Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Chương 2: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 5. Những đóng góp của nghiên cứu - Đề tài “Nghiên cứu năng lực sinh viên ngành Kế toán- Kiểm toán dé đáp ứng yêu cầu công việc trong bối cảnh chuyên đổi số hiện nay” phát triển thang đo về về mô hình ASK với ba nhóm năng lực chính bao gồm Phẩm chất/Thái độ (A), Kỹ năng (S) và Kiến thức (K) - Kiểm định thang đo về khung năng lực nghề nghiệp của sinh viên Kế toán- Kiểm toán. - Trình bày thực trạng, hàm ý chính sách cho các bên liên quan đối với ngành Kế toán — Kiêm toán trong bôi cảnh chuyên đôi sô hiện nay. TONG QUAN NGHIEN CUU VA CO SO LY THUYET 1.
Tổng quan nghiên cứu dé tai 1. Các nghiên cứu liên quan đến năng lực sinh viên Kế toán- Kiểm toán trong bối cảnh chuyền đổi số hiện nay. * Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Lê Thị Hồng Hạnh (2015) đã đề xuất 12 kỹ năng mềm phục vụ cho công việc ngành Kế toán- Kiểm toán như sau : (1) Kỹ năng học và tự học, (2) Kỹ năng xây dựng mối quan hệ, (3) Kỹ năng giao tiếp ứng xử, (4) Kỹ năng tự quản lý bản thân, (5) Kỹ năng làm việc nhóm, (6) Kỹ năng thuyết trình, (7) Kỹ năng lãnh đạo, (8) Kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định, (9) Kỹ năng lập kế hoạch và tôt chức công việc, (10) Kỹ năng tư duy sáng tao, (11) Kỹ năng làm hồ sơ xin việc, (12) Kỹ năng phỏng vấn xin việc. Nghiên cứu của UNESCO (2016) đã chỉ ra 6 nhóm năng lực gồm: Tư duy đổi mới và sáng tạo, kỹ năng xã hội, kỹ năng cá nhân, công dân toàn cầu, tri thức công nghệ thông tin và truyền thông và các kỹ năng khác (lối sống, tôn giáo, .) Nghiên cứu của Vũ Thị Thanh Bình (2017) về “Kỹ năng nghề nghiệp kế toán: Thực trạng và nguyên nhân của sự thiếu hụt, nghiên cứu tại trường Đại học công nghiệp Hà Nội” ghi nhận và phân tích những nguyên nhân gây ra sự thiếu hụt kỹ năng nghề nghiệp kế toán của sinh viên năm cuối (đại học khóa 8) và sinh viên đã tốt nghiệp.
Nghiên cứu thực hiện khảo sát ý kiến từ phía giảng viên và sinh viên trên cơ sở phỏng van ban đầu, điều tra diện rộng và phỏng vấn sâu lấy ý kiến vào thời điểm 15/6/2017. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy sinh viên có một số kỹ năng nghề nghiệp cơ bản đáp ứng yêu cầu công việc như kỹ năng tin học văn phòng, sử dụng phần mềm kế toán; kỹ năng xử lý công việc độc lập; kỹ năng quản lý thời gian, lập kế hoạch công việc. Tuy nhiên, một số kỹ năng nghề nghiệp hiện nay sinh viên chưa được thành thạo, đặc biệt là khả năng thành thạo ngoại ngữ. Lê Kim Ngoc & Dinh Thanh Hà (2017) — “Nghiên cứu đánh giá năng lực của sinh viên kế toán - kiểm toán trường Đại học Kinh tế Quốc dân trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế”) kết quả cho thấy có 3 nhân tố ảnh hưởng đến năng lực sinh viên Kế toán - kiểm toán gồm: Kiến thức, Thái độ, Kỹ năng, tổng 16 biến quan sát, phân tích hồi quy đã xác định được: Kiến thức là nhân tổ có tác động mạnh nhất đến năng lực sinh viên Kế toán - kiểm toán, kế đến là kỹ năng và cuối cùng là thái độ Lê Quân & Nguyễn Quốc Khánh (2012) - “Đánh giá năng lực giám đốc điều hành doanh nghiệp nhỏ Việt Nam qua mô hình ASK”, Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Chuyện san kinh tế và kinh doanh, số 28 cho thay giám đốc doanh nghiệp nhỏ Việt Nam yếu về kiến thức quản tri kinh doanh, quan trị nhân sự cũng như hạn chế về kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng quản trị nhân sự, v.
Điểm nổi bật của giám đốc điều hành doanh nghiệp nhỏ là phâm chat thích nghi, kiên nhẫn, sáng tạo và quyết đoán. Phạm Văn Thiệu, Nguyễn Văn Hiếu (2019) — “Ứng dụng khung năng lực trong xây dựng chuẩn đầu ra cho sinh viên ngành kế toán - thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0” cho thấy học sinh, sinh viên tốt nghiệp có năng lực chuyên môn chưa phù hợp với yêu cầu của hoạt động thực tiễn sản xuất, kinh doanh, dich vụ. Còn yếu về ngoại ngữ và các kỹ năng mềm như tác phong công nghiệp, kỹ năng làm việc nhóm. Một trong những nguyên nhân đó là do quy chuẩn đầu ra của các cơ sở đào tạo còn mang nặng tính định tính và “khác” so với nhu cầu của doanh nghiệp.
Lê Thị Ngọc Mai, Nguyễn Thị Thanh Tâm (2019) — “Đảo tạo nhân lực kế toán kiểm toán đáp ứng yêu cầu của cách mạng công nghiệp 4.0”, chỉ ra rằng kỹ năng giao tiếp, trình độ ngoại ngữ, chuyên môn, khả năng ứng dụng và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp được các nhà tuyển dụng đánh giá ở mức khá cho thay cơ sở dao tạo cần có sự đổi mới chất lượng dao tạo dé tăng cường cho sinh viên các kỹ năng này. % Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Heri Yanto, Universitas Negeri Semarang, Indonesia (2018) về “Năng lực kế toán của sinh viên tốt nghiệp trong kinh doanh toàn cầu” đã xác định sáu yêu tô năng lực kê toán cân có của kê toán sinh viên tôt nghiệp đê làm việc ở câp quôc gia và quốc tế. Các yếu tô năng lực đó là Năng Lực Trí Tuệ Va Ra Quyết Dinh, Năng lực Giao tiếp và Đàm phán, Năng lực vận hành, Năng lực Công nghệ, Năng lực Nhân cách, Năng lực quản lý. Ditbelmawa (2012) - Cử nhân tốt nghiệp khoa kế toán phải có ít nhất ba năng lực, đó là thái độ, kiến thức, kỹ năng chung và kỹ năng cụ thể.
AICPA (2017) đã xây dựng khung năng lực cốt lõi trước khi cấp chứng chỉ AICPA bao gồm ba nhóm năng lực là năng lực kế toán, năng lực chuyên môn và năng lực kinh doanh. Bolt-Lee & Foster (2003) cũng đã công bố năng lực kế toán cốt lõi bao gồm năng lực chức năng, năng lực cá nhân và năng lực quan điểm kinh doanh rộng. Khung này đã được Yanto (2012) sử dụng dé đo lường mức độ hài hòa năng lực của sinh viên tốt nghiệp kế toán từ tám trường đại học công lập ở Indonesia. Nghiên cứu của Bui và Porter (2010); De Lange và cộng sự, (2006); Kavanagh và Drennan, (2008) cung cấp bằng chứng cho thấy các nhà tuyên dụng nhận thay sinh viên tốt nghiệp kế toán chưa sẵn sàng làm việc.
Bui và Porter (2010) cho thấy rằng các nhà tuyên dụng kế toán ở New Zealand có sự khác nhau trong việc ưu tiên các thuộc tính của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Ví dụ, các công ty nhỏ và vừa chú trọng nhiều hơn vào kỹ năng giao tiếp giữa các cá nhân so với kỹ năng thuyết trình và cũng dễ chấp nhận hơn đối với những kỹ năng viết không được tốt. Tempone và cộng sự (2012) xác nhận các phát hiện của Bui và Porter (2010) băng cách nghiên cứu các nhà tuyên dụng kế toán khác nhau 6 Uc và khang định rằng nhu cau về các kỹ năng chung cụ thê dựa trên lĩnh vực kinh doanh của nhà tuyên dụng.1 Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu STT | Năng lực Tên các tổ chức và các nhóm nghiên cứu 1 Kỹ năng giao tiếp Lê Thị Ngọc Mai, Nguyễn Thị Thanh Tâm (2019), Lê Kim Ngọc & Định Thanh Hà (2017 2 Khả năng ứng dụng Lê Thị Ngọc Mai, Nguyễn Thị Thanh Tâm (2019), Vũ Thị Thanh kiến thức vào công Bình, Nguyễn Thị Thanh Loan, Hoàng Thị Hương (2019 việc thực tế 3 Khả năng làm việc Lê Thị Ngọc Mai, Nguyễn Thị Thanh Tâm (2019), Lê Kim Ngọc trong môi trường & Dinh Thanh Hà (2017) chuyên nghiệp 4 Kinh nghiệm thực tế Lê Kim Ngọc & Dinh Thanh Hà (2017) 5 Kỹ năng làm việc Vũ Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Thanh Loan, Hoàng Thị Hương nhóm (2019) Botes (2009) Jackling và de Lange (2009), Kavanagh và Drennan (2008), Tempone và cộng sự (2012), Wells va cộng sự (2009), Low và cộng sự (2016) 6 Khả năng hội nhập Vũ Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Thanh Loan, Hoàng Thị Hương (2019) 7 Trình độ tin học Vũ Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Thanh Loan, Hoàng Thị Hương (2019), Lê Kim Ngọc & Định Thanh Hà (2017. 8 Trình độ ngoại ngữ Vũ Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Thanh Loan, Hoàng Thị Hương (2019), Lê Kim Ngọc & Định Thanh Hà (2017) 9 Kỹ năng giải quyết Botes (2009), Hunton (2002), Low và cộng sự (2016) vân đê (Nguôn: Tác giả tổng hợp) 1.
Khoảng trống và những định hướng nghiên cứu Cho đến gần đây, nghiên cứu nhằm xác định năng lực kế toán cần có của sinh viên ngành Kế toán — Kiểm toán dé đáp ứng yêu cầu công việc trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay dường như rat hạn chế về số lượng. Khoảng cách năng lực luôn xảy ra, bởi vì các doanh nghiệp thay đổi nhanh hon so với chương trình giảng dạy tại các cơ sở đào tạo kế toán. Khung năng lực cần có sự giao thoa dé đáp ứng giữa các bên, đặc biệt là giữa bên sử dụng lao động và bên cung cấp lao động. Thực tế cho thấy, bên cung cấp lao động (các cơ sở đào tạo) thường đặt nặng về vấn đề nghiệp vụ kỹ thuật, lý thuyết hàn lâm.
Trong khi đó, các doanh nghiệp lại kỳ vọng vào hành vi, thai độ, thành tích nghề nghiệp, kinh nghiệm thực tế. Chính vì vậy, cần quan tâm tới mối liên hệ tương quan giữa hiệu suất đào tạo và hiệu suất nghề nghiệp dé xây dựng khung năng lực phù hợp. Do đó, nghiên cứu cé gắng xác định năng lực của sinh viên ngành Kế toán — Kiểm toán dựa trên mô hình ASK dé đáp ứng các tiêu chuẩn địa phương, khu vực và quốc tế. Khi các chỉ số năng lực kế toán này được thiết lập, các trường đại học có thé lay chúng làm chuẩn năng lực tối thiểu cho sinh viên tốt nghiệp ngành Kế toán — Kiểm toán (chuẩn dau ra).
Các trường đại học cũng có thé sử dụng chuẩn năng lực để điều chỉnh quá trình giáo dục và đầu vào. Nghiên cứu này có hai định hướng, đó là: 1. Phát triển các chỉ số năng lực kế toán cần thiết cho sinh viên tốt nghiệp kế toán đề đáp ứng yêu cầu công việc với các doanh nghiệp khu vực và quốc tế trong bối cảnh chuyên đổi số hiện nay 2. Xác thực các chỉ số bằng cách hỏi cả sinh viên đã tốt nghiệp và sinh viên chưa tốt nghiệp.