Chương 1: Cơ sở lí luận về xây dựng ngân hàng câu hỏi để kiểm tra đánh giá. Chương 2: Cơ sở thực tiễn về xây dựng ngân hàng câu hỏi để kiểm tra đánh giá. Chương 3: Xây dựng ngân hàng câu hỏi môn tin học ứng dụng ngành may. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Cuối luận văn có danh mục tham khảo và phụ lục.
4 Luan van PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI ĐỂ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Từ rất là xa xưa, phép đo lường đã được thực hiện thông qua quá trình lao động và giao tiếp.Menđêlêep có nói: “Ở đâu có đo lường thì ở đó bắt đầu có khoa học” [18].
Khoa học về đo đánh giá trong giáo dục trên thế giới đã phát triển từ xa xưa. Nhưng lĩnh vực khoa học về trắc nghiệm chỉ thực sự phát triển mạnh mẽ từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX [17]. Trắc nghiệm có nguồn gốc từ phương Tây do các nhà tâm lý học nghiên cứu vào giữa thế kỷ XIX. Cụ thể: Năm 1845, Horace Mann đã đề xuất trắc nghiệm thành tích học tập lần đầu tiên xuất hiện tại Hoa Kỳ.
Năm 1859 ở Anh, Francis Galton áp dụng nguyên tắc của Darwin vào việc khảo sát sự khác biệt những cá thể, các tính chất tâm lý và sinh lý liên quan đến yếu tố di truyền [5] nhằm mục đích chọn ra được những con người sẽ làm cha mẹ tốt nhất. Galton đã triển khai các trắc nghiệm để đo các đặc điểm con người, các đặc điểm này có thể được xem như những chỉ số về độ ưu việt. Vì ông tin rằng một số năng lực về thể chất xác định có thể sử dụng như các số đo trí thông minh, nên ông đã gọi các trắc nghiệm này là các trắc nghiệm về trí tuệ - mental test [12] Chúng là những phép đo về sự tinh nhạy trong nhìn và nghe, cường độ cơ bắp, thời gian phản ứng và các chức năng vận động giác quan khác. Ông đề xuất những tư tưởng trắc nghiệm đầu tiên, cống hiến to lớn của ông là xây dựng nên kỹ thuật nghiên cứu những khác biệt cá nhân trên cơ sở sử dụng phương pháp thống kê.
Năm 1897, Wichelm Weent thiết lập phòng thí nghiệm tâm lý học tại Leipzig ở Đức. Đây là phòng thí nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới, mở đầu cho 5 Luan van phong trào nghiên cứu tâm lý học thực nghiệm. Từ đây, ông đưa tâm lý học phát triển theo hướng mới đó là sử dụng trắc nghiệm làm công cụ khảo sát tâm lý. Năm 1890 tại New York, thuật ngữ trắc nghiệm được sử dụng rộng rãi sau khi nhà tâm lý học Hoa Kì Mac K.Cattell đưa ra khái niệm ắ ghi í trong tác phẩm “ ắ ghi g g í ” [9] ra đời.
Trong tác phẩm này, Cattell đưa ra khái niệm trắc nghiệm trí tuệ để chỉ ra bằng chứng tâm lý khác biệt giữa các cá nhân và ông đã làm mẫu 50 trắc nghiệm. Từ đó, trắc nghiệm được hiểu theo nghĩa rộng là dụng cụ, phương tiện, cách thức để khảo sát và đo lường trong tâm lý. Một năm sau, bằng phương pháp toán học, Joseph M.Rice xử lý thành công kết quả trắc nghiệm. Năm 1904 tại Pháp, nhà tâm lý học Alfred Binet được giới lãnh đạo nhà trường ở Paris yêu cầu xây dựng một phương pháp để xác định những trẻ em bị tàn tật về mặt tâm thần mà không thể tiếp thu theo cách dạy bình thường ở nhà trường.
Từ đó trắc nghiệm Binet được ra đời. Trắc nghiệm Binet khảo sát rất trực tiếp, nó yêu cầu những kỹ năng tổng quát, cách lập luận thông thường và có một kho thông tin cho những câu trả lời. Các điểm số được cho theo tuổi trí lực (mental age). Nếu một em nhỏ tuổi hơn có thể trả lời cùng các câu hỏi của phần lớn các em ở độ tuổi lên mười chẳng hạn, thì người ta nói em này có độ tuổi trí lực là mười tuổi [12].
Tuy nhiên, ở Pháp lúc bấy giờ, phương pháp trắc nghiệm ít được sử dụng và phát triển còn chậm. Munsterburg xây dựng trắc nghiệm dùng trong công tác tuyển chọn nghề nghiệp cũng đã góp phần đáng kể vào việc phát triển rộng rãi việc sử dụng trắc nghiệm. Cũng trong năm này, G. Rôtxôlimô đã đưa ra phương pháp “ ắ ghi ý”, tác phẩm này của ông lập tức đã được dịch ra tiếng Đức và được chú ý nhiều ở Tây Âu và Mỹ.
Stern, nhà tâm lý học người Đức đã đưa ra khái niệm “h số h g i h” (Intelligence Quotient) viết tắt là IQ. IQ là chỉ số của nhịp độ phát triển trí tuệ, đặc trưng cho một đứa trẻ nào đó. Hệ số này chỉ ra sự thông minh trước hay sau của một cá nhân nào đó so với tuổi thời gian. 6 Luan van Đến năm 1916, L.
Terman, giáo sư tâm lý trường Đại học Stanford ở Mỹ, đã cùng với cộng sự của mình hai lần cải tổ bản trắc nghiệm thông minh của Binet để dùng cho trẻ em Mỹ, gọi là trắc nghiệm Stanford - Binet. Vào năm 1960, bài trắc nghiệm này được sửa lại một lần nữa. Trắc nghiệm Binet đã được dùng một cách phổ biến và đã có tác động mạnh mẽ đến việc triển khai các phép đo lường tiếp theo. Từ năm 1926 đến năm 1931, một số nhà sư phạm tại Matxcơva, Lêningrat, Kiep ở Liên Xô dùng trắc nghiệm làm thí nghiệm để chẩn đoán đặc điểm tâm lý cá nhân và kiểm tra kiến thức sinh viên.
Nhưng do ở thời điểm đó trắc nghiệm chửa được hoàn chỉnh nên người ta sử dụng mà chưa phát hiện hết những nhược điểm của trắc nghiệm nên tại Liên Xô có nhiều người phản đối sử dụng trắc nghiệm. Đến năm 1963, xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu dùng trắc nghiệm trong các môn học khác nhau của các nhà nghiên cứu như: E. Craxmianscaia (1963)… nên tại Liên Xô mới phục hồi việc sử dụng trắc nghiệm để kiểm tra kiến thức sinh viên. Và người ta vẫn tiếp tục thảo luận về những ưu điểm và nhược điểm của trắc nghiệm.
Năm 1940, có nhiều hệ thống trắc nghiệm dùng để đánh giá năng lực học tập của sinh viên và một số trắc nghiệm nhóm ở Hoa Kỳ như: trắc nghiệm Alpha, trắc nghiệm Bêta để tuyển chọn nghề nghiệp quân sự. Trong đó, trắc nghiệm Alpha là trắc nghiệm viết, trắc nghiệm Bêta là trắc nghiệm sử dụng công cụ. Những bài trắc nghiệm này nhằm kiểm tra kỹ năng, kỹ xảo cá biệt của các binh sĩ để bố trí họ vào vị trí phù hợp với khả năng của họ. Cả hai loại trắc nghiệm này đều là loại trắc nghiệm nhóm và được chấm khách quan.
Năm 1961, Mỹ có hơn 2000 chương trình trắc nghiệm chuẩn [6]. Đến năm 1963, có công trình của Ghecbêrich dùng máy tính điện tử để xử lý trắc nghiệm trên diện rộng. Lúc này, ở Anh quyết định cho phép các trắc nghiệm chuẩn được dùng ở các trường trung học bởi Hội đồng quốc gia hàng năm. Có thể kể những dấu mốc quan trọng trong trong tiến trình phát triển, như trắc ghi í Simon-Binet được xây dựng bởi hai nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet và Theodore Simon vào khoảng 1905, tiếp đến được cải tiến tại Đại học 7 Luan van Stanford tại Mỹ bởi Lewis Terman năm 1916, sau đó nó đã được cải tiến liên tục và được sử dụng ngày nay với tên gọi là Trắc nghiệm trí tuệ IQ (Intelligence Quotient).
Bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Achievement Test ra đời vào năm 1923 ở Mỹ. Với việc đưa chấm trắc nghiệm bằng máy IBM năm 1935, việc thành lập Hội quốc gia về đo lường trong tâm lý và giáo dục (National Council on Measurement in Education - NCME) vào thập niên 1950, sự ra đời hai tổ chức tư nhân Educational Testing Services (ETS) năm 1947 và American College Testing (ACT) năm 1959, hai tổ chức làm dịch vụ trắc nghiệm lớn thứ nhất và thứ hai ở Hoa Kỳ, một ngành công nghiệp về trắc nghiệm đã hình thành ở Mỹ. Từ đó đến nay khoa học về đo lường trong tâm lý và giáo dục đã phát triển liên tục, những phê bình chỉ trích đối với khoa học này cũng xuất hiện thường xuyên nhưng chúng không đánh đổ được nó mà chỉ làm cho nó tự điều chỉnh và phát triển mạnh mẽ hơn. Các thành tựu lý luận quan trọng của khoa học về đo lường trong giáo dục đạt được cho đến thập niên 70 của thế kỷ trước được bao gồm trong “lý thuyết trắc nghiệm cổ điển” (Classical test theory).
Còn bước phát triển về chất của nó trong khoảng 4 thập niên vừa qua bao gồm trong “lý thuyết trắc nghiệm hiện đại” hoặc “lý thuyết đáp ứng câu hỏi” (Itern Response Theory - IRT). IRT đã đạt được những thành tựu quan trọng nâng cao độ chính xác của trắc nghiệm, và trên cơ sở lý thuyết đó, công nghệ Trắc nghiệm Thích ứng nhờ máy tính (Computer Adaptive Test - CAT) ra đời. Ngoài ra, trên cơ sở những thành tựu của IRT và ngôn ngữ học máy tính, công nghệ Criterion chấm tự động các bài thi tự luận tiếng Anh nhờ máy tính của ETS đã được triển khai qua mạng Internet trong mấy năm qua [18]. Trong những năm gần đây trắc nghiệm là một phương tiện có giá trị và được sử dụng phổ biếng rộng rãi trong giáo dục ở nhiều nước trên thế giới trong các kì kiểm tra, thi tuyển.
Trong nƣớc TNKQ được sử dụng từ rất sớm trên thế giới, song ở Việt Nam thì TNKQ xuất hiện muộn hơn, cụ thể: 8 Luan van Từ đầu thập niên 1950, sinh viên Việt Nam đã được tiếp xúc với trắc nghiệm qua cuộc khảo sát khả năng ngoại ngữ do các cơ quan Quốc tế tổ chức [19]. Vào những năm 1960, tại miền Nam Việt Nam đã có nhiều tác giả sử dụng TNKQ một ở số ngành khoa học, chủ yếu là tâm lí học. Năm 1964, ở miền Nam thành lập cơ quan đặc trách về trắc nghiệm lấy tên “T g ắ ghi h ớ g ẫ ”. Dương Thiệu Tống đã đưa môn TNKQ và thống kê giáo dục vào giảng dạy tại trường Đại học Sài Gòn.
Năm 1972, các nhà giáo dục Việt Nam bắt đầu quan tấm đến trắc nghiệm thành quả học tập. Vào năm 1974, lần đầu tiên nước ta cho thi trắc nghiệm loại câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn đối với tất cả các môn tại miền nam và thực hiện trong hai khóa thi tú tài liên tiếp.