đặt vấn đề phát triển toàn diện tất cả các khâu trong chuỗi giá trị toàn cầu mà chỉ nên tập trung vào các khâu phù hợp với trình độ phát triển của các doanh nghiệp ngành may và tiềm lực kinh tế của đất nước là phát triển dệt vải, phụ liệu và nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp. 6 z - Trương Hồng Trình và cộng sự, 2010, “Tiếp cận chuỗi giá trị cho việc nâng cấp ngành dệt may Việt Nam”, đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 2. Bài viết tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu nhằm giải thích sự chuyển đổi trong hệ thống sản xuất và thương mại của ngành dệt may trên thế giới. Dựa trên hình thức sản xuất và các đặc tính của ngành dệt may Việt Nam, bài viết phân tích và xác định chiến lược nâng cấp ngành là sự dịch chuyển từ sản xuất gia công, chủ yếu nhập khẩu các yếu tố đầu vào, sang hình thức sản xuất tích hợp gia công từng phần và hướng đến xây dựng thương hiệu riêng, đòi hỏi tăng cường các liên kết dọc ở cấp độ khu vực và quốc gia.
Ngoài ra, bài viết đề xuất các chính sách nhằm hỗ trợ nâng cấp quá trình, sản phẩm và chức năng cho hình thức gia công từng phần, thay vì nhắm đến bước nhảy đột phá từ sản xuất gia công sang hệ thống sản xuất định hướng xuất khẩu với thương hiệu của nhà sản xuất. - Yến Tuyết, 2012, “Để ngành dệt may phát triển bền vững”, đăng trên Tạp chí Công nghiệp, kỳ 1 tháng 12, trang 40 - 41. Bài viết đã đề cập đến vấn đề cải thiện sản phẩm dệt may về cả chất lượng, mẫu mã, giá cả, đảm bảo các tiêu chí về an toàn sức khoẻ… để tăng sức cạnh tranh, đứng vững tại thị trường nội địa và đáp ứng được yêu cầu của các thị trường khó tính như Mỹ, EU. Đồng thời, tác giả đã chỉ ra một thực trạng là hoạt động xuất khẩu của ngành dệt may Việt Nam hiện nay chủ yếu là gia công hàng hoá, thương hiệu còn yếu, công nghiệp phụ trợ chưa phát triển… dẫn đến hàm lượng giá trị gia tăng trong sản phẩm dệt may còn thấp.
Trên cơ sở đó đề cập đến một số giải pháp nhằm đạt được mục tiêu tăng thu nhập của người công nhân dệt may, không để hàng triệu người trong ngành dệt may biến thành những người chỉ biết đạp máy may gia công. - Hà Văn Hội, 2012, “Chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may của Việt Nam: Những bất lợi, khó khăn và biện pháp đối phó” đăng trên Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Kinh tế và Kinh doanh, số 28, trang 241 - 251. 7 z Bài viết phân tích những khó khăn, bất lợi trong chuỗi giá trị xuất khẩu dệt may Việt Nam như nguyên liệu phải nhập khẩu từ nước ngoài, những bất ổn của các yếu tố nguồn lực đầu vào cho sản xuất. Do đó, tác giả đưa ra một số biện pháp cụ thể các doanh nghiệp cần thực hiện để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao hiệu quả chuỗi giá trị dệt may xuất khẩu trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động.
- Nguyễn Bằng Việt, 2012, “Năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang Liên minh Châu Âu (EU) trong bối cảnh hội nhập WTO”, luận văn Thạc sĩ thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQG Hà Nội. Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu. Phân tích kinh nghiệm của một số quốc gia trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu của sản phẩm dệt may. Đánh giá năng lực cạnh tranh hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu sang EU trong thời gian qua.
Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sang EU trong bối cảnh hội nhập WTO. - Võ Thanh Thu và Ngô Thị Hải Xuân, 2015, “Định hướng phát triển ngành dệt may Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập TPP”, đăng trên Tạp chí Phát triển Kinh tế, số 1, trang 59 - 73. Tác giả đã đánh giá thực trạng ngành dệt may Việt Nam hiện nay, nhận định điểm mạnh, điểm yếu và so sánh thực trạng này với các yêu cầu của TPP đối với ngành dệt may để đưa ra các dự báo về cơ hội cũng như thách thức đối với ngành. Từ đó đề xuất các định hướng giúp ngành dệt may phát triển bền vững, đáp ứng yêu cầu hội nhập khi TPP được kí kết và có hiệu lực thực thi.
Khái quát kết quả các công trình nghiên cứu và vấn đề đặt ra - Qua tổng quan tình hình nghiên cứu các công trình bàn về các khía cạnh trong năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam cho thấy: + Các công trình đã đề cập nhiều mặt lý luận về năng lực cạnh tranh nói chung và năng lực cạnh tranh của ngành dệt may nói riêng. 8 z + Các tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam ở thị trường nội địa và một số thị trường xuất khẩu chính như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản…trong các năm 2007 - 2012. + Họ đã đề xuất các giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam phù hợp với đặc điểm của ngành và sự biến động của tình hình kinh tế trong nước và quốc tế trước khi Việt Nam ký kết một loạt các Hiệp định FTA từ năm 2014 đến nay. Tuy nhiên, trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu rộng, nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành dệt may Việt Nam nói riêng chịu tác động mạnh của tình hình kinh tế thế giới không ngừng biến động, đặc biệt khi Việt Nam ký kết FTA thế hệ mới như FTA Việt Nam - EU, TPP và thực hiện lộ trình AEC.
Những điều chỉnh về cơ chế, chính sách, thị trường, tiêu chuẩn sản phẩm, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp… đều tác động trực tiếp và gián tiếp đến năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp dệt may cũng như toàn ngành. Xuất phát từ thực tế đó tác giả đã lựa chọn đề tài “Năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” để thực hiện luận văn thạc sĩ của mình. KHÁI QUÁT LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KINH TẾ, NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH DỆT MAY. Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh kinh tế, năng lực cạnh tranh.
Quan niệm về cạnh tranh kinh tế Cạnh tranh kinh tế (cạnh tranh) là một thuật ngữ cơ bản của nền kinh tế, cạnh tranh xuất hiện và gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia… Trong xu hướng hội nhập, nền kinh tế thế giới ngày càng đi vào cạnh tranh toàn diện, các rào cản thương mại truyền thống dần được gỡ bỏ hoặc không còn tác dụng, các đối 9 z thủ cạnh tranh mới nổi lên và sự cạnh tranh toàn cầu trở nên gay gắt hơn. Với tầm quan trọng của cạnh tranh, từ trước đến nay đã có nhiều nhà kinh tế nghiên cứu về cạnh tranh dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhà kinh tế học tư sản P.Samuelson quan niệm: “Cạnh tranh đó là sự kình địch giữa các doanh nghiệp để giành giật khách hàng hoặc thị trường”[24].
Trong kinh tế chính trị học, khi nghiên cứu về cạnh tranh tư bản chủ nghĩa, C.Mác đã khẳng định “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch” [18]. Theo Michael Porter: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hoá lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi [23].
Tuy nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau nhưng nhìn chung có thể hiểu cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế, tìm mọi biện pháp để đạt được mục đích kinh tế chủ yếu của mình như chiếm lĩnh thị trường, nâng cao vị thế trên thị trường, tối đa hóa lợi ích. Cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đáp ứng đòi hỏi của thị trường, đồng thời có khả năng tạo thêm việc làm, thu nhập, nâng cao phúc lợi cho người dân. Cạnh tranh là một trong những quy luật kinh tế của nền kinh tế thị trường, trong quá trình hoạt động cạnh tranh tồn tại cả hai mặt tích cực và tiêu cực. Ở khía cạnh tích cực, cạnh tranh làm cho nền kinh tế ngày càng năng động, sản xuất phát triển không ngừng qua đó thúc đẩy tiến bộ xã hội.
Áp lực 10 z cạnh tranh và mục đích tối đa hoá lợi nhuận là động lực mạnh mẽ thúc đẩy các chủ thể kinh tế phải không ngừng nâng cao tiềm lực bằng các biện pháp đầu tư mở rộng sản xuất, cải tiến kĩ thuật, công nghệ, tăng năng suất lao động, tăng chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất… Kết quả cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả và tất yếu những doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ đứng vững trên thị trường. Bên cạnh những tác động tích cực, cạnh tranh cũng có nhiều ảnh hưởng tiêu cực. Mục tiêu lợi nhuận vừa là động lực phát triển vừa là nguyên nhân khiến các chủ thể kinh tế sử dụng mọi biện pháp kể cả các thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để giành chiến thắng trên thương trường như gian lận, lừa gạt khách hàng, tình trạng cá lớn nuốt cá bé. Cạnh tranh có xu hướng dẫn đến độc quyền và gây ra những hậu quả kinh tế xã hội như thất nghiệp gia tăng, phân hoá giàu nghèo, mất ổn định trật tự xã hội, ô nhiễm môi trường… Tuy nhiên, cạnh tranh là quy luật vốn có của nền kinh tế thị trường nên cần nhận thức rõ các vai trò tích cực và hạn chế của cạnh tranh để vận dụng quy luật này có hiệu quả nhất, chủ động hơn trong việc đối phó với mọi biến động của thị trường.