Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG KỸ NĂNG MỀM CHO VIÊN CHỨC HÀNH CHÍNH 1.1 Tổng quan nghiên cứu về bồi dưỡng Kỹ năng mềm. Thuật ngữ KNM được sử dụng chính thức lần đầu tiên vào năm 1972 trong các tài liệu tập huấn, đào tạo của quân đội Mỹ. Từ đó đến nay rất nhiều nghiên cứu về KNM đã được thực hiện.
Một nghiên cứu được tiến hành bởi Đại học Harvard ghi nhận rằng 80% những thành tựu trong sự nghiệp được quyết định bởi những KNM và chỉ có 20% kỹ năng cứng [25]. Do nhu cầu phát triển, xã hội ngày nay từ thế hệ trẻ đến những người đã làm việc lâu năm đều rất quan tâm đến KNM, muốn đạt được thành công trong cuộc sống, mỗi người đều cần phải tìm hiểu và rèn luyện để hội tụ đủ KNM cần thiết. Cuộc sống hiện đại với môi trường làm việc ngày càng năng động, nhiều sức ép và tính cạnh tranh như hiện nay thì KNM là một yếu tố không thể thiếu. Đó chính là lý do vì sao chủ đề về KNM đưa ra nghiên cứu, phân tích ở nhiều góc độ với nhiều cách tiếp cận khác nhau từ các ngành nghề đến các tổ chức, các quốc gia…với mục tiêu tìm ra các KNM cơ bản và cần thiết để trang bị cho nguời lao động 1.1 Nghiên cứu nước ngoài Tại Mỹ, Bộ Lao động Mỹ (The U.
Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development) gần đây đã thực hiện một cuộc nghiên cứu về các kỹ năng cơ bản trong công việc. Kết luận được đưa ra là có 13 kỹ năng cơ bản cần thiết để thành công trong công việc: 1. Kỹ năng học và tự học (learning to learn) 2. Kỹ năng lắng nghe (Listening skills) 3.
Kỹ năng thuyết trình (Oral communication skills) 4. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills) 5. Kỹ năng tư duy sáng tạo (Creative thinking skills) 6. Kỹ năng quản lý bản thân và tinh thần tự tôn (Self esteem) 7.
Kỹ năng đặt mục tiêu/ tạo động lực làm việc (Goal setting/ motivation skills) 5 Luan van 8. Kỹ năng phát triển cá nhân và sự nghiệp (Personal and career development skills) 9. Kỹ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ (Interpersonal skills) 10. Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork) 11.
Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills) 12. Kỹ năng tổ chức công việc hiệu quả (Organizational effectiveness) 13. Kỹ năng lãnh đạo bản thân (Leadership skills) Chính phủ Canada cũng có một bộ phụ trách về việc phát triển kỹ năng cho người lao động. Bộ Phát triển Nguồn Nhân lực và Kỹ năng Canada (Human Resources and Skills Development Canada - HRSDC) có nhiệm vụ xây dựng nguồn nhân lực mạnh và có năng lực cạnh tranh, giúp người Canada nâng cao năng lực ra quyết định và năng suất làm việc để nâng cao chất lượng cuộc sống.
Bộ này cũng có những nghiên cứu để đưa ra danh sách các kỹ năng cần thiết đối với người lao động. Conference Board of Canada là một tổ chức phi lợi nhuận của Canada dành riêng cho nghiên cứu và phân tích các xu hướng kinh tế, cũng như năng lực hoạt động các tổ chức và các vấn đề chính sách công cộng. Tổ chức này cũng đã có nghiên cứu và đưa ra danh sách các kỹ năng hành nghề cho thế kỷ 21 (Employability Skills 2000+) bao gồm cá kỹ năng như: 1. Kỹ năng giao tiếp (Communication) 2.
Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving) 3. Kỹ năng tư duy và hành vi tích cực (Positive attitudes and behaviours) 4. Kỹ năng thích ứng (Adaptability) 5. Kỹ năng làm việc với con người (Working with others) 6.
Kỹ năng nghiên cứu khoa học, công nghệ và toán (Science, technology and mathematics skills) Tại Úc, Hội đồng Kinh doanh Úc (BCA) và Phòng thương mại và công nghiệp Úc (the Australian Chamber of Commerce and Industry - ACCI) với sự bảo trợ của Bộ Giáo dục, Đào tạo và Khoa học (DEST) và Hội đồng giáo dục quốc gia Úc (ANTA) đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” (năm 2002). Cuốn 6 Luan van sách cho thấy các kỹ năng và kiến thức mà người sử dụng lao động yêu cầu bắt buộc phải có. Kỹ năng hành nghề (employability skills) là các kỹ năng cần thiết không chỉ để có được việc làm mà còn để tiến bộ trong tổ chức thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến lược của tổ chức. Các kỹ năng hành nghề bao gồm có 8 kỹ năng như sau: 1.
Kỹ năng giao tiếp (Communication skills) 2. Kỹ năng làm việc nhóm (Teamwork skills) 3. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills) 4. Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm (Initiative and enterprise skills) 5.
Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organising skills) 6. Kỹ năng quản lý bản thân (Self-management skills) 7. Kỹ năng học tập (Learning skills) 8. Kỹ năng công nghệ (Technology skills) Chính phủ Anh cũng có cơ quan chuyên trách về phát triển kỹ năng cho người lao động.
Bộ Đổi mới, Đại học và Kỹ năng được chính chủ thành lập từ ngày 28/6/2007, đến tháng 6/2009 thì được ghép với Bộ Kinh tế, Doanh nghiệp và Đổi mới Pháp chế để tạo nên bộ mới là Bộ Kinh tế, Đổi mới và Kỹ năng. Bộ này chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan đến việc học tập của người lớn, một phần của giáo dục nâng cao, kỹ năng, khoa học và đổi mới. Cơ quan chứng nhận chương trình và tiêu chuẩn (Qualification and Curriculum Authority) cũng đưa ra danh sách các kỹ năng quan trọng bao gồm: 1. Kỹ năng tính toán (Application of number) 2.
Kỹ năng giao tiếp (Communication) 3. Kỹ năng tự học và nâng cao năng lực cá nhân (Improving own learning and performance) 4. Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information and communication technology) 5. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving) 6.
Kỹ năng làm việc với con người (Working with others) 7 Luan van Cục phát triển lao động (WDA) của chính phủ Singapore đã thiết lập hệ thống các kỹ năng hành nghề ESS (Singapore Employability Skills System) gồm 10 kỹ năng: 1. Kỹ năng công sở và tính toán (Workplace literacy & numeracy) 2. Kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông (Information & communications technology) 3. Kỹ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định (Problem solving & decision making) 4.
Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm (Initiative & enterprise) 5. Kỹ năng giao tiếp và quản lý quan hệ (Communication & relationship management) 6. Kỹ năng học tập suốt đời (Lifelong learning) 7. Kỹ năng tư duy mở toàn cầu (Global mindset) 8.
Kỹ năng tự quản lý bản thân (Self-management) 9. Kỹ năng tổ chức công việc (Workplace-related life skills) 10. Kỹ năng an toàn lao động và vệ sinh sức khỏe (Health & workplace safety)[27]. KNM có thể định nghĩa như các kỹ năng hành vi cần thiết để ứng dụng những kỹ năng kỹ thuật và kiến thức vào nơi làm việc.
nếu kỹ năng “cứng” là "những gì bạn biết" thì KNM là "cách bạn sử dụng".Nhìn chung, rất nhiều tổ chức, quốc gia khẳng định tầm quan trọng của KNM đối với con người trong công việc cũng như cuộc sống. Tuy nhiên việc đào tào các kỹ năng “mềm” vẫn còn khá yếu ở trong các chương trình khoa học và kỹ thuật [23].2 Nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam hiện nay, các yêu cầu về KNM cơ bản tuy chưa được cụ thể hóa ở tầm quốc gia như các nước trên nhưng chủ đề KNM đã được đem ra phân tích, luận bàn sôi nổi trên các diễn đàn, báo điện tử và tạp chí khoa học trong thời gian gần đây: Bài viết “Top 10 Kỹ năng “mềm” để sống học tập và làm việc hiệu quả” của tác giả Phan Quốc Việt trên báo Dân trí chỉ ra mâu thuẫn do thiếu hụt KNM trong xã hội 8 Luan van Việt Nam hiện nay: “Có một nghịch lý rất khó lý giải: Người VN thi các giải quốc tế (toán, vật lý, cờ vua, robotcom.) đều được đánh giá rất cao, thế nhưng lại chưa thành đạt nhiều trong công việc” và đề xuất 10 kỹ năng căn bản và quan trọng hàng đầu cho người lao động trong thời đại ngày nay [15] 1. Kỹ năng học và tự học (Learning to learn) 2. Kỹ năng lãnh đạo bản thân và hình ảnh cá nhân (Self leadership & Personal branding) 3.
Kỹ năng tư duy sáng tạo và mạo hiểm (Initiative and enterprise skills) 4. Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc (Planning and organising skills) 5. Kỹ năng lắng nghe (Listening skills) 6. Kỹ năng thuyết trình (Presentation skills) 7.
Kỹ năng giao tiếp và ứng xử (Interpersonal skills) 8. Kỹ năng giải quyết vấn đề (Problem solving skills) 9. Kỹ năng làm việc đồng đội (Teamwork) 10. Kỹ năng đàm phán (Negotiation skills) Tổng hợp của tác giả Thảo My đưa ra 6 kỹ năng chính cần thiết cho tất cả mọi người đặc biệt là “dân” công sở và giải ý nghĩa cũng như cách rèn luyện các kỹ năng cho các đối tượng này[30].
Đó là các kỹ năng: 1. Kỹ năng giao tiếp 2. Hợp tác và làm việc nhóm 3. Khả năng thích ứng 4.
Kỹ năng giải quyết vấn đề 5. Kỹ năng quan sát 6. Giải quyết mâu thuẫn. Bài viết “7 KNM cần có của một người làm CNTT” do tác giả Lê Nga tổng hợp trên ICTNEWS - Chuyên trang về CNTT của Báo điện tử Infonet, chỉ ra các kỹ năng một người làm CNTT nên luyện tập để trở thành một người chuyên nghiệp [28] là: 1.
Xử lý sự cố 2. Giao tiếp 9 Luan van 3. Khả năng dịch thuật ngữ chuyên ngành 4. Làm việc nhóm 5.
Thuyết trình 6. Kỹ năng chăm sóc khách hàng 7. Nghiên cứu của Phạm Thị Lan Hương và Trần Triệu Khải (2010) đánh giá và đo lường nhận thức của sinh viên về kỹ năng nghề nghiệp trên cơ sở lý thuyết kế thừa các kỹ năng mềm – kỹ năng nghề nghiệp của Duke (2002). Nghiên cứu của nhóm tác giả này đã phát triển một danh sách các kỹ năng cần thiết để đào tạo và bồi dưỡng cho sinh viên ngành Marketing gồm 56 kỹ năng năng chia thành 10 nhóm kỹ năng chính: (1) lãnh đạo, (2) truyền thông, (3) tương tác cá nhân, (4) phân tích, (5) ra quyết định, (6) công nghệ, (7) nhận thức toàn cầu, (8) đạo đức, (9) thực tiễn kinh doanh, (10) hoạch định, (11) tự quản.
Trong đó, các kỹ năng có chỉ số ưu tiên cao là kỹ năng ra quyết định, kỹ năng truyền thông (truyền đạt, thương lượng, đàm phán, viết báo cáo) và đạo đức[14]. Nguyễn Hồng Vân và các công sự (2013) nghiên cứu về nhu cầu kỹ năng mềm của nhân viên trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh ở khu vực TP.