Nghệ Thuật Nghịch Dị Trong Tiểu Thuyết Việt Nam Từ 1986 Đến 2012 - Luận Án Tiến Sĩ Văn Học

Luận án tiến sĩ khám phá nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2012, phân tích sâu sắc sự đổi mới văn học.

Trường đại học

Đại học Khoa học Huế

Chuyên ngành

Văn học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

166
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Nghiên cứu về nghịch dị trong văn học nước ngoài

1.2. Nghiên cứu về nghịch dị trong văn học Việt Nam

1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu và hướng triển khai của đề tài

2. CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ VÀ SỰ ĐỔI MỚI VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012

3. CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 NHÌN TỪ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG

3.1. Kiểu hình tượng nhân vật nghịch dị

3.2. Kiểu hình tượng nhân vật biếm họa

3.3. Kiểu hình tượng nhân vật lệch pha giới

3.4. Kiểu hình tượng nhân vật nữ nghịch dị

3.5. Hình tượng không gian nghịch dị

3.5.1. Nông thôn nghịch dị

3.5.2. Thành thị nghịch dị

3.5.3. Chiến tranh - nghịch dị sự sống

3.6. Hình tượng thời gian nghịch dị

3.6.1. Thời gian quá khứ và lăng kính bất thường

3.6.2. Bên ngoài thời gian - thời gian mang cảm quan nghịch dị

3.6.3. Thời gian xóa nhòa lằn ranh giữa cái sinh thành và hủy diệt

4. CHƯƠNG 4: NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN

4.1. Ngôn ngữ nghệ thuật nghịch dị

4.1.1. Ngôn ngữ quảng trường suồng sã

4.1.2. Ngôn ngữ mạng

4.1.3. Ngôn ngữ trò chơi

4.2. Giọng điệu nghệ thuật nghịch dị

4.2.1. Giọng điệu giễu nhại

4.2.2. Giọng điệu bất tín và âu lo

4.2.3. Giọng điệu tự trào

4.3. Biểu tượng nghệ thuật nghịch dị

4.3.1. Biểu tượng tính dục

4.3.2. Biểu tượng giấc mơ

4.3.3. Biểu tượng mê cung

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Nghệ thuật nghịch dị và tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012

Nghệ thuật nghịch dị là một yếu tố quan trọng trong sự đổi mới văn học Việt Nam từ 1986 đến 2012. Giai đoạn này đánh dấu sự hồi sinh mạnh mẽ của tiểu thuyết Việt Nam, với nhiều tác phẩm thể hiện tinh thần dân chủ và sự phá vỡ các khuôn mẫu truyền thống. Nghịch dị không chỉ là thủ pháp nghệ thuật mà còn là thế giới quan, phản ánh sự đa dạng và phức tạp của xã hội hiện đại. Các tác giả như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương đã sử dụng nghệ thuật nghịch dị để tạo nên những thông điệp sâu sắc về xã hội và con người.

1.1. Nghịch dị trong văn học Việt Nam truyền thống và hiện đại

Nghịch dị đã xuất hiện từ lâu trong văn học dân gian và trung đại Việt Nam, nhưng đến giai đoạn 1986-2012, nó được thể hiện rõ nét hơn trong tiểu thuyết hiện đại. Sự đổi mới quan niệm về hiện thực, con người và thể loại đã tạo điều kiện cho nghệ thuật nghịch dị phát triển. Các tác phẩm như 'Nỗi buồn chiến tranh' của Bảo Ninh hay 'Ăn mày dĩ vãng' của Chu Lai đã sử dụng nghịch dị để phản ánh những mâu thuẫn và bi kịch của thời đại.

1.2. Nghịch dị và sự đổi mới văn học

Nghịch dị đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự đổi mới văn học Việt Nam. Nó không chỉ phá vỡ các khuôn mẫu cũ mà còn tạo ra những cách tiếp cận mới về hiện thực và con người. Tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 đã sử dụng nghệ thuật nghịch dị để khám phá những khía cạnh phức tạp của xã hội, từ chiến tranh đến đời sống đô thị hiện đại.

II. Nghệ thuật nghịch dị trong hệ thống hình tượng tiểu thuyết

Nghệ thuật nghịch dị được thể hiện rõ nét qua hệ thống hình tượng trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012. Các nhân vật nghịch dị, không gian và thời gian đều mang đậm dấu ấn của sự lệch chuẩn và phản ánh những mâu thuẫn xã hội.

2.1. Nhân vật nghịch dị

Các nhân vật trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này thường mang tính chất nghịch dị, từ những bức chân dung biếm họa đến nhân vật lệch pha giới. Ví dụ, nhân vật trong 'Mảnh đất lắm người nhiều ma' của Nguyễn Khắc Trường hay 'Những ngã tư và những cột đèn' của Nguyễn Bình Phương đều thể hiện sự đa dạng và phức tạp của con người trong xã hội hiện đại.

2.2. Không gian và thời gian nghịch dị

Không gian và thời gian trong tiểu thuyết Việt Nam cũng được xây dựng với tính chất nghịch dị. Không gian nông thôn, đô thị hay chiến tranh đều được miêu tả qua lăng kính lệch chuẩn. Thời gian trong các tác phẩm này thường xóa nhòa ranh giới giữa quá khứ và hiện tại, tạo nên một thế giới đầy mâu thuẫn và biến động.

III. Nghệ thuật nghịch dị trong phương thức biểu hiện

Nghệ thuật nghịch dị còn được thể hiện qua các phương thức biểu hiện như ngôn ngữ, giọng điệu và biểu tượng trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012. Những yếu tố này góp phần tạo nên sự độc đáo và sâu sắc cho các tác phẩm.

3.1. Ngôn ngữ nghịch dị

Ngôn ngữ trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này thường mang tính chất nghịch dị, từ ngôn ngữ quảng trường suồng sã đến ngôn ngữ mạng và trò chơi. Ví dụ, trong 'SBC là săn bắt chuột' của Đặng Thân, ngôn ngữ được sử dụng một cách tự do và phá cách, phản ánh sự đa dạng và phức tạp của đời sống hiện đại.

3.2. Giọng điệu và biểu tượng nghịch dị

Giọng điệu trong các tác phẩm này thường mang tính giễu nhại, tự trào hoặc bất tín, tạo nên sự đa thanh và phức tạp. Biểu tượng nghịch dị như tính dục, giấc mơ hay mê cung cũng được sử dụng để phản ánh những mâu thuẫn và bi kịch của con người trong xã hội hiện đại.

IV. Giá trị và ứng dụng của nghệ thuật nghịch dị

Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 không chỉ có giá trị học thuật mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Nó góp phần đổi mới quan niệm về hiện thực, con người và thể loại, đồng thời mở ra những hướng nghiên cứu mới cho văn học Việt Nam.

4.1. Giá trị học thuật

Nghiên cứu về nghệ thuật nghịch dị giúp hiểu rõ hơn về sự đổi mới và phát triển của tiểu thuyết Việt Nam trong giai đoạn 1986-2012. Nó cung cấp một cái nhìn toàn diện về các yếu tố nghệ thuật và tư tưởng trong các tác phẩm, từ đó đóng góp vào việc nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn

Nghệ thuật nghịch dị không chỉ phản ánh những mâu thuẫn và bi kịch của xã hội mà còn góp phần thúc đẩy sự đổi mới tư duy và nhận thức. Nó mở ra những cách tiếp cận mới về hiện thực và con người, từ đó có giá trị ứng dụng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội hiện đại.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Nghịch dị trong văn học nghệ thuật nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã và đang được giới nghiên cứu, lí luận, phê bình và sáng tác quan tâm từ rất sớm. Có rất nhiều ý kiến bàn về vai trò của nghịch dị trong sáng tác văn chương. Khảo sát lịch sử vấn đề nghiên cứu về nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012, chúng tôi đã xử lí một khối lượng tư liệu phong phú từ các công trình đã xuất bản, các luận án, luận văn, bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành, báo viết, báo mạng. Từ đó, chúng tôi phân thành các chủ điểm sau: 1.

Nghiên cứu về nghịch dị trong văn học nước ngoài Nghiên cứu về nghịch dị trên thế giới đã có từ lâu, từ công trình nghiên cứu về Rabelais của M.Bakhtin: Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng. Công trình được triển khai thành 7 chương.Bakhtin đã đưa ra một mô hình mĩ học nghịch dị và chứng minh một cách thuyết phục qua những sáng tác của Francois Rabelais. Đồng thời, trong công trình này, chúng ta cũng được tiếp cận với lí thuyết về chủ nghĩa hiện thực nghịch dị mà hạt nhân cơ bản là tiếng cười lưỡng trị trong nền văn hóa trào tiếu dân gian. Đặc biệt là Hình tượng thân thể nghịch dị trong tác phẩm của Rabelais và nguồn gốc của nó.

Theo đó, có một kiểu chủ nghĩa hiện thực nghịch dị trong sáng tác của Rabelais. Đặc điểm của “chủ nghĩa hiện thực nghịch dị là hạ thấp, tức chuyển vị trí của tất cả những gì cao siêu, tinh thần, lí tưởng, trừu tượng sang bình diện vật chất xác thịt” [11,51]. “Hình tượng nghịch dị thâu tóm hiện tượng ở trạng thái biến chuyển, biến hóa chưa hoàn kết. Quan hệ với thời gian, với sự biến hóa là đặc điểm không thể thiếu được ở hình tượng nghịch dị.

Một đặc điểm liên đới khác và cũng không thể thiếu ở nó là tính hai chiều, ở nó dưới hình thức này hay hình thức khác, hiện diện cả hai cực của sự biến đổi-cả cái cũ lẫn cái mới, cả cái đang chết lẫn cái đang ra đời, cả điểm khởi đầu và kết thúc của quá trình biến hóa” [11,58]. “Hình tượng nghịch dị mang tính nước đôi và mâu thuẫn. Chúng kì dị, quái đản và xấu xí theo quan điểm của mọi thứ mĩ học cổ điển, tức là mĩ học của một sự sinh tồn và hoàn kết. Một trong những khuynh hướng chủ yếu của hình tượng nghịch dị tựu trung lại cho thấy hai thân thể trong một thân thể, một thân thể đang sinh nở, đang tiêu vong, một thân thể khác được thụ thai, đang được ấp ủ, đang được sinh hạ” [11,61].

Như vậy, theo 5 Bakhtin nghịch dị là lệch/ chống/ phá chuẩn, mà chuẩn ở đây là những gì đã trở thành chính thức, chính thống, đã xơ cứng, hoàn kết. “Trong lĩnh vực văn học, tất cả các thể loại giễu nhại đều được xây dựng trên cơ sở quan niệm nghịch dị về thân xác. Cuối cùng, cũng quan niệm thân xác ấy làm cơ sở cho lối mắng chửi, nguyền rủa, thề tục mà ý nghĩa của chúng đối với việc hiểu đúng đắn nền văn học hiện thực chủ nghĩa nghịch dị là vô cùng to lớn” [11,63]. Đây là luận điểm liên quan đến ngôn ngữ nghịch dị.

Theo Bakhtin, ngôn ngữ quảng trường suồng sã, với lối mắng chửi, nguyền rủa, thề tục là tinh thần của ngôn ngữ nghịch dị. “Trên thực tế, chính hình tượng nghịch dị giải thoát con người khỏi mọi hình thức của cái tất yếu phi nhân đã ngấm sâu vào những quan niệm chính thống về thế giới. Cái nghịch dị đã hạ uy tín của cái tất yếu, cho thấy nó như một cái tương đối và hữu hạn. Yếu tố tiếng cười và cảm quan hội giả trang làm cơ sở cho hình tượng nghịch dị đã phá vỡ chất nghiêm trang hạn hẹp ấy với mọi tham vọng đạt tới giá trị vĩnh hằng, vô điều kiện ở những quan niệm này hay quan niệm khác về cái tất yếu, nó giải phóng ý thức, tư tưởng và trí tưởng tượng con người cho những khả năng mới” [11,97].Bakhtin, thuật ngữ grotesque ra đời lần đầu tiên ở thời Phục hưng, nhưng lúc đầu nó được dùng theo nghĩa hẹp.

Người ta phát hiện ra một kiểu hoa văn, được gọi bằng tiếng Ý là lagrottesca, bắt nguồn từ chữ grotta trong tiếng Ý có nghĩa là hang, động. Theo thời gian, thuật ngữ này được mở rộng nghĩa.Bakhtin chỉ ra kiểu hình tượng nghịch dị và chủ nghĩa hiện thực nghịch dị trong sáng tác của Rabelais trên cơ sở phân tích quan niệm của các nhà mĩ học như Hegel và Vischer: “Trước hết, khi bàn về cái nghịch dị, Hegel thực chất chỉ nói đến nghệ thuật nghịch dị cổ sơ mà ông định nghĩa như một biểu hiện của trạng thái tinh thần tiền cổ điển và tiền triết học. Chủ yếu căn cứ vào nghệ thuật cổ sơ Ấn Độ, Hegel xác định ba đặc điểm ở hình tượng nghịch dị: “sự pha trộn các lĩnh vực tự nhiên khác nhau, tính phóng đại quá mức và sự gia tăng một số bộ phận cơ thể (hình tượng các thần linh Ấn Độ nhiều chân, nhiều tay). Hegel hoàn toàn không biết đến vai trò tổ chức tiếng cười trong hình tượng nghịch dị và xem xét cái nghịch dị ngoài mọi mối quan hệ với cái hài.Vischer trong vấn đề cái nghịch dị đã đi chệch hướng Hegel.

Bản chất và động lực của cái nghịch dị, theo Vitcher là cái hài, cái nực cười. Cái nghịch dị là cái gì đó có hình thức kì diệu, đó là cái huyền thoại. Những định nghĩa ấy của Vischer không phải không có một độ sâu nhất định” [11,89]. Rồi ông đi đến kết luận: “Cần phải nói rằng trong suốt quá trình phát triển sau này của mĩ học, 6 triết học, cho đến tận ngày nay, cái nghịch dị vẫn chưa được thấu hiểu và đánh giá đúng mức, nó vẫn chưa có chỗ đứng trong hệ thống mĩ học” [11, 89].

Đồng thời, theo M.Bakhtin, nghịch dị phát triển từ Phục hưng, trải qua các thời đại Ánh sáng, chủ nghĩa lãng mạn, đến thế kỉ XX một lần nữa lại hồi sinh mãnh liệt. Ông dành nhiều trang để phân tích hình tượng nghịch dị của chủ nghĩa lãng mạn. Biểu hiện của hình tượng này trong chủ nghĩa lãng mạn đó là motif người điên, mặt nạ, búp bê-con rối.Bakhtin nhận định: “Sau chủ nghĩa lạng mạn, từ nửa sau thế kỉ XIX, mối quan tâm đến cái nghịch dị suy giảm rõ rệt cả trong văn học lẫn trong tư tưởng nghiên cứu văn học. Khi nhắc đến cái nghịch dị, người ta chỉ coi nó như một trong những hình thức pha trò hạ đẳng, dung tục hoặc như một hình thức nghệ thuật trào phúng đả phá các hiện tượng tiêu cực thuần túy và riêng lẻ.

Với cách hiểu như thế, toàn bộ chiều sâu và tính phổ quát của các hình tượng nghịch dị đã bị tiêu tan không còn dấu tích. Năm 1894, một công trình đồ sộ nhất về nghệ thuật nghịch dị được xuất bản, đó là cuốn Lịch sử văn chương trào phúng nghịch dị của học giả Đức Schneegans. Schneegans là đại diện triệt để nhất cho cách hiểu nghịch dị theo tinh thần trào phúng thuần túy, đó là sự phóng đại cái không được tồn tại, cái bị phủ định, mà lại phóng đại quá cái mức có thể tin được, đến nỗi trở nên huyễn hoặc. Chính nhờ cách phóng đại quá mức như thế, cái không được tồn tại sẽ bị đả phá về mặt luân lí và xã hội” [11,90].

Theo Schneegans, cái hài được chia thành ba phạm trù: cái hề (possen hait), cái trào lộng (burlesque) và cái nghịch dị (grotesque). Bakhtin đã chỉ ra sự nhầm lẫn của Schneegans trong công trình Sáng tác của Francois Rabelais và văn hóa dân gian thời Trung cổ và Phục hưng. Theo ông, tính chất quan trọng nhất của grotesque là tính lưỡng trị. “Đến thế kỉ XX, kiểu hình tượng nghịch dị một lần nữa lại hồi sinh mãnh liệt, mặc dầu từ hồi sinh cũng chưa hoàn toàn xác đáng để nói về một số dạng thức hình tượng nghịch dị hiện đại” [11,91].

“Rất đặc trưng cho hình tượng nghịch dị hiện đại là một định nghĩa như thế này về nó của Kayer: Cái nghịch dị là hình thức biểu hiện của cái vô ngã” [11,96]. Wolfgang Kayser, trong cuốn Nghịch dị trong nghệ thuật và văn học, cho rằng: “Nghịch dị là một sự biểu hiện của thế giới xa lạ và bị ghẻ lạnh, nghĩa là thế giới quen thuộc được nhìn từ một phối cảnh bất ngờ làm cho nó xa lạ (và sự xa lạ này có thể mang tính hài hước hoặc/và khiếp sợ). Nghịch dị là một trò chơi phi lý, dường như nghệ sĩ nghịch dị diễn trò nửa như vui đùa, nửa như kinh khiếp, bằng những điều thậm phi lý của sự tồn tại. Cái nghịch dị là một nỗ lực điều khiển và xua đuổi những nhân tố ma quỷ 7 trong thế giới” [128,16].

Đến lí thuyết về nghịch dị của Bloom, trong cuốn Nghịch dị (The Grotesque), Bloom đã sưu tầm tất cả các bài viết về nghịch dị và chỉ ra rằng nghịch dị được thể hiện qua rất nhiều phương diện như nghịch dị trong nghệ thuật xây dựng nhân vật kiểu con người biến dạng trong Hóa thân của Kafka, hay kiểu con người méo mó nhân cách, thiểu năng trí tuệ như Anse Bunden và thi thể Addie trong Khi tôi nằm xuống của Faulkner. Hơn thế nữa, nghịch dị còn nằm ở nghệ thuật trần thuật nghịch dị. Ở bài, Nghịch dị trong Chiếc áo khoác của Gogol, James Joney đã chỉ ra không phải con người hay bóng ma là nghịch dị mà chính là ngôn từ nghệ thuật nghịch dị với sự kết hợp ngôn ngữ hiếm hoi của người kể chuyện cùng với những lời trong tương quan kết hợp, sự chơi chữ, ngôn ngữ trò chơi và những câu chuyện tán gẫu, tầm phào của thành thị. Đặc biệt, quan niệm của J.R Holt gây ấn tượng khi ông cho rằng “Mĩ học của nghịch dị là mĩ học của cái xấu đẹp đẽ.

Vì nó phá vỡ nhận thức thông thường của chúng ta về cái đẹp, cái hài hòa, cái trật tự và cái có ý nghĩa, buộc chúng ta phải tìm ra cảm giác ngoài những phạm trù quen thuộc của cái đẹp và cái đã biết” [159,189]. Theo Michael, trong bài nghiên cứu về tiểu thuyết Khi tôi nằm xuống của Faulkner, ông đồng ý với Phillip Thomson khi cho rằng nghịch dị là sự hòa trộn của cả yếu tố hài hước và sợ hãi. “Nghệ thuật nghịch dị là nghệ thuật của những nhân cách xấu (Grotesque art is art with bad manners)” [159,13]. Hơn thế nữa, nội dung của nó cũng phải bao hàm cái bất thường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ văn học với tiêu đề "Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012" khám phá những khía cạnh độc đáo và sáng tạo trong thể loại tiểu thuyết Việt Nam trong giai đoạn này. Tác giả phân tích cách mà nghệ thuật nghịch dị không chỉ phản ánh thực tại xã hội mà còn tạo ra những trải nghiệm mới mẻ cho người đọc. Luận án cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của văn học Việt Nam, đồng thời mở ra những cơ hội để độc giả hiểu rõ hơn về các tác phẩm và tác giả nổi bật trong thời kỳ này.

Để mở rộng thêm kiến thức về nghệ thuật trong văn học, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ văn học nghệ thuật trần thuật trong truyện và tiểu thuyết của nguyên hồng trước cách mạng tháng tám, nơi phân tích nghệ thuật trần thuật trong các tác phẩm của một trong những nhà văn tiêu biểu. Bên cạnh đó, Luận văn kết cấu và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong một số tiểu thuyết mạc ngôn sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết hiện đại. Cuối cùng, Luận văn thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn đỗ chu cũng là một tài liệu thú vị, khám phá nghệ thuật trong truyện ngắn của một tác giả nổi bật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về nghệ thuật trong văn học Việt Nam.