Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu - Chương 2: Tổng quan về cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu - Chương 3: Thiết kế nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ tập trung vào việc xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài, bao gồm việc trình bày các lý thuyết quan trọng liên quan đến hành vi chấp nhận sử dụng dịch vụ. Nội dung chương này sẽ bao gồm các lý thuyết như lý thuyết về dịch vụ ngân hàng xanh, TRA, IDT và TAM. Bên cạnh đó, tác giả sẽ thực hiện một số lược khảo về các nghiên cứu liên quan, đồng thời phát triển các giả thuyết nghiên cứu và đề xuất mô hình phù hợp cho đề tài này. Khái niệm hành vi chấp nhận sử dụng “Hành vi của người tiêu dùng là những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm/ dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thoả mãn nhu cầu cá nhân của họ” (Hồ Huy Tựu và cộng sự, 2018).
Theo Hà Nam Khánh Giao (2015), chấp nhận sử dụng là việc chấp nhận và tiếp tục sử dụng sản phẩm/dịch vụ hay một ý tưởng. Người tiêu dùng đi qua “một quá trình nhận thức, thuyết phục, quyết định và xác nhận” trước khi họ sẵn sàng để chấp nhận sử dụng một sản phẩm hay dịch vụ. Tóm lại, hành vi chấp nhận sử dụng là quá trình người tiêu dùng tìm hiểu thông tin sản phẩm/dịch vụ, tiếp thu ý kiến rồi từ đó ra quyết định chấp nhận sử dụng sản phẩm/dịch vụ mới hoặc tiếp tục sử dụng sản phẩm/dịch vụ sau khi được nâng cấp, cải tiến. Khái niệm dịch vụ ngân hàng xanh Ngân hàng xanh tuy hoạt động tương tự như các ngân hàng truyền thống nhưng có một sự khác biệt đáng kể, đó là sự tập trung mạnh mẽ vào các yếu tố môi trường và xã hội.
Mục tiêu chính của ngân hàng xanh là bảo vệ môi trường và duy trì các nguồn 8 tài nguyên thiên nhiên. Bên cạnh việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng thông thường, ngân hàng xanh còn tham gia tích cực vào các chương trình và hoạt động có lợi cho cộng đồng và môi trường (Trần Thị Thanh Tú và cộng sự, 2020). Ngân hàng xanh gắn liền với các hoạt động và quy trình nhằm khuyến khích bảo vệ môi trường và giảm lượng khí thải cac – bon (Nguyễn Thị Đoan Trang, 2018). Ở một phạm vi hẹp hơn, ngân hàng xanh bao gồm những hoạt động hàng ngày mà trong đó, việc tối ưu hóa nguồn lực và giảm thiểu sử dụng giấy tờ được ưu tiên.
Ngân hàng khuyến khích khách hàng sử dụng các dịch vụ như ngân hàng trực tuyến, áp dụng các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường trong quá trình xét duyệt khoản vay và cung cấp các khoản tín dụng ưu đãi cho những dự án liên quan đến năng lượng tái tạo và giảm phát thải cac – bon. Một ngân hàng có thể được coi là ngân hàng xanh khi cung cấp các sản phẩm và dịch vụ kèm theo cam kết bảo vệ môi trường hoặc đầu tư vào các dự án sản xuất bền vững và thân thiện với môi trường. Ở một góc nhìn rộng hơn, ngân hàng xanh cũng được xem là một ngân hàng bền vững, bởi vì các quyết định của nó không chỉ dựa trên yếu tố kinh tế mà còn xem xét cả các khía cạnh xã hội và môi trường. Quá trình phát triển ngân hàng xanh phải đi đôi với việc cân nhắc lợi ích xã hội, kinh tế và môi trường, tạo ra một sự liên kết chặt chẽ giữa ngân hàng xanh và các yếu tố này (Trần Thị Thanh Tú và cộng sự, 2020).
Theo PappuRajan và Saranya (2018), “Ngân hàng số là thuật ngữ chỉ việc cung ứng dịch vụ dựa trên sự hỗ trợ của công nghệ kỹ thuật số, ứng dụng di động và mạng internet trong một cuộc chuyển đổi mang tính cách mạng, qua đó mang lại những tính năng mới cho trải nghiệm khách hàng, không bị giới hạn bởi thời gian và không gian giao dịch. Việc cung ứng dịch vụ ngân hàng số có tốc độ nhanh hơn dịch vụ truyền thống”. Ngân hàng số là việc thực hiện toàn bộ hoạt động cung ứng dịch vụ và giao dịch với khách hàng thông qua các ứng dụng công nghệ. Trong khi đó, ngân hàng điện tử là một dạng sản phẩm bổ sung của ngân hàng, có sự ứng dụng công nghệ, internet nhưng đều xuất phát từ các dịch vụ truyền thống, cách thức cung ứng dịch vụ về cơ bản vẫn mang tính chất của một ngân hàng truyền thống.2 Các dịch vụ ngân hàng xanh cung cấp cho KHCN Theo Diệu Nhi (2019), với mục tiêu thực hiện trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường, các ngân hàng phải tạo ra các hệ thống quản lí và cung cấp các sản phẩm/dịch vụ ngân hàng xanh, thân thiện với môi trường như: - Dịch vụ trực tuyến: thanh toán hoá đơn điện, nước, cước viễn thông, chuyển khoản nhanh 24/7, sao kê tài khoản thanh toán, gửi tiết kiệm trực tuyến, chuyển tiền quốc tế, nhận tiền kiều hối, chuyển tiền theo lô… Hiện nay nghiệp vụ chuyển tiền quốc tế được ngân hàng TMCP Quốc tế thúc đẩy mạnh khi khách hàng có thể thao tác nhanh gọn trên ứng dụng ngân hàng My VIB (My VIB là ứng dụng ngân hàng số của VIB cung cấp cho KHCN) mà không cần phải đến quầy giao dịch với hơn 110 loại ngoại tệ.
- Các tài khoản kiểm tra xanh. Khách hàng có thể kiểm tra số dư tài khoản trên máy ATM và dịch vụ tin nhắn thông báo biến động số dư SMS. - Các khoản vay xanh như vay có tài sản thế chấp xanh, vay xây dựng thương mại xanh, vay mua xe xanh và thẻ xanh. • Cho vay có tài sản thế chấp xanh: Ngân hàng khuyến khích khách hàng mua sắm các sản phẩm, máy móc và thiết bị thân thiện với môi trường bằng cách cung cấp các khoản vay với lãi suất ưu đãi, thấp hơn so với mức lãi suất trên thị trường.
• Cho vay xây dựng thương mại xanh: Các dự án xây dựng công trình xanh, tiết kiệm năng lượng và giảm thiểu khí thải được ưu tiên vay vốn với điều kiện ưu đãi, nhằm khuyến khích phát triển công trình bền vững thay thế cho các phương thức xây dựng truyền thống. • Vay mua xe tiết kiệm nhiên liệu: Ngân hàng thúc đẩy việc mua sắm các loại xe có hiệu quả năng lượng cao bằng cách áp dụng mức lãi suất thấp hơn so với lãi suất thông thường. • Thẻ xanh: Các loại thẻ tín dụng và thẻ thanh toán liên quan đến hoạt động bảo vệ môi trường, như thẻ tín dụng xanh, được phát hành để hỗ 10 trợ các tổ chức phi chính phủ. Các công ty thẻ tín dụng thường đóng góp khoảng 1.5% từ mỗi giao dịch mua hàng cho các quỹ môi trường.3 Các khía cạnh chính của ngân hàng xanh Nguyễn Minh Loan (2019) chỉ ra rằng hoạt động ngân hàng xanh được thể hiện theo 3 khía cạnh chính là phát triển các sản phẩm/dịch vụ xanh, phát triển tín dụng xanh và giảm thiểu lượng khí cac – bon trong hoạt động nội bộ của ngân hàng.
- Tín dụng xanh được hiểu là việc các tổ chức tín dụng cho vay đối với các nhu cầu tiêu dùng, đầu tư, sản xuất kinh doanh mà không gây rủi ro đến môi trường, góp phần bảo vệ hệ sinh thái chung. Ngân hàng TMCP Nam Á đã ký kết với Quỹ Hợp tác khí hậu toàn cầu về việc triển khai chương trình tín dụng xanh tại Việt Nam. Với lãi suất ưu đãi từ 5 – 6%/ năm, ngân hàng sẽ cấp tín dụng trung và dài hạn cho các dự án thúc đẩy giảm khí CO2 và các dự án tiết kiệm 20% nhu cầu năng lượng. Ngân hàng TMCP Phát triển triển khai gói tín dụng 10.000 tỷ đồng dành cho các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch trên cả nước.
- Để giảm thiểu lượng cac – bon phát thải ra môi trường, khách hàng cần thay đổi thói quen bằng cách sử dụng các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt và thực hiện giao dịch thông qua các kênh ngân hàng điện tử. - Các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng xanh mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng bao gồm dịch vụ ngân hàng trực tuyến, tài khoản xanh và các khoản vay hỗ trợ cho các dự án thân thiện với môi trường.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngân hàng xanh Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra các nhân tố bên trong và bên ngoài ngân hàng có ảnh hưởng đến sự phát triển ngân hàng xanh như sau: Bảng 2.1: Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngân hàng xanh Các nghiên cứu Nhân tố Nhóm nhân tố UNEP (2009), Hoen Quy định của pháp luật (2014) và Fukuhara về sở hữu trí tuệ, về môi Chính sách hỗ trợ của (2016) trường… nhà nước về phát triển Hoen (2014) và Fukuhara Công cụ quản lý tài chính ngân hàng xanh (2016) trong nước UNEP (2009), Hoen (2014) và Fukuhara Rủi ro chính trị (2016) Eyraud và các cộng sự GDP bình quân đầu (2013), Romano và các người/ USD cộng sự (2017) Các yếu tố vĩ mô ảnh Lãi suất danh nghĩa dài hưởng tới mức độ phát hạn triển của ngân hàng Giá tương đối của dầu xanh Eyraud và các cộng sự thô quốc tế (2013) Giá ưu đãi năng lượng sạch Cơ chế định giá coupon Dân số Nhu cầu hay chiến lược Nhu cầu đầu tư xanh Adelphi (2016) đầu tư xanh của doanh của các tổ chức kinh nghiệp doanh Fukuhara (2016) Nguồn tài chính dài hạn 12 Chi phí đầu tư, quy mô, Peter và cộng sự (2015) thời gian hoàn vốn dự án Barner và Han (2013) Quy mô ngân hàng Năng lực tài chính của Barner và Han (2013) Sở hữu ngân hàng ngân hàng Nhận thức của lãnh đạo Ritu (2014) Chiến lược ngân hàng ngân hàng về phát triển ngân hàng xanh Peter và các cộng sự Năng lực đánh giá dự án Năng lực của cán bộ, (2005), Adelphi (2016) tài chính xanh nhân viên Nguồn: Trần Thị Thanh Tú và các cộng sự tổng hợp (2020) 2.5 Lý thuyết lan truyền sự đổi mới (IDT) Giáo sư xã hội học và lý luận truyền thông Everett Rogers (1962) đã đề xuất lý thuyết về lan truyền sự đổi mới. Lý thuyết được ứng dụng lần đầu trong nghiên cứu về đổi mới công nghệ tại môi trường giáo dục. Rogers cho rằng khuyếch tán hay lan truyền sự đổi mới là một quá trình mà trong đó cái mới được phổ biến thông qua các kênh truyền thông, theo thời gian và trong một hệ thống xã hội.