ROY VAN DEN BRINK-BUDGEN TƯ DUY PHẢN BIỆN DÀNH CHO SINH VIÊN Đinh Hồng Phúc dịch Trường Đại học Thủ Dầu Một, 2017 1 ROY VAN DEN BRINK-BUDGEN TƯ DUY PHẢN BIỆN DÀNH CHO SINH VIÊN Học những kĩ năng đánh giá có phê phán và xây dựng luận cứ hiệu quả Đinh Hồng Phúc dịch Trường Đại học Thủ Dầu Một, 2015 2 Dịch theo bản Roy Van Den Brink-Budgen. Critical Thinking for Students: Learn the Skills of Critical Assessment and Effective Argument. How to Books. 3 LỜI TỰA Cho lần xuất bản thứ ba Kể từ khi cuốn sách này đƣợc xuất bản lần đầu vào năm 1996, môn Tƣ duy phản biện đã phát triển rất mạnh mẽ và rất nhanh chóng.
Từ chỗ là môn học hầu hết các giáo viên (và sinh viên) chƣa từng nghe nói tới đến chỗ là môn đƣợc hàng nghìn ngƣời ở hàng trăm trƣờng phổ thông và đại học học tập, môn Tƣ duy phản biện đã có sự tiến triển đáng kể. Tôi rất lấy làm vui khi cuốn sách này, với hàng chục nghìn bản đƣợc bán ra, đã góp phần vào sự tiến triển này. Cuốn sách này giới thiệu cho bạn những kĩ năng cơ bản của Tƣ duy phản biện. Đặc điểm cốt lõi của môn học này là nghiên cứu các luận cứ: làm thế nào để phân tích và đánh giá chúng? Các luận cứ có mặt ở mọi nơi.
Chúng là những gì đang diễn ra trong các quảng cáo, cùng với khuyến nghị nên mua cái gì đó vì lý do này hay khác (chẳng hạn, “có 68% trong số 42 ngƣời phụ nữ nói rằng họ nghĩ các nếp nhăn có thể mờ đi sau hai tuần sử dụng sản phẩm “No More Wrinkles”). Các luận cứ cũng đƣợc báo chí sử dụng trong việc cố gắng làm cho ta tin vào điều này hay điều khác (ví dụ, “ta nên ủng hộ đề xuất phải có thẻ chứng minh nhân dân vì các thẻ này sẽ giúp ta giảm thiểu tội phạm”). Đƣơng nhiên, bản thân ta sử dụng chúng hàng ngày: “Tôi không đồng ý với bạn vì…” Có khả năng xem xét rõ ràng hơn những gì đang diễn ra trong một luận cứ là một kĩ năng rất hữu ích. Kĩ năng này có thể giúp bạn học khá tốt bất 4 cứ môn nào, qua việc nó giúp bạn xem xét chứng cứ và những yêu sách đƣợc nêu ra có liên quan đến chứng cứ.
Nó cũng giúp bạn bằng cách khuyến khích bạn tìm kiếm những cách giải thích khác cho chứng cứ và xét xem những cách giải thích này có tác động gì đến luận cứ của tác giả. Bằng cách này hay cách khác, Tƣ duy phản biện có thể giúp bạn thành thạo hơn trong các hoạt động nghiên cứu của bạn. Nhƣng dù sao thì nó là một kĩ năng hữu ích. Bạn có thể sử dụng nó để xem xét các vấn đề trong các luận cứ của chính bạn và xem xét các vấn đề trong các luận cứ của ngƣời khác.
Nếu bạn đang học môn Tƣ duy phản biện để đánh giá nhƣ kì thi AS, thì cuốn sách này sẽ thực sự hữu ích cho bạn trong việc giới thiệu các kĩ năng mà bạn sẽ cần. Nếu bạn muốn tìm một cuốn sách bộc trực, dễ tiếp thu và ngắn gọn về tƣ duy phản biện thì cuốn sách này là phù hợp cho bạn. Nếu bạn có ý định dự thi các chƣơng trình kiểm tra trắc nghiệm nhƣ TSA, BMAT, LNAT, và Watson Glaser Critical Thinking Appraisal thì bạn sẽ thấy rằng cuốn sách này giúp bạn chuẩn bị có hiệu quả cho tất cả các chƣơng trình thi đó. Khi lần đầu viết cuốn sách này, tôi rất vui là các con tôi chịu đựng đƣợc.
Vì chúng càng lớn thì càng hay tranh biện hơn, bây giờ thì tôi lại cảm ơn các cháu nội tôi vì đã chịu đựng đƣợc. Hi vọng môn Tƣ duy phản biện có thể trƣởng thành và phát triển mạnh mẽ hơn nữa đối với thế hệ sinh viên kế tiếp đang hình thành. Rồi sẽ có ngày, các bạn Daisy, Darcey, Eleanor, Hannie, Martha, Noah, Ruby, và Thomas đƣa môn Tƣ duy phản biện tiến xa hơn nữa. Đến lúc ấy, những ngƣời tóc hoa râm này sẽ cố gắng cầm trịch phát triển môn này.
Roy van den Brink-Budgen 5 Chƣơng 1 Nhận diện luận cứ THUYẾT PHỤC VÀ LẬP LUẬN Nếu bạn đƣợc yêu cầu nói xem „luận cứ‟ có nghĩa là gì, có lẽ bạn sẽ dùng những từ nhƣ „bất đồng ý kiến‟ hay „tranh cãi‟. Ví dụ sau đây ắt sẽ hợp với lối mô tả này: Tôi không thể hiểu những ai nói rằng những ngƣời hút thuốc lá không đƣợc phép hút ở những nơi công cộng. Tôi nghĩ bất cứ ai cũng đều đƣợc phép hút thuốc lá ở bất cứ chỗ nào. Trong ví dụ này, ngƣời nói thể hiện một sự bất đồng ý kiến rõ ràng.
Luận cứ của họ phản đối những ai muốn hạn chế quyền của ngƣời hút thuốc lá. Bạn có thể đƣa ra bao nhiêu loại ví dụ khác cũng đƣợc, từ những sự bất đồng ý kiến đơn giản giữa bạn bè với nhau đến những sự bất đồng ý kiến phức tạp hơn nhiều nhƣ sự bất đồng ý kiến giữa các đảng chính trị. Tuy nhiên, trong tƣ duy phản biện, nghĩa của từ “luận cứ” không chỉ dừng lại ở “sự bất đồng ý kiến”. Không đồng ý thôi là chƣa đủ, cần phải nỗ lực thuyết phục ai đó rằng lập trƣờng này thích hợp hơn lập trƣờng kia.
Trở lại với ví dụ đầu tiên của chúng ta, ngƣời nói làm thế nào để cố thuyết phục ta rằng “bất cứ ai cũng đều đƣợc phép hút thuốc lá ở bất cứ chỗ nào”? Câu trả lời đơn giản: họ chẳng thuyết phục đƣợc. 6 Thuyết phục bằng những lý do Trong ví dụ đầu tiên, ngƣời nói chỉ bất đồng ý kiến với những ai nghĩ rằng việc hút thuốc lá là không đƣợc phép ở những nơi công cộng. Chẳng có điều gì trong lời nói của họ làm thay đổi ý nghĩ của bạn về chủ đề này. Tuy nhiên, hãy xét ví dụ tiếp theo: Mọi ngƣời đƣợc phép hút thuốc lá ở bất cứ chỗ nào.
Hút thuốc lá không phải là việc làm phi pháp, và hàng triệu ngƣời cảm thấy thích thú khi hút thuốc lá. Đâu là chỗ khác nhau? Nhƣ bạn sẽ thấy, ngƣời nói giờ đây đã đƣa ra hai lý do tại sao “Mọi ngƣời đƣợc phép hút thuốc lá ở bất cứ chỗ nào”. Lý do thứ nhất là hút thuốc lá không phải là việc làm phi pháp; lý do thứ hai là hàng triệu ngƣời thích hút thuốc lá. Dù bạn có đồng ý với những lý do này hay không, điều mấu chốt vẫn là ví dụ thứ hai này là một nỗ lực thuyết phục.
Đó là một nỗ lực vƣợt lên trên sự bất đồng ý kiến giản đơn. Nó cũng gợi ra câu trả lời. Nếu đáp lại rằng bạn không đồng ý thì điều đó chƣa đủ. Ngay cả khi bạn chƣa bị thuyết phục, thì các lý do ít ra phải đƣợc thừa nhận đã.
Khi trả lời cho luận cứ này, bạn sẽ phải trả lời bằng những lý do của riêng bạn. Nói cách khác, một luận cứ phải đƣợc trả lời bằng một luận cứ. Nhƣ vậy, cho tới giờ thì chúng ta đã xác lập điều gì? luận cứ phải có lý do luận cứ có nghĩa là thuyết phục. Rồi bạn có thể thấy rằng đối với ngƣời có tƣ duy phản biện các luận cứ không giống với việc cố gây áp lực buộc ngƣời khác chấp nhận một lập trƣờng cụ thể nào đó.
Chúng không phải là những mệnh lệnh ép ngƣời ta 7 phải xem xét sự việc theo cách này chứ không theo cách khác. Thay vào đó, chúng thiết lập các lý do theo cách sao cho, nếu bạn chấp nhận những lý do này, bạn có thể bị thuyết phục về một lập trƣờng nào đó. Rút ra kết luận từ các lý do Hãy trở lại với ví dụ thứ hai. Chức năng của câu thứ nhất là gì? Nhƣ ta đã thấy, đây là điều mà ngƣời nói muốn thuyết phục ta chấp nhận.
Nếu bạn muốn thì đây là điểm chính của của điều đƣợc nói ra. Nó là cái mà ta gọi là kết luận của luận cứ. Chúng ta thƣờng nghĩ “kết luận” là cái xuất hiện sau cùng. Chẳng hạn, ta nói về phần kết của một chƣơng trình truyền hình nhiều kỳ.
Nhƣng khi dùng từ “kết luận” trong tƣ duy phản biện, ta đang dùng nó theo cách chuyên biệt. Ta không dùng nó để nói câu cuối của đoạn văn, do chỗ cho dù kết luận của một luận cứ có thể đƣợc đặt ở cuối đoạn, nhƣng câu cuối đoạn không nhất thiết phải là kết luận. Nó có thể đứng ở bất kỳ chỗ nào – thậm chí ở đầu đoạn văn nhƣ trong ví dụ thứ hai ở trên. Nhƣng nếu kết luận không đƣợc rút ra thì luận cứ không đƣợc tạo ra.
Các lý do phải ở đâu đó: phải có một sự nỗ lực thuyết phục ta về điều gì đó. Chính đặc điểm này của một luận cứ mà các lý do phải ở đâu đó, điều đó đƣa ta trở lại với nét nghĩa quen thuộc: “kết luận” là “kết thúc”. Ngay cả khi kết luận của một luận cứ không nhất thiết cứ phải đƣợc đặt ở cuối đoạn, nó ở chỗ nào mà một luận cứ „kết thúc‟, là cái mà nó cố gắng xác lập. Giờ ta có thể thêm một đặc điểm khác của các luận cứ.
Luận cứ luôn có một kết luận Đến đây, có lẽ bạn sẽ có một vài câu hỏi cần trả lời. Trả lời chúng trƣớc khi chuyển sang vấn đề khác ắt sẽ là điều hữu ích. 8 Câu hỏi và câu trả lời Khi xét một luận cứ thì tôi sẽ phải làm gì? Bạn sẽ cần phải tìm ít nhất một phần nào đó giữ vai trò là lý do cho một kết luận, và đƣơng nhiên là bản thân kết luận nữa. Làm sao tôi có thể biết được đâu là lý do và đâu là kết luận? Cách đơn giản nhất để phân biệt chúng là xem xét chức năng của từng cái.
Kết luận là mục đích chính của luận cứ, biểu đạt những gì mà ngƣời biện luận muốn thuyết phục ngƣời khác chấp nhận. Lý do sẽ ủng hộ kết luận này, hiểu sát nghĩa là đƣa ra lý do tại sao ta nên chấp nhận nó. Một luận cứ phải có bao nhiêu lý do? Một luận cứ phải có tối thiểu là một lý do. Còn nhiều hơn nữa thì chẳng có giới hạn vào con số nào hết.
Bạn từng nói rằng các luận cứ là những nỗ lực thuyết phục người khác về một lập trường cụ thể nào đó. Nếu chúng không thuyết phục được người khác thì sự thể sẽ thế nào? Có phải luận cứ phải thuyết phục thì mới được gọi là luận cứ? Cứ có ít nhất một lý do ủng hộ cho kết luận thì vẫn có luận cứ.