lời mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu sơ đồ, luận văn đƣợc kết cấu thành nhƣ sau: Phần giới thiệu Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu và thiết kế. Chƣơng 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Giáo dục IDP – chi nhánh Hà Nội. Chƣơng 4: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty TNHH Giáo dục IDP – chi nhánh Hà Nội.
Kết luận và các hạn chế. Tài liệu tham khảo. 7 z Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong quá trình tìm kiếm tài liệu, tác giả đã tham khảo một số tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học đề cập đến vấn đề giáo dục, về năng lực canh tranh, những lý luận và thực tiễn nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: - Khái niệm thị trƣờng giáo dục là chủ đề của 9 bài báo khoa học đăng trên Revue de recherche internationale et comparative en education (Tạp chí Nghiên Cứu Quốc Tế và So Sánh Giáo Dục), số 6/2011 phát hành chỉ ra: giáo dục trƣớc hết là một dịch vụ, sản phẩm đƣợc tạo ra là những con ngƣời hoàn toàn có thể chủ động tham gia vào quá trình đào tạo, chính bản thân họ là những tác nhân ảnh hƣởng mạnh mẽ trên sự điều tiết của thị trƣờng giáo dục.
Hơn nữa, giáo dục có những sứ mệnh và lý tƣởng cao xa hơn thị trƣờng kinh tế, chẳng hạn nhƣ vai trò của giáo dục trong việc đào tạo các công dân tự do, hay cuộc chiến của trƣờng học với sự bất bình đẳng xã hội, v. Vì những điều nhƣ vậy, chúng ta không thể sử dụng cùng những logic trong việc trao đổi hàng hóa trên thị trƣờng kinh tế để bàn luận về giáo dục. Gọi là thị trƣờng vì trong giáo dục có các tác nhân khác nhau, có cung và cầu, có sự cạnh tranh, có sự lựa chọn, có cơ chế điều tiết vv. Những điều này đều thấy trong đa số các nền giáo dục, tuy mức độ, hình thức, tính logic và cả cách hiểu về chúng có thể khác nhau trong các quốc gia.
Ở đây nếu có dính dáng tới kinh tế, thì thị trƣờng giáo dục cũng đƣợc vận hành theo nguyên tắc “bàn tay vô hình” trong lý thuyết cổ điển của Adam Smith ở chỗ, thị trƣờng tự điều chỉnh trên nguyên tắc có lợi cho mỗi bên tác nhân tham gia và vì lợi ích của tất cả. - Bài báo “Phân tích và ứng dụng chính sách giáo dục đại học “xuyên biên giới” của Úc và Singapore vào giáo dục đại học Việt Nam” của Tiến sĩ Hồ Vũ Khuê Ngọc (Đại học Đà Nẵng) đăng trên tạp chí của Đại học Quốc Gia Hà Nội và Viện Khoa học Xã hội Việt Nam; Số: 1- năm 2008 có những điểm nổi bất đáng chú ý: 8 z Thứ nhất, Giáo dục đại học “xuyên biên giới” là một kết quả trực tiếp của toàn cầu hóa trong giáo dục đại học. Giáo dục đại học “ xuyên biên giới” đƣợc hiểu là “sự thay đổi về con ngƣời, về chƣơng trình, nhà cung cấp, chƣơng trình đào tạo, dự án, nghiên cứu và dịch vụ đào tạo trong nền giáo dục đại học hay cao đăng vƣợt qua phạm vi lãnh thổ quốc gia” ( OECD.Ngân hàng thế giới, 2007, trang 11) Thứ hai, giáo dục “xuyên biên giới” ngày càng phổ biến và thu hút sự quan tâm của xã hội. Theo quan điểm và góc nhìn tích cực của tác giả, các quốc gia nhập khẩu giáo dục có thể nâng cao tầm nhìn quốc tế, đạt đƣợc sự chuyển giao tri thức và tăng trƣởng kinh tế nếu nhƣ xem việc nhập khẩu Giáo dục – đại học “xuyên biên giới” nhƣ một chiến lƣợc xây dựng nội lực quốc gia.
Điều quan trọng của mỗi quốc gia là phải xây dựng các chính sách phù hợp với điều kiện và mục tiêu của quốc gia đó. Thứ ba, thực tế cho thấy, Việt Nam là nƣớc nhập khẩu Giáo dục đại học lớn thứ 5 trên thế giới. Việc gửi và tạo điều kiện cho DHS ra nƣớc ngoài học tập sẽ mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam trong việc phát triển hệ thống giáo dục và xây dựng nội lực quốc gia nếu Việt Nam phát triển chính sách rõ ràng thích đang về vấn đề Giáo dục đại hoc “xuyên quốc gia”. Đồng thời, theo tác giả, những quan điểm tiêu cực về giáo dục đại học “xuyên biên giới” nên đƣợc xóa bỏ đồng thời các trƣờng đại học ở Việt Nam cũng nên có những suy nghĩ cởi mở và cầu tiến cũng nhƣ tích cực mở rộng hợp tác quốc tế để giải quyết vấn đề chất lƣợng- số lƣợng trong đào tạo và phát triển chất lƣợng dịch vụ giáo dục ở Việt Nam.
Tóm lại, giáo dục đại học “xuyên quốc gia” ngày càng phát triển là do nhu cầu thiết thực của ngƣời học.Với quan điểm tiện bộ và cởi mở của mình, tác giả cho rằng Việt Nam và các nhà quản lý giáo dục nên có các chính sách thích hợp song song vừa tạo điều kiện cho học sinh ra nƣớc ngoài học tập, tích lũy kinh nghiệm vừa có những biện pháp khuyến khích các DHS trở về quê hƣơng để phát triển tƣơng lai, giúp đất nƣớc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. - Bài viết của Thạc sĩ Bùi Khánh Vân về “Một vài suy nghĩ về nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” đăng trên tạp chí khoa học của trƣờng Cán bộ Quản lý nông thôn và Phát triển nông thôn II ngày 9 z 14/9/ 2014 tập trung. Trong bài viết, tác giả đã chỉ ra cạnh tranh là một hiện tƣợng tự nhiên giữa các cá thể trong môi trƣờng và vấn đề nâng cao năng lực cạnh là một chủ đề nóng đối với các doanh nghiệp. Nghiên cứu này tập trung vào các lý thuyết cơ bản của năng lực cạnh tranh, lấy đó làm cơ sở cho việc phân tích thực trạng của các doanh nghiệp hiện nay, từ đó đƣa ra một số giải pháp gợi ý.
-Bài viết của tác giả Huynh Thanh Nhã và La Hồng Liên về “Các nhân tố nội tại ảnh hƣởng tới năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh tế tại Cần Thơ” đăng trên Tạp chí Khoa học trƣờng Đại học Cần Thơ ngày 27/02/2015. Bài viết tập trung nghiên cứu các thành phần kinh tế ở Việt Nam nói chung và Cần Thơ nói riêng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. Nghiên cứu này đƣa ra kết quả xác định 6 nhân tố nội tại ảnh hƣởng tới năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bao gồm mối quan hệ, năng lực Marketing, nguồn nhân lực và năng lực quản lý của chủ doanh nghiệp, năng lực tài chính, năng lực nghiên cứu và phát triển sản phẩm, xây dựng thƣơng hiệu. Từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tại Cần Thơ.
- Sách “Các ngành dịch vụ Việt Nam – Năng lực cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế” của PGS. TS Nguyễn Hữu Khải và Th.S Vũ Thị Hiền – Nhà xuất bản thống kê Hà Nội (2007) chỉ ra tầm quan trọng của ngành dịch vụ trong xã hội. Sau khi trở thành thanh viên chính thức của tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO), Việt Nam bƣớc vào lộ trình mới trong hầu hết các lĩnh vực đặc biết là ngành dịch vụ. Dù sẽ có không ít khó khăn nhƣng tiềm năng và cơ hội phát triển của ngành dịch vụ còn rất lớn.
Trong cuốn sách này, các tác giả đã hệ thống một số lý luận liên quan 7 ngành dịch vụ điển hình trong đó có dịch vụ giáo dục, phân tích đánh giá năng lực cạnh tranh của các ngành dịch vụ Việt Nam so sanh với các nƣớc trong khu vực từ đó đề xuất ra gợi ý và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dịch vụ. - Ngoài ra còn các luận văn thạc sĩ cũng tập trung nghiên cứu về năng lực cạnh tranh nhƣ: luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Hàng hải 10 z (Maritime Bank) đến năm 2020” của Thạc sĩ Phạm Thái Bình Dƣơng (ĐH KT TP HCM / năm 2013); luận văn “Yếu tố ảnh hƣởng tới năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” của thạc sĩ Trần Thị Thu Hƣơng (ĐH KT- ĐH QGHN/ năm 2012). Kết quả nghiên cứu của các luận văn trên đều tập trung đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp cho các ngành cung cấp dịch vụ nhƣ ngân hàng, bảo hiểm. Còn rất nhiều bài viết, sách và nghiên cứu trao đổi khác đã đăng tải trên các báo, tạp chí chuyên ngành đề cập hoặc liên quan đến vấn đề năng lực cạnh tranh tại các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, cũng giống nhƣ các công trình nghiên cứu nêu trên, các tài liệu này không nghiên cứu một cách chuyên biệt, trực diện và toàn diện về việc năng lực cạnh tranh đối với trƣờng hợp cụ thể là công ty trách nhiệm hữu hạn Giáo dục IDP- chi nhánh Hà Nội mà chỉ đề cập chung về lĩnh vực dịch vụ hoặc một phần nhỏ về dịch vụ giáo dục. Nhƣ vậy, từ tình nghiên cứu nêu trên, có thể thấy, việc nghiên cứu đề tài "Năng lực cạnh tranh của Công ty trách nhiệm hữu hạn Giáo dục IDP - Chi nhánh Hà Nội" đƣợc coi là công trình nghiên cứu đầu tiên thể hiện việc nghiên cứu một cách chuyên biê ̣t , trực diện, toàn diện và có hệ thống việc nâng cao năng lực canh tranh tại IDP Hà Nội. Khái niệm về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm cạnh tranh Trong nền kinh tế thị trƣờng, cạnh tranh là hiện tƣợng phổ biến và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế ở các quốc gia.
Cạnh tranh là một vấn đề đƣợc nghiên cứu từ rất lâu và thực tế cho đến nay trên thế giới vẫn chƣa có khái niệm thống nhất. Tùy thuộc vào mức độ rộng hẹp của nghĩa từ, lĩnh vực, ngành nghề mà cạnh tranh có các cách hiểu và cách diễn đạt khác nhau. Theo nhà kinh tế học ngƣời Mỹ Michael Porter,2013.chiến lược cạnh tranh[21], cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao 11 z hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành.