CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHẬN DẠNG CƠ HỘI NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về năng lực lãnh đạo 1. Các nghiên cứu ở ngoài nước Trong lĩnh vực lãnh đạo có rất nhiều công trình nghiên cứu bàn luận và có những cống hiến nhất định và đều khẳng định rằng: tố chất, kiến thức, kỹ năng…là những thành tố làm nên thành công trong thuật lãnh đạo. Để tập trung vào những nội dung này, tác giả tìm hiểu công trình nghiên cứu có liên quan.
Wright và Taylor (1984) trong công trình nghiên cứu ”nâng cao năng lực lãnh đạo” cho rằng: năng lực lãnh đạo liên quan đến khả năng gây ảnh hưởng, kỹ năng giải quyết vấn đề và khả năng ra quyết định, khả năng nhận thức, kiềm chế/tự điều chỉnh, thu thập thông tin, thấu cảm, truyền thông phi ngôn ngữ. Đây là tập hợp các đặc tính và năng lực của người lãnh đạo. Robert (1991) với công trình nghiên cứu ”Những điều cốt yếu của lãnh đạo” tin rằng các năng lực mà người lãnh đạo cần phải có là: có chiến lược, khả năng đổi mới, khả năng đối mặt với những vấn đề phức tạp hay thay đổi. Vai trò của người lãnh đạo lúc này đó là nhà thiết kế, nhà sư phạm, nhà quản trị.
Barach và Eckhardt (1996) với công trình ” lãnh đạo và công việc của người quản trị” tập trung ở khía cạnh cảm xúc cá nhân làm nên năng lực lãnh đạo, gồm: biểu tượng, sức quyến rũ, người gây nguồn cảm hứng. Người lãnh đạo luôn phải đối mặt với cảm xúc cá nhân khi xây dựng chiến lược, điều hành và quản trị tổ chức. Barach và Eckhardt ủng hộ trường phái lý thuyết lãnh đạo chuyển đổi khi cho rằng: người lãnh đạo có thể khơi dậy tinh thần của thuộc cấp thông qua bản tuyên bố sứ mệnh phù hợp, phát triển các giá trị và mục tiêu được chia sẻ; người lãnh đạo có trách nhiệm điều hành tổ chức trong một môi trường có sự khuyến khích, thúc đẩy. Barach và Eckhardt cũng đưa ra các thành tố của lãnh đạo: khát vọng, quyết đóan, khả năng phản ứng với môi trường ngoài, khả năng trao quyền, có tầm nhìn, xuất chúng (kiến thức, kỹ năng, sự khôn ngoan, khả năng phán đóan), tự tin, khả năng chịu đựng, khả năng bám trụ, đề cao lòng trung thành, coi 7 trọng tình cảm, chăm lo, có quyền hành, khả năng truyền thông và giao tiếp, có nhiệt huyết, luôn lắng nghe, đề cao sự tự tin, bậc thầy kinh nghiệm, mẫu mực.
Hilt (1999) với công trình nghiên cứu ”nhà quản trị lãnh đạo” phát hiện một số tính cách được coi là chỉ số chung của các nhà lãnh đạo bất kể ở nền văn hóa hay tổ chức nào, gồm: định hướng chiến lựơc tổ chức rõ ràng, khả năng truyền bá chiến lược với các đối tượng hữu quan, khả năng thúc đẩy thu hút mọi người ủng hộ chiến lược và khả năng liên kết hệ thống. Agle et al. Hơn thế, các nghiên cứu gần đây tập trung nhiều vào việc nhận biết các “biến tình huống” có ảnh hưởng tới mối quan hệ giữa năng lực lãnh đạo và kết quả hoạt động của doanh nghiệp (theo De Cremer & van Knippenberg 2004, Keller 2006,Walumbwa et al. Bên cạnh đó, các nghiên cứu về năng lực lãnh đạo những năm gần đây lại tập trung vào những khía cạnh của lãnh đạo như: giới tính, học vấn, lứa tuổi như Grogan & Shakeshaft (2011), Irby, & Jackson (2012)[58].
Từ tổng quan các lý thuyết về lãnh đạo có thể thấy các nghiên cứu về năng lực lãnh đạo có thể quan tâm tới bối cảnh, các yếu tố thuộc môi trường ngoài tổ chức cũng như các đối tượng hữu quan khác nhưng đều cho thấy rằng các tố chất, kiến thức và kỹ năng lãnh đạo là cần thiết đối với cương vị lãnh đạo và quản trị.Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phát hiện ra các yếu tố này đối với cương vị đó? Liệu các yếu tố này có thể áp dụng chung cho mọi đối tượng lãnh đạo và quản trị được hay không hay nó còn phụ thuộc vào yếu tố văn hoá, địa lý, phong tục,…. Ở khía cạnh tố chất lãnh đạo, lý thuyết tố chất cá nhân đã chỉ ra một số đặc tính nhất định đảm bảo cho sự thành công của người lãnh đạo - nếu người lãnh đạo có những tố chất ấy thì thường có năng lực lãnh đạo. Chúng ta thường nghe nói: anh ta sinh ra để làm lãnh đạo, cô ấy là một nhà lãnh đạo bẩm sinh. Câu nói này ám chỉ rằng cá nhân có những tố chất đặc biệt nào đó sẽ có năng lực lãnh đạo.
8 Stogdill với hai công trình nghiên cứu (1948,1974) dựa trên các nghiên cứu có liên quan đến các tố chất lãnh đạo đã được thực hiện trước đó. Trong cuộc nghiên cứu đầu tiên ông phát hiện một nhóm đặc tính thường xuất hiện ở các cá nhân lãnh đạo gồm: thông minh, có trách nhiệm, tự tin, có năng lực xã hội, hoạt bát, sáng suốt, sáng kiến, kiên định; còn ở cuộc nghiên cứu thứ hai, trong so sánh với nghiên cứu thứ nhất, ông phát hiện ngòai đặc tính cá nhân thì còn có các nhân tố thuộc về bối cảnh làm nên năng lực lãnh đạo. Khá đồng nhất với nghiên cứu thứ nhất, nghiên cứu thứ hai cũng phát hiện 10 đặc tính cá nhân có ảnh hưởng thuận chiều đến năng lực lãnh đạo, gồm: Có trách nhiệm, nghị lực và kiên định về mục tiêu chung, dám chấp nhận rủi ro, có chính kiến trong giải quyết các vấn đề, đề cao các sáng kiến, tự tin, nhạy cảm, thiện chí, giảm thiểu và hạn chế căng thẳng cá nhân, sẵn sàng tha thứ trước thất bại và sai lầm của người khác,năng lực gây ảnh hưởng với người khác, năng lực xây dựng và kiểm sóat hệ thống truyền thông xã hội. Bass (1981,1990) làm một phép so sánh các đặc tính và năng lực lãnh đạo được phát hiện trong các nghiên cứu về lãnh đạo từ năm 1945 đến 1997, và cho đến nay, các công trình nghiên cứu liên quan vẫn còn nhắc đến (bảng 1.) Lord và cộng sự (1986) coi thông minh, nam tính và khả năng gây ảnh hưởng là tố chất liên quan chặt chẽ đến người lãnh đạo bất kể trong bối cảnh nào.Marlove (1986) phát hiện thông minh cảm xúc cho phép người lãnh đạo có thể thấu hiểu được suy nghĩ, hành vi, cảm xúc của người khác để hành động phù hợp hơn.
Kirpatrick và Locke (1991) chỉ ra: lãnh đạo khác với những người khác ở các đặc tính sau: tự tin, am hiểu nhiệm vụ, khả năng nhận thức, liêm chính ngay thẳng, năng lực thôi thúc và truyền động lực, nhiệt tình nhiệt huyết. Tố chất này có thể do bẩm sinh, cũng có thể do đào tạo rèn luyện mà có; giúp chúng ta nhận diện nhà lãnh đạo và là một phần không thể thiếu của năng lực lãnh đạo. Smith và Foti (1998) phát hiện một số tố chất lãnh đạo như sự thông minh hơn người, tự tin, vượt trội. Mumford và cộng sự (2000) cho rằng có 3 đặc tính cá nhân làm nên năng lực người lãnh đạo : sẵn sàng đối mặt với khó khăn và tận dụng nó như là cơ hội để phát triển, luôn có khả năng gây ảnh hưởng, cam kết xã hội.1: Đặc trưng của năng lực lãnh đạo trong nghiên cứu của Bass 1945-1970 1980-1997 Kỹ năng chuyên môn Có tầm nhìn Thân thiện với cộng đồng xã hội Khả năng thúc đẩy và truyền cảm hứng Tập trung và thúc đẩy nhiệm vụ Năng lực chuyên môn Khích lệ tinh thần nhóm Năng lực lãnh đạo mẫu Khả năng giao tiếp xã hội Năng lực ra quyết định Khả năng kiểm soát và cân bằng cảm Năng lực truyền thông hiệu quả xúc Hiệu quả lãnh đạo Đề cao năng lực nhóm và cá nhân Kỹ năng hành chính Năng lực trao quyền Thành quả tổng thể Năng lực phối hợp hiệu quả Có chất xám Năng lực ứng xử công bằng Có uy quyền Năng lực đổi mới và sáng tạo Có đạo đức,liêm chính Thích ứng, linh hoạt Dám chịu trách nhiệm Tư tưởng phóng khoáng và đánh giá khách quan, sát thực Duy trì các nhóm làm việc hiệu quả Dám chịu trách nhiệm Đề cao sự phối hợp và làm việc nhóm Năng lực đề cao và áp dụng các chuẩn mực Khả năng giao tiếp Đáng tin cậy Có sức khoẻ Quyết đoán Đề cao các chuẩn mực hành động Dũng cảm, gan dạ Sáng tạo, độc lập Sự nhạy cảm/ đồng cảm Thích ứng Có đạo đức, liêm chính Có lòng thương cảm và trắc ẩn Có kinh nghiệm, năng động Tinh thần nuôi dưỡng Đề cao kiểm soát nhóm phi chính thức Cẩn thận, có văn hoá Xa cách, cách biệt Nguồn:Tác giả tổng hơp[37].
Horey (2001) trong bài ”Năng lực lãnh đạo - liệu có những nhận thức khác biệt” đưa ra một số tố chất đặc trưng của năng lực lãnh đạo được trình 10 bày trong bảng 1. Mc Crae & Costa (1987) phát hiện “5 tố chất lãnh đạo lớn - big five personality factors” gồm: năng lực xã hội, sáng tạo, quyết đoán, tin tưởng và nuôi dưỡng cấp dưới, các yếu tố liên quan đến tâm lý và tinh thần. Judge, Bono, Ilies & Gerhardt (2002) tiến hành phân tích 78 cuộc nghiên cứu từ 1967-1998 cho thấy 5 tố chất lớn này liên quan đến năng lực lãnh đạo và sự thành công của người lãnh đạo; trong đó, năng lực xã hội được chú trọng nhất còn tin tưởng và nuôi dưỡng cấp dưới ít được nhấn mạnh nhất. Zaccaro, Kemp, Bader (2004) bổ sung thông minh cảm xúc vào tố chất của người lãnh đạo.
Zaccaro, Kemp, Bader (2004) bổ sung thông minh cảm xúc vào tố chất của người lãnh đạo.2: Các đặc trưng năng lực lãnh đạo (Jeffrey D.Horey và Jon J.Fallesen) Đặc tính Tư tưởng Giao tiếp Thái độ với Nguyên chung rủi ro tắc Gây ảnh hưởng Phóng khoáng Công bằng Sẵn sàng Cam kết Tự tin Hợp tác Sáng tạo Hiếu kỳ Thấu hiểu Nhiệt tình Độc lập Có đạo đức Dám mạo hiểm Vị tha Nguồn: [36] Như vậy, các nghiên cứu về tố chất lãnh đạo không chủ trương áp dụng mẫu lãnh đạo nào trong tình huống cụ thể mà nó tổng hợp và đưa ra những đặc tính điển hình của người lãnh đạo và khẳng định: với những tố chất nhất định người lãnh đạo sẽ lãnh đạo hiệu quả hơn; và tổ chức cũng sẽ có được kết quả tốt đẹp hơn nếu các cương vị quản trị trong tổ chức có được những “thông số chuẩn” của lãnh đạo. Để lựa chọn đúng người, tổ chức cần có công cụ đánh giá cá nhân với các đặc tính nhất định ở từng cương vị lãnh đạo điều hành và lấy đó làm cơ sở sử dụng, bố trí cán bộ.