Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về điều dưỡng 1. Điều dưỡng Theo Tổ chức Y tế thế giới: Điều dưỡng (ĐD) bao gồm chăm sóc và phối hợp chăm sóc với các cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm và cộng đồng, người bệnh hay người khỏe và trong mọi tình huống. Nó bao gồm thúc đẩy sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật, chăm sóc người ốm, người tàn tật và cả tử vong[35].
Theo Hội đồng điều dưỡng quốc tế: Điều dưỡng bao gồm chăm sóc và phối hợp chăm sóc với các cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm và cộng đồng, người bệnh hay người khỏe và trong mọi tình huống[25]. Theo Hiệp hội Điều dưỡng Mỹ: Điều dưỡng là sự bảo vệ, thúc đẩy và tối ưu hóa sức khỏe và khả năng, phòng ngừa bệnh tật và thương tích, giảm đau thông qua chẩn đoán và điều trị các đáp ứng của con người, vận động sự chăm sóc từ các cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội[24]. Điều dưỡng viên/ Người điều dưỡng Điều dưỡng viên (ĐDV) là người phụ trách công tác điều dưỡng, chăm sóc sức khỏe, kiểm tra tình trạng bệnh nhân, kê toa thuốc và các công việc khác để phục vụ cho quá trình chắm sóc sức khỏe ban đầu cho đến phục hồi, trị liệu cho bệnh nhân[23]. Chức năng của Điều dưỡng[19] - Chức năng phụ thuộc: là thực hiện y lệnh của bác sĩ.
- Chức năng phối hợp: là phối hợp ngang hàng với bác sĩ trong việc chữa trị bệnh cho người bệnh. - Chức năng độc lập: là chủ động chăm sóc người bệnh theo nhiệm vụ đã qui định. Vai trò của Điều dưỡng[19] ĐDV có vai trò thực hành trong thực hiện chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân. Người ĐD phải cả quyết, tự tin, rút kinh nghiệm và đưa ra những thay đổi tốt 5 trong chăm sóc.
Vai trò nghiên cứu của ĐD để cải tiến các kỹ thuật thích hợp và cải tiến cách chăm sóc người bệnh đạt hiệu quả cao. Nhiệm vụ của Điều dưỡng ĐDV có nhiệm vụ chăm sóc người bệnh toàn diện (CSNBTD), bắt đầu từ khi nhập viện, trong khi nằm viện tới lúc xuất viện. Bên cạnh đó ĐD còn có nhiệm vụ phải phối hợp với bác sĩ trong thực hiện kế hoạch CSNBTD. Ngoài ra, ĐD còn có nhiệm vụ quản lý tài sản, vật tư, trang thiết bị, môi trường làm việc, phát triển nghề nghiệp và phải hành nghề theo y đức và pháp luật[19].
Nhiệm vụ cụ thể - yêu cầu trình độ của ĐDV [2] Theo Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức y tế ĐD ban hành kèm theo Quyết định số 41/2005/ QĐ-BNV ngày 22 tháng 4 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Nộivụ thì ĐD tùy theo trình độ đào tạo có yêu cầu nhiệm vụ và năng lực khác nhau, tuy nhiên nói chung điều dưỡng có những nhiệm vụ tổng quát đó là: - Duy trì và nâng cao sức khỏe. - Phòng chống bệnh tật. - Chăm sóc người bệnh. - Phục hồi sức khỏe 1.
Bối cảnh chung về chuyên ngành điều dưỡng 1. Bối cảnh quốc tế Chuyên ngành Điều dưỡng đã và đang phát triển thành một ngành học đa khoa có nhiều chuyên khoa sau đại học và song hành phát triển với các chuyên ngành Y, Dược, Y tế công cộng trong ngành y tế. Nghề Điều dưỡng đã phát triển thành một ngành dịch vụ công thiết yếu, cần cho mọi người, mọi gia đình. Trình độ Điều dưỡng viên xu thế cao đẳng và đại học hóa đang trở thành yêu cầu tối thiểu để được đăng ký hành nghề và được công nhận là ĐD chuyên nghiệp giữa các quốc gia khu vực ASEAN và trên toàn Thế giới.
Sự phát triể n không đồ ng đề u và đa da ̣ng của ngành ĐD trong tiế n trin ̀ h hô ̣i nhâ ̣p khu vực và quố c tế tấ t yế u sẽ dẫn đế n nhu cầ u chuẩ n hóa hê ̣thố ng đào ta ̣o, chuẩ n 6 hóa trình đô ̣ ĐDV để ta ̣o điề u kiê ̣n cho viê ̣c di chuyể n thể nhân sự ĐD và công nhâ ̣n lẫn nhau về triǹ h đô ̣ ĐD giữa các nước khu vực ASEAN[5, 8]. Chuyên ngành điề u dưỡng trong bố i cảnh chung của hê ̣ thố ng y tế Việt Nam.891 ĐD, trong đó trình độ trên đại học chỉ có 0,1%, đại học 5.2%, cao đẳng 4,6%, trung cấp 89,2% và nhân lực ĐD chiếm 45% nhân lực chuyên môn của ngành Y tế. Dịch vụ chăm sóc do ĐD cung cấ p là mô ̣t trong những ̣ vụ y tế , đóng vai trò rất quan tro ̣ng trong viê ̣c nâng cao chấ t trụ cô ̣t của hê ̣ thống dich lươ ̣ng y tế. Được sự quan tâm của Bô ̣ Y tế , ngành ĐD đã có sự phát triển nhanh chóng trên các liñ h vực sau: - ĐD đã trở thành mô ̣t ngành ho ̣c với nhiề u cấ p trin ̀ h đô ̣, từ trung cấ p lên cao đẳ ng, đa ̣i ho ̣c điều dưỡng và tha ̣c si ̃ điều dưỡng.
Hệ thố ng đào ta ̣o ĐD đến nay đã có nhiều cơ sở đào tạo, trong đó có các cơ sở đào ta ̣o cao đẳ ng, đa ̣i ho ̣c và sau đại ho ̣c. - Các chính sách về ĐDV và các chuẩ n mực hành nghề ĐD đang đươ ̣c bổ sung hoàn thiện: Bô ̣ y tế đã ban hành các văn bản quy pha ̣m pháp luâ ̣t, hướng dẫn quố c gia về thực hành chăm sóc điều dưỡng; Nhà nước đã có quyế t đinh ̣ công nhâ ̣n danh hiê ̣u Thầ y thuố c ưu tú, Thầ y thuố c nhân dân cho ĐDV, hô ̣ sinh. - Chấ t lươ ̣ng chăm sóc người bê ̣nh đã có nhiều chuyể n biến rõ rê ̣t thông qua việc đổi mới các mô hiǹ h phân công chăm sóc, tổ chức chăm sóc người bê ̣nh toàn diê ̣n, chuẩ n hóa các kỹ thuâ ̣t điều dưỡng. - Tuy nhiên, ngành điều dưỡng đang đứng trước nhiề u thách thức của sự phát triể n: thiế u đô ̣i ngũ giáo viên và thiế u chuyên gia đầ u ngành về ĐD nên phải sử du ̣ng tới gầ n 70% đô ̣i ngũ giáo viên giảng da ̣y ĐD là bác si;̃ khoa ho ̣c điều dưỡng chưa phát triể n với những tiế n bô ̣ của ĐD thế giới trong đào ta ̣o điều dưỡng; người điều dưỡng chưa đươ ̣c đào ta ̣o để thực hiê ̣n thiên chức chăm sóc mang tính chủ đô ̣ng và chuyên nghiê ̣p[5].
Chuẩn năng lực điều dưỡng và phương pháp đánh giá. Một số khái niệm về năng lực Theo Khung giáo dục điều dưỡng ung thư Australia: Năng lực bao gồm kiến thức, kỹ năng, hành vi và động cơ tác động đến khả năng thực hiện thành công công 7 việc của từng cá nhân. Năng lực cũng là đặc tính cơ bản của con người giúp người này có thể thực hiện tốt vai trò, giải quyết tốt công việc hay tình huống[32]. Theo như Lee Harvey thuộc tổ chức Nghiên cứu Chất lượng đào tạo Quốc tế, khái niệm “năng lực” được định nghĩa “là sự áp dụng các kiến thức và kỹ năng cũng như các khả năng khác ở một mức độ chuyên ngành đủ để có thể thực thi nhiệm vụ trong một bối cảnh công việc phù hợp (có thể là trong môi trường hàn lâm cũng như trong các hoàn cảnh khác)[29].
Một số định nghĩa năng lực được dùng trong tâm lý, giáo dục học như: Năng lực là một thuộc tính tâm lý phức hợp, là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm. Hay năng lực khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động[21]. Như vậy, theo một cách dễ hiểu, năng lực là tập hợp kiến thức, kỹ năng và hành vi của cá nhân để hoàn thành mục đích công việc. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực Tất cả các yếu tố tác động đến việc hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, hành vi và động cơ làm việc của cá nhân sẽ ảnh hưởng đến năng lực.
Việc phân định rõ và hỗ trợ cải thiện các yếu tố ảnh hưởng là những biện pháp quan trọng để phát triển năng lực cá nhân[36]. Công tác đào tạo, bồi dưỡng - một yếu tố có ý nghĩa quyết định của năng lực. Các yếu tố quan trọng khác có tác động đến năng lực như điều kiện làm việc, sự hài lòng với công việc, tạo động lực và khuyến khích, giám sát và đánh giá [3]. Có nhiều yếu tố tác động lớn đến năng lực của nhân viên y tế như môi trường làm việc phải đó đủ các điều kiện, ví dụ cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ và thuốc.
Sự giám sát, đánh giá kết quả làm việc dựa trên chức năng nhiệm vụ rõ ràng cũng tác động lớn tới việc hoàn thành nhiệm vụ, làm việc sáng tạo, có chất lượng và cung cấp dịch vụ công bằng và bảo đảm y đức. Một yếu tố khác rất quan trọng là chế độ động viên khuyến khích, cả về tinh thần và vật chất/tài chính[3]. 8 Một số nghiên cứu trên thế giới cũng đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của điều dưỡng như: điều dưỡng sống ở thành phố lớn có năng lực giao tiếp, tâm lý xã hội tốt hơn điều dưỡng ở nông thôn[31], môi trường tích cực của bệnh viện có khả năng cải thiện năng lực của điều dưỡng, kinh nghiệm cá nhân, sự mong đợi hỗ trợ của cộng đồng và cơ quan quản lý, tham gia đào tạo ngoài giờ và kinh nghiệm chuyển giao công việc là những yếu tố nâng cao năng lực cho điều dưỡng[28]. Sự cần thiết của việc đánh giá năng lực Để có cơ sở cho việc lập kế hoạch đào tạo và phát triển, thuyên chuyển, bổ nhiệm,…thì việc đánh giá năng lực là cần thiết ở tất cả các bệnh viện.
Chương trình đào tạo hiện nay chủ yếu dựa trên công việc nên được coi là chưa phù hợp. Chưa có hệ thống kiểm định trong các trường đào tạo y khoa. Chất lượng đào tạo tăng chưa tương xứng với trình độ phát triển của kỹ thuật và nhu cầu chăm sóc của cộng đồng đang tăng nhanh. Năng lực thực hành của sinh viên sau khi ra trường còn khá hạn chế.
Chương trình đào tạo liên tục cũng vẫn chưa được chú trọng. Kinh phí đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước cho các cơ sở đào tạo còn rất hạn hẹp.