CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về năng lực lãnh đạo của đội ngũ quản lý doanh nghiệp Chủ đề về năng lực lãnh đạo doanh nghiệp là chủ đề đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới, trong đó nhiều vấn đề liên quan đã được bàn luận và thống nhất. Tuy nhiên, vẫn còn có nhiều quan niệm về năng lực lãnh đạo cũng như các yếu ttố tcấu thành năng lực lãnh đạo tùy thuộc vào quan điểm của từng tác giả.
Liên tquan đến những nội dung nghiên cứu của luận án, tác giả đã tìm hiểu các công trình nghiên cứu tcó liên quan đến năng lực lãnh đạo nói chung và của lãnh đạo doanh nghiệp nói riêng: JeffreyA. Reed Eckhardt (1996) trong công trình “Lãnh đạo và công việc điều hành” tập trung vào khía cạnh cảm xúc cá nhân, nên phạm trù về năng lực lãnh đạo được xác định bao gồm: biểu tượng, sức quyến rũ, người gây nguồn cảm hứng. Người lãnh đạo luôn phải đối mặt với cảm xúc cá nhân khi xây dựng chiến lược, điều hành và quản trị tổ chức. Barach và Eckhardt (1996) ủng hộ trường phái lý thuyết lãnh đạo chuyển đổi khi cho rằng người lãnh đạo có thể khơi dậy tinh thần của thuộc cấp thông qua bản tuyên bố sứ mệnh phù hợp, phát triển các giá trị và mục tiêu được chia sẻ; người lãnh đạo có trách nhiệm điều hành tổ chức trong một môi trường có sự khuyến khích, thúc đẩy.
Các tác giả cũng đưa ra các yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo như khát vọng, quyết đoán, khả năng phản ứng với môi trường bên ngoài, khả năng trao quyền, có tầm nhìn xuất chúng, tự tin, khả năng chịu đựng, khả năng bám trụ, đề cao lòng trung thành, coitrọng tình cảm, chăm lo, có quyền hành, khả năng truyền thông và giao tiếp, có nhiệt huyết, luôn lắng nghe, đề cao sự tự tin, bậc thầy kinh nghiệm, mẫu mực. Khi nghiên cứu năng lực lãnh đạo của các doanh nghiệp ở Ai Cập Raghda Fawzy Mohamed (2007) lại cho rằng năng lực của một nhà lãnh đạo phải hội tụ đủ 5 đặc điểm và 17 năng lực cần thiết đó là: (i) Năm đặc điểm gồm: sự tin cậy, sự quyết tâm, đạo đức, lòng can đảm và lòng từ bi. (ii) Mười bảy năng lực gồm: Khả năng tự nhận thức, tầm nhìn, khả năng kiên trì, khả năng truyền cảm hứng, khả năng lãnh đạo, khả năng xem xét tư duy, khả năng đưa ra quyết định, khả năng giao tiếp, khả năng làm việc nhóm, khả năng giao quyền cho người khác, khả năng phối hợp hiệu quả trong công việc, khả năng duy trì hành vi, khả năng sáng tạo, khả năng xử lý các tình huống, khả năng linh hoạt nhạy bén, cởi mở trong quan hệ và công việc, sẵn sàng chịu trách nhiệm. Trong luận án tiến sĩ của Rod L.Flanigan khi nghiên cứu về 10 hoạt động của các chi nhánh của WinWholesale - một nhà phân phối công nghiệp lớn với nhiều địa điểm trên khắp nước Mỹ gồm Winnelson, Winair, Winelectric, Windustrial, Wintronic, Winwater thì tác giả nhấn mạnh sự thành công của các doanh nghiệp vừa và nhỏ phụ thuộc vào hiệu quả của phong cách lãnh đạo (Rod L.
Trong khi đó, nghiên cứu gần đây của Taylor, Cornelius và Kate Colvin (2014) lại cho rằng trong các doanh nghiệp phi lợi nhuận thì năng lực lãnh đạo biểu hiện ở hành vi có tầm nhìn xa của các nhà lãnh đạo, hành vi đó sẽ quyết định sự thành công của doanh nghiệp. Cùng phạm vi nghiên cứu về năng lực lãnh đạo trong các doanh nghiệp, hai nhóm tác giả bao gồm Cavazotte, Moreno, Hickmann (2012) và Strohhecker, GroBler (2013) tập trung nghiên cứu trong lĩnh vực quản trị vật tư, năng lượng. Các tác giả này cùng tiếp cận theo trường phái lãnh đạo cải cách (Transformational leadership) với việc đề cao các yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo. Strohhecker và GroBler đề cao 4 tố chất của nhà lãnh đạo bao gồm: Sự thông minh,Tư duy theo quá trình, Kiến thức, Nhân cách và Sự say mê (Intelligence-as-Process, Intelligence-as- Knowledge, Personality, Interest).
Còn Cavazotte, Moreno và Hickmann thì đề cao 5 đặc điểm của tính cách nhà lãnh đạo: tính hướng ngoại, sự tận tâm, sự cởi mở với những trải nghiệm mới, tính ôn hòa và sự chế ngự cảm xúc. Khi nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo, nhóm tác giả Abigail Redick, Idalia Reyna, Cynthia Schaffer và Deborah Toomey (2014) đã phát triển một mô hình hiệu quả cho lãnh đạo trong môi trường dự tán. Nghiên cứu được nhóm tác giả tiến hành thông qua việc xem xét các tài liệu trong quá khứ và thiện thành về quản lý dự án, về năng lực lãnh đạo quản lý dự án. Tác giả đưa ra 4 nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo của các doanh nghiệp trong đó nhấn mạnh các yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo theo mô hình ASK của Bass (1990): (1) Bản thân người lãnh đạo bao gồm: trí tuệ cảm xúc, giá trị cá nhân, kiến thức, định hướng thay đổi, giá trị cốt lõi và tự đánh giá.
(2) Lãnh đạo những người khác bao gồm: khả năng giải quyết các xung đột, khả năng gắn kết nhân viên, tạo động lực làm việc. (3) Các yếu tố tâm lý gồm: kỹ năng, thái độ, sự căng thẳng. (4) Các yếu tố môi trường gồm: tầm nhìn, tư duy chiến lược, quyền lực và sự ảnh hưởng. 11 Bản thân người lãnh đạo Yếu tố NĂNG LỰC Lãnh đạo tâm lý LÃNH ĐẠO người khác Yếu tố môi trường Hình 1.
Mô hình bốn nhóm nhân tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo dự án Nguồn: Abigail Redick, Idalia Reyna, Cynthia Schaffer, Deborah Toomey, 2014 Gần đây nhất, Lưu Ngọc Hoạt (2015) có đưa ra 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến năng lực lãnh đạo nói chung ở Việt Nam trong giai đoạn 2015 - 2020 đó là: (1) Yếu tố liên quan đến bản thân người lãnh đạo gồm: chỉ số cảm xúc (EQ - Emotional Quotient); khả năng lắng nghe, chia sẻ của người lãnh đạo (thông qua lý thuyết cửa sổ của Johary); khả năng quan tâm đến cả công việc và con người của người lãnh đạo (thông qua thuyết X và Y của Douglas (1960) và thuyết Maslow (1943, 1990) và thuyết Z của W. Edwards Choid Deming). Và 4 nhóm người với các đặc tính cá nhân khác nhau trong một tổ chức: Nhóm người mang đặc tính của Thần Zeus (Vua của các thần theo thần thoại Hy Lạp -Quyền lực, gia trưởng), nhóm người mang đặc tính của Thần Apollo (Vị thần của sự hài hòa và tính logic), nhóm người mang đặc tính của Nữ thần Athena (Nữ thần của trí tuệ và thông thái), nhóm người mang đặc tính của Thần Dionysus (Vị thần của rượu vang và lễ hội). (3) Phản ứng của các nhóm người khác nhau trong một tổ chức với sự đổi mới theo thuyết khuếch tán sự đổi mới của Rogers.
Bên cạnh đó, cùng chủ đề nghiên cứu về năng lực lãnh đạo của đội ngũ giám đốc điều hành (CEO) Việt Nam, ba tác giả Trần Thị Vân Hoa t(2011), Nguyễn Mạnh 12 Hùng (2012) và Trần Thị Phương Hiền (2014) đã có các cách nhìn nhận khác nhau về năng lực lãnh đạo cũng như các yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo của đội ngũ CEO Việt Nam: Trần Thị Vân Hoa và cộng sự trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ năm 2011 “Nâng cao năng lực lãnh đạo của các giám đốc điều hành doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” đã dựa trên cơ sở lý thuyết của mô hình ASK (Attitudes - Skills - Knowledge) của Bass (1990) để phác thảo những yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo của đội ngũ CEO Việt Nam bao gồm: Thái độ, kiến thức và kỹ năng lãnh đạo. Còn Trần Thị Phương Hiền (2014) trong luận án tiến sĩ “Năng lực lãnh đạo của đội ngũ CEO Việt Nam (Khảo sát nghiên cứu ở Hà Nội)” thì lại sử dụng mô hình BKD (BE - KNOW - DO) của Donald J. Trong đó, “what” hàm ý các tố chất cá nhân lãnh đạo (BE), kiến thức lãnh đạo (KNOW) và “how” hàm ý tới các hành động lãnh đạo (DO) để trên cơ sở đó, các tổ chức sẽ lựa chọn những tố chất, kiến thức và hành động lãnh đạo phù hợp, có thể không giống nhau và không giống với những phẩm chất, kiến thức và hành động lãnh đạo mà BKD đề xuất trong quân đội Mỹ. Nhưng Nguyễn Mạnh Hùng trong bài viết “Nâng cao năng lực lãnh đạo điều hành của CEO Việt Nam trong môi trường kinh doanh đầy biến động” thì không đề cập đến các yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo của CEO theo bất cứ mô hình lý thuyết nào mà tác giả chỉ dừng lại ở việc chỉ ra các nhược điểm của đội ngũ giám đốc điều hành (CEO) Việt Nam là thiếu sự đoàn kết, kỷ luật lao động chưa cao bên cạnh các ưu điểm như: sự quyết đoán, sáng tạo, hiểu biết về quản lý điều hành, có kỹ năng giao tiếp… để từ đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo cho đội ngũ CEO Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2020.
Công trình nghiên cứu “Đánh giá năng lực giám đốc điều hành qua mô hình ASK” của Lê Quân cũng đã ứng dụng mô hình năng lực ASK (Attitudes - Skills - Knowledge) của Bass (1990) để đánh giá năng lực quản lý điều hành chung của giám đốc doanh nghiệp nhỏ, không đi sâu vào năng lực lãnh đạo. Công trình đã đưa ra kết luận nhất định về thực trạng năng lực quản lý của giám đốc điều hành tại các doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam dựa trên 3 yếu tố cấu thành năng lực lãnh đạo đó là: Kiến thức, kỹ năng và thái độ của giám đốc doanh nghiệp (Lê Quân, 2011). Đặng Ngọc Sự (2012) nhấn mạnh vào việc đánh giá năng lực lãnh đạo của các giám đốc doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam thông qua mô hình gồm 7 năng lực “con” (tầm nhìn chiến lược, động viên khuyến khích, phân quyền uỷ quyền, gây ảnh hưởng và xây dựng hình ảnh, ra quyết định, hiểu mình hiểu người, giao tiếp lãnh đạo). Ngoài ra, một loạt các tác phẩm của 13 Vũ Đăng Minh (2010), Vũ Văn Hiền (2007), Cao Khoa Bảng (2008), Phùng Xuân Nhạ (2012) cũng đã chỉ đưa ra bức tranh tổng quát về năng lực điều hành doanh nghiệp của lãnh đạo các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt Nam, của khối cơ quan công quyền hay của các doanh nghiệp Nhà tnước… Trong đó chỉ ra những ưu điểm nhất định như: sự quyết đoán, lạc quan về tương lai, có khả năng tạo dựng quan hệ… song bên cạnh đó còn nhiều “lỗ thổng” như: kỹ năng quản trị con người yếu, kỹ năng dự báo kém… 1.