mở đầu của lịch sử dân tộc. Hình ảnh thiên thần Phù Đổng cùng với hình ảnh người thiếu niên anh hùng Trần Quốc Toản thời Trần, căm giặc cướp nước, nghiến răng bóp nát quả cam trên tay, cương quyết dương ngọn cờ “phá cường địch, báo hoàng ân”, tình nguyện đem người nhà, bà con thân thuộc, xông pha trận tuyến đánh giặc lập công đã là những tấm gương phản chiếu khí phách anh hùng và tinh thân dũng cảm tuyệt vời của thanh thiếu niên Việt Nam, một lực lượng tiền phong xung kích và hùng mạnh nhất của dân tộc ở tất cả các thời đại, lúc nào cũng sẵn lòng hiến thân mình cho tổ quốc, để cứu nước nhà, bảo vệ non sông gấm vóc từ ngàn xưa để lại. Truyền thống anh hùng đó là sự thể hiện ra thành hành động ý chí, ý thức dân tộc và tinh thần làm chủ đất nước của nhân dân ta, trở thành một truyền thống lâu đời của dân tộc, truyền thống anh dũng, bất khuất kiên cường chiến đấu cho độc lập, thống nhất tổ quốc. Dân tộc ta hình thành rất sớm, dựng nước rất sớm và ý thức dân tộc cũng nảy nở rất sớm.
Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, ý thức dân tộc của nhân dân ta ngày càng mạnh mẽ và sâu sắc. Ý thức đó đã có ở tất cả các tầng lớp nhân dân, tất cả các lứa tuổi và ở tất cả các thời đại. Tinh thần anh dũng bất khuất của Bà Trưng, Bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn cho đến các cụ già trong điện Diên Hồng hay các em nhỏ Thánh Gióng, Trần Quốc Toản. Đã là tượng trưng rực rỡ cho ý thức dân tộc kiên cường của nhân dân ta qua các thời đại.
Ý thức dân tộc đã tạo nên khí phách anh hùng và những phẩm chất cao quý của con người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam. Ý thức dân tộc, khí 15 phách dân tộc và những đạo đức cao quý đó đã tạo cho dân tộc ta một sức mạnh tinh thần rất lớn để đánh thắng quân xâm lược.2 Nhân tố gia đình. Trong những nhân tố góp phần hình thành nên nhân cách của Nguyễn Trãi chúng ta không thể không kể đến tác động của gia đình. Cha Nguyễn Trãi là Nguyễn Ứng Long, một nho sinh nghèo, còn mẹ là Trần Thị Thái, con gái thứ ba của quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán, họ vua, cháu bốn đời của Trần Quang Khải, người danh tướng mà tên tuổi gắn liền với những chiến công oanh liệt ở Chương Dương, Thăng Long, Tây Kết, Hàm Tử, đánh tan quân Nguyên xâm lược vào cuối thế kỷ XIII.
Việc cha mẹ Nguyễn Trãi lấy nhau đã trở thành một giai thoại trong lịch sử, giai thoại đó biểu dương ý chí chống lễ giáo phong kiến của người con gái “lá ngọc cành vàng” dòng họ nhà vua, cương quyết lấy chồng là một nho sĩ nghèo. Và Nguyễn Ứng Long, người danh sĩ đương thời cũng sẵn sàng với cuộc tình duyên đẹp đẽ ấy, không ra làm quan, không cần “vinh thân phì gia” mà chỉ làm một thầy đồ dạy trẻ trong hơn hai mươi năm liền, để ghi vào lịch sử chế độ khắc nghiệt tàn bạo của giai cấp thống trị Việt Nam cuối thời Trần. Sinh ra trong một gia đình như vậy, nhưng tư tưởng phóng khoáng cương nghị của cha mẹ Nguyễn Trãi chống đối lại những ràng buộc của chế độ phong kiến áp bức, khinh dân, không thể không ảnh hưởng đến tâm hồn của Nguyễn Trãi ngay từ lúc trẻ thơ. Ngay từ nhỏ, Nguyễn Trãi đã nhận được sự giáo dục ân cần của cha mẹ.
Thầy đồ Nguyễn Ứng Long đã dồn tâm huyết của mình vào việc dạy bảo cho những người con của mình. Ông không ra làm quan một phần cũng vì thấy xã hội nhiễu nhương lúc bấy giờ nên chuyên tâm dạy dỗ con cái, cam chịu cảnh “một ông đồ nghèo”. Năm 1383, lúc Nguyễn Trãi mới ba tuổi thì giặc Chiêm nổi lên, triều đình phải bỏ cả kinh thành chạy giặc và Nguyễn Ứng Long cũng phải rời bỏ mẹ già, vợ con để đi lánh nạn. Mãi đến năm 1385, Nguyễn Ứng Long mới từ nơi lánh nạn trở về.
Vừa lọt lòng mẹ được vài tuổi, Nguyễn Trãi đã phải chịu cảnh chiến tranh tàn phá, loạn lạc chia ly, sống xa cha mấy năm, nhưng Nguyễn Trãi vẫn được sự chỉ bảo tận tình của mẹ và cũng rất chịu khó “lục tuế nhi đồng phả ái thư” (sáu tuổi đã ham đọc sách). Khi hết chiến tranh, cha con chồng 16 vợ gặp nhau, vui cảnh gia đình đoàn tụ nhưng gia đình Nguyễn Trãi cũng như bao cảnh gia đình của quần chúng nhân dân ta lúc đó, vẫn phải sống đói khổ thiếu thốn, vì chiến tranh tàn phá, vì sự bất lực của bọn vua tôi nhà Trần không khôi phục được tình hình kinh tế sau loạn lạc, vì giai cấp thống trị vẫn tăng cường bóc lột nhân dân để thỏa mãn đời sống riêng của chúng. Những cảnh chết chóc đói khổ ấy đã có ấn tượng sâu sắc trong đời sống Nguyễn Trãi và làm nảy nở trong đầu Nguyễn Trãi những tư tưởng căm thù xâm lược, oán ghét giai cấp thống trị bóc lột và những tình cảm yêu nước yêu dân, thương quần chúng nhân dân lao động ngay từ trẻ thơ. Cũng trong năm 1385, Trần Nguyên Đán – người đã không ngần ngại vượt ra ngoài những lễ giáo phong kiến đã cho phép cha mẹ Nguyễn Trãi lấy nhau cũng đã nghỉ quan, về hưu dưỡng tại Côn Sơn.
Nguyễn Trãi được đón về Côn Sơn ở với ông ngoại, có lẽ cũng vì Trần Nguyên Đán muốn cho Nguyễn Trãi đỡ khổ và bớt phần vất vả cho cha mẹ Nguyễn Trãi. Là một người yêu nước thương dân vô hạn, Trần Nguyên Đán cũng đành bất lực trước xã hội đương thời: Năm nay đại hạn thu mưa dầm, Lúa khô, mạ hỏng hại rất lớn. Ba vạn quyển sách cũng vô dụng, Bạc đầu vẫn phụ lòng thương dân. Về sống với ông ngoại, Nguyễn Trãi lại được sự dạy dỗ chỉ bảo trực tiếp của ông ngoại.
Những tư tưởng yêu dân, yêu nước từ Trần Nguyên Đán đươc truyền sang người cháu ngoại Nguyễn Trãi. Nhưng về ở với ông ngoại được vài năm thì mẹ mất và ở với ông ngoại được năm năm thì ông ngoại cũng qua đời. Lúc đó Nguyễn Trãi mới 10 tuổi. Từ đấy Nguyễn Ứng Long một mình nuôi nấng dạy dỗ bốn con nhỏ: Nguyễn Trãi, Nguyễn Báo, Nguyễn Hùng và Nguyễn Ly với nghề thầy đồ dạy trẻ của ông.
Kiếm ăn với nghề thầy đồ dạy trẻ trong một hoàn cảnh xã hội thiếu thốn, đói kém như thế, cuộc sống của 5 cha con Nguyễn Ứng Long chắc chắn là vô cùng chật vật và kéo dài mãi đến khi triều Trần sụp đổ hẳn. Mặc dù cuộc sống rất khó khăn nhưng Nguyễn Ứng Long vẫn rất tận tâm truyền thụ những tư tưởng yêu nước, yêu dân của mình cho con cái. Mười lăm năm được thân phụ 17 kèm cặp trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn do chiến tranh tàn phá, xã hội loạn lạc những Nguyễn Trãi vẫn quyết chí học hành và đến tuổi thanh niên đã nổi tiếng là người tài cao học rộng “thanh niên phương dự ái nho lâm” (Thuở thanh niên tiếng thơm ngát rừng nho). Nguyễn Phi Khanh cũng là một người có lòng thương yêu dân vô hạn: An đắc thử nhân như thác thược Hòa phong xuy biến cửu châu tâm.
(Chỉ ước dân ta làm ống bễ Thổi làn gió ấm tới muôn phương) Tấm lòng thương dân của Nguyễn Phi Khanh và của ông ngoại Trần Nguyên Đán cùng với thực tế cuộc sống đau khổ của nhân dân mà Nguyễn Trãi đã nhìn thấy ngay trong cuộc sống thường ngày không thể không in sâu vào trong tâm trí của ông ngay từ thuở nhỏ. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống nho học, cùng với sự dạy bảo tận tình của cha mẹ, của ông ngoại – những con người có nhân cách lớn – đã có ảnh hưởng to lớn đến Nguyễn Trãi. Những tư tưởng yêu nước, những băn khoăn trăn trở của cha, ông ngoại từ rất sớm đã trở thành những suy tư trăn trở của Nguyễn Trãi.3 Nhân tố thời đại Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi sinh ra và lớn lên trong một hoàn cảnh xã hội hết sức nhiễu nhương.
Triều đại nhà Trần sau một thời kỳ phát triển cực thịnh đã đi dần đến khủng hoảng. Trong nội bộ giai cấp thống trị diễn ra hàng loạt những vụ chém giết, tranh cướp lẫn nhau và không biết bao cảnh chơi bời dâm dật của bọn vua chúa vương hầu. Giai cấp thống trị lục đục, sa đọa thì xã hội không ổn định. Gia nô bị bọn vương hầu quý tộc bóc lột, đàn áp thậm tệ.
Nông dân luôn bị cướp đoạt ruộng đất. Nạn mất mùa đói kém trầm trọng diễn ra hết năm này đến năm khác. Trần Nguyên Đán đã phải than thở về cảnh đói khổ của nhân dân và sự bất lực của mình trước cảnh đói khổ đó: “Ba vạn quyển sách cũng vô dụng, Bạc đầu đành phụ nỗi thương dân”. 18 Cùng với cảnh đói rét, dịch bệnh, chết chóc, tô thuế lao dịch triền miên, người dân còn phải chịu nhiều thứ ức hiếp cấm đoán khác.
Là gia nô thì dù có chiến công lớn cũng không được nhận quan tước. Là người lính thì suốt đời làm lính, không được học, không được đi thi. Sống trong cảnh bị đè nén, bóc lột đói khổ, chết chóc, người dân không thể cam chịu mãi. Họ đã vùng lên chống lại bọn thống trị.
Nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang của nông dân ta đã liên tiếp nổ ra, nhất là từ giữa thế kỷ XIV trở đi. Xung đột giữa quần chúng nhân dân và giai cấp thống trị ngày càng thêm gay gắt. Trong khi đó xung đột tranh chấp nội bộ giai cấp thống trị cũng ngày càng kịch liệt. Giai cấp thống trị nhà Trần đã không tập hợp được lực lượng cả nước tạo thành một sức mạnh để bảo vệ đất nước.
Chính trong hoàn cảnh nước nhà rối loạn và suy yếu, giặc ngoại xâm luôn luôn lăm le đe dọa. Chiêm Thành đánh phá, xâm lấn Đại Việt vẫn diễn ra liên tiếp từ trước cho đến sau khi Nguyễn Trãi ra đời. Năm 1383, Chiêm Thành đánh ra tới Quảng Oai (thuộc Hà Tây ngày nay). Vua tôi nhà Trần phải bỏ Thăng Long lên vùng núi Tiên Du lập triều đình cung điện tại núi Phật Tích tới gần 5 năm sau (tức đầu năm 1387) mới trở về Thăng Long.
Họa xâm lấn của nước láng giềng ở phương Nam chưa trừ được thì họa xâm lăng của nước láng giềng phương Bắc đã bắt đầu đe dọa nghiêm trọng. Những hoạch sách ức hiếp của nhà Minh ngày càng tăng. Từ năm 1384 tới năm 1395 vua tôi nhà Minh luôn đòi hỏi nước ta phải nộp người, voi chiến, lương thực, hoa quả cho chúng.