Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN 1. Một số khái niệm 1. Năng lực Năng lực không chỉ là một khái niệm đơn thuần mà là tổng hợp nhiều khái niệm đa dạng, đa chiều với nhiều cách hiểu khác nhau. Khi đặt vào mỗi hoàn cảnh, mỗi trường hợp và từng góc độ nghiên cứu thì Năng lực lại mang một định nghĩa mới.TS Bùi Minh Đức, năng lực là khả năng thực hiện, làm việc dựa trên hiểu biết chắc chắn, kỹ năng và thái độ phù hợp.
Năng lực là các kiến thức, kỹ năng và các giá trị được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân. [8] Ở góc độ Triết học, Năng lực là toàn bộ những đặc tính tâm lý của con người, từ đó khiến cho nó thích hợp với một hình thức hoạt động nghề nghiệp nhất định và đã hình thành trong lịch sử. Có thể nói, Năng lực hay Năng lực của con người chính là sản phẩm của sự phát triển xã hội, do con người hình thành và phát triển nên qua các quá trình tích góp nhận thức và kỹ năng. [14] Từ bình diện Giáo dục học, Năng lực được hiểu là khả năng của con người được hình thành và phát triển cho phép họ đạt được thành công trong một hoạt động thể lực, trí lực hoặc nghề nghiệp nhất định.
Năng lực được thể hiện ở khả năng thi hành một hoạt động, thực thi một nhiệm vụ nào đó hướng đến một mục tiêu cụ thể về thể lực, trí lực hay nghề nghiệp. [19] Tóm lại, Năng lực là tập hợp các phẩm chất và thuộc tính của cá nhân, là khả năng thực hiện công việc của mỗi cá nhân phù hợp với những đòi hỏi đặc thù của một hoạt động nhất định để bảo đảm hoạt động ấy đạt hiệu quả cao. Năng lực được xây dựng trên cơ sở các tố chất bẩm sinh của cá nhân và phải trải qua quá trình tu dưỡng, rèn luyện lâu dài để ngày càng hoàn thiện và phát triển thêm. Đổi mới sáng tạo Nhiều người thường nhầm lẫn hai khái niệm giữa “đổi mới sáng tạo” và “phát minh”, thực tế cho thấy hai khái niệm này hoàn toàn khác biệt nhau.
Đổi mới sáng tạo (innovation) khác với phát minh (invention). Đổi mới sáng tạo là quá trình doanh nghiệp phát triển các sản phẩm, dịch vụ, quy trình hay hệ thống quản lý mới để đáp ứng các yêu cầu do sự thay đổi của môi trường kinh doanh, công nghệ hay mô hình cạnh tranh. [22] 8 Ở góc độ Khoa học – Công nghệ, Đổi mới sáng tạo mang nghĩa rộng bao gồm cả hai dạng công nghệ với mục tiêu là ứng dụng tri thức để tạo ra giá trị kinh tế. Đổi mới sáng tạo thống nhất giữa hai dạng công nghệ theo hai cách: công nghệ tạo ra từ nghiên cứu khoa học tiếp tục được hoàn thiện, cải tiến để ứng dụng và trong ứng dụng.
Đổi mới sáng tạo là cách thức cho phép phát huy khả năng mới của người lao động. [3] Theo căn cứ pháp lý, tại Khoản 16 Điều 3 Luật Khoa học và công nghệ năm 2013 thì Đổi mới sáng tạo (innovation) là việc tạo ra, ứng dụng thành tựu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa. [15] Như vậy, Đổi mới sáng tạo được hiểu đơn giản là việc đổi mới, tạo ra hoặc thay đổi phương pháp nào đó mới mang lại hiệu quả cao trong sự phát triển về khoa học công nghệ, tư duy, phương pháp quản lý,. Năng lực đổi mới sáng tạo của sinh viên Hiện nay, năng lực đổi mới sáng tạo của sinh viên đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tương lai của xã hội và kinh tế.
Chính vì vậy, việc tập hợp các kỹ năng, phẩm chất và khả năng của sinh viên để đổi mới và tạo ra các giải pháp sáng tạo cho các thách thức và vấn đề trong môi trường học tập, công việc và xã hội là điều cần thiết. Năng lực đổi mới sáng tạo của sinh viên không chỉ bao gồm khả năng tạo ra ý tưởng mới mẻ, mà còn bao gồm khả năng suy nghĩ sáng tạo và đổi mới trong việc giải quyết vấn đề. Nó yêu cầu sự linh hoạt trong tư duy và khả năng áp dụng kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau. Đặc biệt, năng lực này không chỉ dựa trên kiến thức chuyên môn mà còn bao gồm khả năng làm việc nhóm, giao tiếp hiệu quả và sự sẵn lòng học hỏi và phát triển bản thân.
Sinh viên có năng lực đổi mới sáng tạo có thể trở thành những nhà lãnh đạo và nhà đổi mới có ảnh hưởng trong cộng đồng và trong các lĩnh vực công việc mà họ tham gia. Tóm lại, Năng lực đổi mới sáng tạo của sinh viên là khả năng được hình thành, phát triển từ tố chất sẵn có và quá trình học tập rèn luyện, đáp ứng những yêu cầu về sự thay đổi công nghệ, vươn lên của khoa học kỹ thuật. Điều này bao gồm khả năng tưởng tượng, khả năng tìm kiếm cách tiếp cận mới và khả năng áp dụng kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết vấn đề. Năng lực đổi mới sáng tạo của sinh viên còn đòi hỏi sự linh hoạt trong suy nghĩ, sự kiên nhẫn và sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro.
Bằng cách phát triển năng lực đổi mới sáng tạo, sinh viên không chỉ trở nên linh hoạt và sáng tạo 9 trong công việc mà còn có khả năng thích nghi và thành công trong một thế giới đang thay đổi liên tục. Đặc điểm và vai trò của năng lực đổi mới sáng tạo của sinh viên 1. Đặc điểm Trong bối cảnh hiện nay, việc nắm bắt và hiểu rõ về năng lực đổi mới sáng tạo của sinh viên đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc định hình tương lai của giáo dục và phát triển xã hội. Năng lực này không chỉ là một phẩm chất cá nhân mà còn là một yếu tố chủ chốt đối với sự thành công trong học tập, sự nghiệp và cuộc sống.
Ở bất kỳ hoạt động hay lĩnh vực nào đều có thể áp dụng đổi mới sáng tạo. Năng lực đổi mới sáng tạo của sinh viên là một khía cạnh quan trọng trong việc định hình khả năng thành công của họ trong học tập và sự nghiệp nó được đặc trưng bởi tính mới và giá trị, trong đó tính mới và giá trị là hai đặc điểm cần và đủ. Một là, tính mới trong năng lực đổi mới sáng tạo của sinh viên quyết định bởi nhận thức của các bên liên quan. Tính mới xuất phát từ khả năng sáng tạo, không giới hạn bởi những quy tắc hay tiêu chuẩn của một thực thể hiện có.
Tính mới còn liên quan đến khả năng kết nối các ý tưởng, nguồn lực và kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau để tạo ra giải pháp độc đáo. Chẳng hạn đó là một nội dung nghiên cứu mới trong nghiên cứu khoa học, một công trình của luận án được phổ rộng mà chưa có ai từng phát triển hoặc đã tìm hiểu nhưng lỗi thời. Đặc biệt năng lực đối mặt và quản lý rủi ro là yếu tố quan trọng trong việc biến ý tưởng thành hiện thực, biến năng lực hiện có thành nguồn lực sẵn sàng để ứng dụng vào thực tiễn. Hai là, tính giá trị bắt nguồn từ việc phân phối kết quả, sản phẩm của quá trình đổi mới sáng tạo, có thể là giá trị hữu hình như sản phẩm, năng suất, tính ứng dụng, hoặc là giá trị vô hình như sự bền vững, niềm tin, kinh nghiệm.
Tính ứng dụng được thể hiện bởi khả năng chuyển đổi ý tưởng sáng tạo thành các sản phẩm, dịch vụ hoặc giải pháp cụ thể được kế thừa và áp dụng cao. Tính bền vững tạo ra giá trị không chỉ ở hiện tại mà còn tương lai, bằng cách phối hợp chặt chẽ nguyên tắc bền vững và đạo đức vào quá trình đổi mới, đảm bảo sự khả thi khi thực hành ý tưởng. Bên cạnh đó, năng lực đổi mới sáng tạo được tạo ra thông qua việc tương tác với cộng đồng, đặc biệt với sinh viên có thể là thầy cô, bạn bè, người thân,… để tạo ra ảnh hưởng tích cực trong xã hội. Hiện thực hóa tính giá trị chính là mục tiêu và lý do để sinh viên nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của bản thân và thu hút những cá nhân, tổ chức tham gia vào đổi mới sáng tạo.
10 Tóm lại, năng lực đổi mới sáng tạo của sinh viên mang tính mới và tính giá trị, yếu tố quan trọng để hình thành những cá nhân có khả năng áp dụng kiến thức, phát triển kỹ năng đa ngành và khả năng truyền đạt ý tưởng nhằm đóng góp tích cực cho hoạt động học tập nói riêng và xã hội nói chung. Vai trò Cùng với sự phát triển của thế giới, chưa bao giờ “năng lực đổi mới sáng tạo” lại được nhắc đến nhiều như thế. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa kéo theo nhu cầu đổi mới, nhu cầu sáng tạo của con người. Năng lực đổi mới sáng tạo sẽ tiếp tục được coi là một yêu cầu quan trọng đối với sự phát triển lực lượng lao động và xây dựng môi trường làm việc thành công.
Mặt khác, sinh viên chính là nguồn nhân lực của đất nước vậy nên không thể phủ nhận tầm quan trọng của năng lực đổi mới sáng tạo của sinh viên trong sự phát triển và tiến bộ của xã hội và kinh tế. Đối với sinh viên, việc áp dụng năng lực đổi mới sáng tạo được đánh giá hẹp hơn ở hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học, hoạt động ngoại khóa hay trong lao động và tìm kiếm việc làm,… Một là, trong học tập, năng lực đổi mới sáng tạo giúp sinh viên được khám phá và sáng tạo mở rộng tầm nhìn và tiếp cận với nội dung học tập một cách khoa học hơn. Bởi vậy, sinh viên có cơ hội tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực khác nhau, cung cấp cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề học tập. Không chỉ kiến thức mà khi có năng lực đổi mới sáng tạo sinh viên có cơ hội rèn luyện kỹ năng thực hành và quản lý dự án thông qua sự tương tác, chia sẻ ý tưởng với bạn bè, giảng viên hay chuyên gia.
Hai là, trong hoạt động nghiên cứu khoa học, sinh viên áp dụng năng lực đổi mới sáng tạo thông qua những ý tưởng mới, sáng kiến mới, không bị giới hạn bởi những thách thức của hiện trạng mà sẵn sàng tạo ra phương pháp mới, đa dạng để có thể giải quyết vấn đề nghiên cứu.