục trong phong trào kế hoạch hóa gia đình.
Khi viết kịch, người kể chuyện đã đẩy mình từ vị trí của người kể chuyện sang vị trí của nhân vật hành động. Vì thế, việc lồng ghép thể loại cũng cho thấy sự cố gắng của người kể chuyện nhằm thể hiện một cách khách quan nhất bi kịch của bản thân và dân tộc. Hơn nữa, người kể chuyện còn tâm nguyện rằng, viết kịch ―là một cách chuộc lỗi với cuộc đời‖ Vậy mà sau khi vở kịch hoàn thành, cảm giác tội lỗi trong anh ta không hề giảm nhẹ: ―Có phải một khi tay đã vấy máu thì vĩnh viễn không bao giờ rửa sạch? Có phải một linh hồn bị cảm giác tội lỗi chế ngự thì vĩnh viễn không bao giờ giải thoát‖ [25, tr. Lồng ghép thể loại lúc này đã trở thành một ẩn dụ về khát vọng thoát ra khỏi mặc cảm tội lỗi.
Tiểu thuyết trong thư Thư từ không đơn giản chỉ là một phương tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ viết mà bản thân nó còn chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật. Vì thế, người ta vận dụng nhiều thư từ vào trong tác phẩm văn học. Trong tác phẩm văn học, đặc biệt là trong truyện ngắn và tiểu thuyết, thư từ được sử dụng như một mô típ nghệ thuật. Nó thường sử dụng với mục đích nhấn mạnh tính xác thực, thuyết phục độc giả về vấn đề được đặt ra trong truyện.
Có thư từ là đầu mối của sự kiện, trung tâm của cốt truyện, có những bức thư chỉ xuất hiện vào một thời điểm nào đó trong tiến trình của câu chuyện, như 21 z Bà Bôvary của G. Flaubert, Đỏ và Đen của Stendhal, Hội chợ phù hoa của W. Thackeray, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách. Nhưng nhìn chung, trừ một số bức thư tham gia đắc lực vào tiến trình hành động, dẫn dắt sự kiện hoặc thực sự gây ―biến cố‖, sự có mặt của các bức thư trong truyện thường làm chậm nhịp kể.
Lượng thông tin trong thư thường không đủ để lặp lại tính liên tục của câu chuyện. Nhưng ở góc độ khác, thư từ không những là phương tiện hữu hiệu để rút ngắn khoảng cách, duy trì liên hệ mà còn duy trì thông tin cho người đọc những lúc nhân vật thực hiện những chuyến du hành của họ hay những lúc họ phải cách ngăn. Điểm nhìn bên trong của tiểu thuyết và truyện ngắn được nhân lên qua các bức thư, trong đó có các nhân vật bộc lộ cảm nghĩ, đánh giá của mình về các sự kiện và về các nhân vật khác. Tiểu thuyết bằng thư là hình thức tiểu thuyết sử dụng thư như một phương tiện chuyển tải hữu hiệu của quá trình tự sự, sử dụng lối kể và hư cấu của tiểu thuyết, vay mượn hình thức của thư từ, trong đó các bức thư đóng vai trò quan trọng trong tổ chức cốt truyện.
Tiểu thuyết Ếch có kết cấu dưới hình thức bức thư khá độc đáo.Với kết cấu theo hình thức thư như vậy, những điều riêng tư sâu kín sẽ được thổ lộ, phô bày một cách tự nhiên hơn và nội dung được kể cũng có thể dàn trải, biến hoá linh họat hơn và tạo ấn tượng đậm nét về một cái tôi nhân vật. Nói cách khác, hình thức bức thư thường tạo ra kết cấu mở cho tác phẩm. Thế mạnh của loại truyện kết cấu dưới hình thức bức thư này là làm nổi rõ cái tôi chủ quan của nhân vật. Đặc điểm của loại truyện này là luôn tạo ra một không gian không phải là thực tại, đó có thể là không gian mơ, là không gian quá khứ hoặc không gian tâm trạng… Do vậy nó cho phép tác giả vận dụng nhiều bút pháp linh hoạt để phù hợp với hình thức truyện.
22 z 4 bức thư dưới góc nhìn của người kể chuyện Khoa Đẩu kể về thân thế truyền kì của cô, nữ bác sĩ phụ khoa. Đồng thời lấy thân thế của cô làm đầu mối triển khai một cách chân thực và sâu sắc vấn đề lịch sử của Trung Quốc mà cho đến nay vẫn mang tính thời sự – chính sách sinh đẻ có kế hoạch. Lịch sử xã hội được triển khai qua lịch sử cá nhân, các bước thăng trầm trong cuộc đời của cá nhân cũng chính là ―cái gương‖ phản ánh những biến chuyển của xã hội. Kịch trong tiểu thuyết Phần hai của tiểu thuyết Ếch là một vở kịch 9 màn, là sự tiếp nối, bổ sung làm cho phần một đạt đến sự thăng hoa nghệ thuật, như chính tác giả đã viết: ―Tôi muốn viết một vở kịch về chính cuộc đời cô mình…Tôi cần phải viết, viết ra những kịch bản ruồi nhặng, nhơ nhuốc, dũng cảm hướng về mục tiêu trở thành một ―đại kịch tác gia‖.
Vở kịch trong Ếch là sự tiếp thu, học hỏi nghệ thuật gián cách từ vở kịch Vòng phấn Côcazơ của Becton Brech, người được mệnh danh là ―người cha của dòng sân khấu tự sự Tây phương‖ [5, tr. Gián cách là một thuật ngữ trong nghệ thuật sân khấu được nhà soạn kịch Becton Brech đề xuất, chỉ những biện pháp nhằm ngăn cản khán giả hoà đồng với nhân vật đang được diễn xuất, giữ khán giả ở trạng thái tỉnh táo khi giao lưu với những sự kiện diễn ra trên sân khấu. Brecht cho rằng khán giả cần phải có khoảng cách cảm xúc để nhìn nhận sự việc một cách phê bình và khách quan, trái ngược lại hiệu quả gây ảo giác sân khấu của thể loại kịch thông thường. Cũng là sự kiện hai người mẹ tranh nhau một đứa bé nhưng bối cảnh và mục đích sáng tạo lại hoàn toàn khác nhau.
Thực ra ―cái vòng phấn‖ là một môtip vốn rất quen thuộc trong văn học dân gian nhiều nước Châu Á, đặc biệt là trong truyện cổ Trung Hoa và Kinh thánh. Nó tượng trưng cho sự công bằng 23 z và khách quan khi xử kiện, đến Becton Brech thì hình ảnh ―cái vòng phấn‖ đã bị lạ hóa đi nhiều. Trong câu chuyện vòng phấn Côcazơ, khi hai người đàn bà tranh chấp nhau quyền làm mẹ, quan tòa đã vẽ một vòng phấn, cho đứa trẻ đứng vào giữa, ai lôi được nó về phía mình sẽ thắng. Một trong hai người đàn bà đã ôm mặt khóc, buông tay ra chịu thua vì sợ đứa bé sẽ bị xé xác mất.
Quan tòa Azđăc đã xử cho Grusa, mẹ nuôi thắng kiện vì quan niệm về quyền sở hữu tập thể, ―một vật phải thuộc về người làm cho nó ngày một thêm hoàn hảo. Trẻ em thuộc về những tấm lòng nhân hậu, để chúng trưởng thành trong mối yêu thương. Chiếc xe kia muốn khỏi đổ giữa đường, thì phải thuộc về tay người lái giỏi. Đồng ruộng phải thuộc về tay người chăm bón tưới, để từ đất kia quả ngọt nẩy đầy cây‖ [5, tr.
Đến Mạc Ngôn, ông đã tiếp thu nghệ thuật gián cách trong kịch Becton Brech để tố khổ xã hội, hạ bệ quan phụ mẫu – những người đại diện thi hành chính sách pháp luật. Trần Mi và Tiểu Sư tử trên công đường nhờ Cao tri huyện – Cao Mộng Cửu xử vụ kiện tranh quyền nuôi đứa trẻ tên Kim Oa. Không cho đi xét nghiệm AND mà Cao tri huyện đã có cách phán quyết ―biến giả thành thật‖: ―Bản quan không thể phán định đứa trẻ này thuộc về ai, đành phải dùng cách này: Cả hai đồng thời xông đến đây, ai cướp được đứa bé trong tay ta thì nó thuộc về người ấy‖ [25, tr. Qua vở kịch mang tên ―Cao Mộng Cửu ― này, điều Mạc Ngôn muốn nói đến chính là cái phi lí trong cuộc đời: cuộc sống hiện thực hóa ra chỉ là một vở kịch lớn chứa đựng rất nhiều vở kịch nhỏ, con người đối xử với nhau hóa ra chỉ là đóng kịch.
Kịch diễn trong kịch với cái lí lẽ ―án kiện mơ hồ thì phải dùng cách phá án mơ hồ‖ [25, tr. Sự kết hợp giữa thể loại thư mang đặc trưng riêng tư, tự do ngôn luận, có thể mở rộng trường liên tưởng, chuyển đổi chủ đề, chuyển cảnh liên tục, đang kể việc này có thể nhảy cóc sang việc khác; với kịch 24 z gián cách, phi lí giúp người đọc không đồng nhất mình với nhân vật kịch mà tìm cách làm cho họ luôn giữ khoảng cách và đối lập với hành động kịch, không muốn đem đến cho người xem những xúc động ủy mị mà muốn xóa bỏ những ảo tưởng gợi cho độc giả những suy nghĩ phê phán mang tính chất ―phản tư‖ hiện thực xã hội. Kết cấu từ góc độ thời gian Thời gian trong tác phẩm văn học là một nhân tố cấu trúc nghệ thuật của truyện bởi vì cái được trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật.Trần Đình Sử, ―Thời gian nghệ thuật là một trong những phạm trù quan trọng nhất của thi pháp học, bởi vì nó thể hiện thực chất sáng tạo của người nghệ sĩ. Nghệ sĩ có thể chọn điểm bắt đầu và kết thúc, có thể kể nhanh hay chậm, có thể kể xuôi hay đảo ngược, có thể chọn độ dài một khoảnh khắc hay nhiều thế hệ, nhiều cuộc đời.Thời gian thể hiện ý thức sáng tạo chủ động,tự do, chủ quan của nghệ thuật‖ [35, tr.
Các nhà tự sự học đều thống nhất nhận định mỗi tác phẩm tự sự đều có hai loại thời gian, đó là thời gian của chuyện và thời gian của truyện. Thời gian của chuyện là trạng thái thời gian tự nhiên của sự phát sinh câu chuyện, thời gian của truyện là thời gian tự sự, là trạng thái thời gian thể hiện trong văn bản tự sự. ―Thời gian của chuyện và thời gian tự sự thường có sự sai biệt, cho nên từ xưa đến nay thời gian tự sự đã trở thành một loại diễn ngôn tự sự và sách lược tự sự quan trọng của các nhà văn‖.