Tổng quan luận án

Công trình "Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam" do nghiên cứu sinh Phạm Đắc Thắng thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đặng Thị Phương Hoa và TS. Nguyễn Xuân Dũng. Luận án thuộc chuyên ngành Quản trị kinh doanh, mã số 9340101, được hoàn thành và bảo vệ vào năm 2022.

Về tính cấp thiết, nghiên cứu xuất phát từ thực trạng ngành chăn nuôi Việt Nam mỗi năm chi khoảng 1.000 tỷ đồng cho thuốc thú y, với mức doanh thu bình quân của mỗi doanh nghiệp đạt khoảng 100 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nội địa chỉ chiếm khoảng 20% tổng doanh thu toàn thị trường, trong khi 80% thị phần còn lại thuộc về các tập đoàn đa quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam (theo dữ liệu từ vnbusiness được trích dẫn trong văn bản). Bên cạnh đó, phần lớn lãnh đạo các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y trong nước được đào tạo và trưởng thành từ chuyên môn kỹ thuật, dẫn đến hạn chế về năng lực quản trị, tiếp thị và hoạch định chiến lược. Trước tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0, sự biến động thị trường và diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19, các doanh nghiệp nội địa bộc lộ nhiều điểm yếu về nhận diện thương hiệu, hệ thống phân phối, tính chuyên nghiệp và khả năng cạnh tranh so với các đối thủ quốc tế cũng như các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Indonesia. Do đó, việc xây dựng và phát triển năng lực cạnh tranh động nhằm thích ứng với biến động môi trường là yêu cầu cấp bách.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và kiểm định thực nghiệm về năng lực cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất thuốc thú y tại Việt Nam, đặc biệt là theo hướng tiếp cận năng lực cạnh tranh động.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y của Việt Nam. Các mục tiêu cụ thể được đánh số theo văn bản bao gồm:

  1. Hệ thống hóa và phát triển cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y.
  2. Đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam.
  3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y của Việt Nam.
  4. Đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu là năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y của Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn thu thập và phân tích dữ liệu từ năm 2016 đến năm 2020.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào năng lực cạnh tranh và năng lực cạnh tranh động, các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh động và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh động của các doanh nghiệp trong ngành.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 hướng tiếp cận chính:

Hướng tiếp cận năng lực cạnh tranh theo các cấp độ:

  • Cấp quốc gia: Porter và Ketels (2003) nghiên cứu tình trạng cạnh tranh tại Vương quốc Anh qua mức độ thịnh vượng, năng suất và đổi mới; Kiggundu và Uruthirapathy (2010) so sánh Canada với Mỹ, Anh, Ấn Độ và Trung Quốc; Pillania (2008) phân tích khả năng cạnh tranh của Ấn Độ giai đoạn 1999–2006 nhấn mạnh ngành chế biến chế tạo; Waheeduzzaman (2011) so sánh nhóm G7 và các nền kinh tế mới nổi; Adams, Gangnes và Shachmurove (2004) xác định 4 yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu Trung Quốc gồm lợi thế so sánh (RCA), tỷ giá, chi phí lao động và FDI.
  • Cấp ngành: Momaya (1998) và Porter (1990) coi ngành là nền tảng đánh giá cạnh tranh; Mitchell và cộng sự (1993) nghiên cứu sự chuyển dịch của các công ty Mỹ giai đoạn 1978–1989; Chandra và Sastry (1998) khảo sát 56 công ty sản xuất tại Ấn Độ về thực hành sản xuất đúng thời hạn (JIT) và kiểm soát quy trình thống kê; Hayopadhyay (2010) phân tích các rào cản hạ tầng và bảo hộ tại Ấn Độ; Sardy và Fetscherin (2009) dùng mô hình kim cương kép so sánh ngành ô tô của Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc; Shafaei và Shahriari (2009) đo lường chuỗi giá trị ngành da tại Iran.
  • Cấp doanh nghiệp: Garelli (2012) và Chikan (2008) nghiên cứu quan hệ vi mô - vĩ mô; Porter (1985) phát triển lý thuyết chuỗi giá trị; Chacko, Wacker và Asar (1997) xác định 4 mục tiêu chi phí, chất lượng, giao hàng và tính linh hoạt; Shee, van Gramberg và Foley (2010) xem xét vai trò lãnh đạo; Salazar, Vilchez và Pozo (2012) phân tích công cụ huấn luyện nhân sự; Lollar, Bheshti và Whitlow (2010) cùng Agus (2011) nhấn mạnh công nghệ tích hợp và quản trị chuỗi cung ứng (SCM).

Hướng nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh: Ambastha và Momaya (2004) đề xuất khung Nguồn lực - Quy trình - Hiệu suất; Ho (2005) khảo sát 5 khía cạnh quản trị công ty tại các doanh nghiệp Fortune 500 và Business Week 1000; Thompson, Strickland và Gamble (2007) đưa ra 10 yếu tố tổng thể; Onar và Polat (2010) khảo sát 104 doanh nghiệp niêm yết tại Thổ Nhĩ Kỳ với 13 yếu tố; Sauka (2015) xác định 7 nhân tố tại Latvia. Tại Việt Nam, Bùi Đức Tuân (2011) phân tích ngành chế biến thủy sản; Lê Thị Hằng (2013) nghiên cứu dịch vụ thông tin di động; Hoàng Nguyên Khai (2016) nghiên cứu hệ thống ngân hàng thương mại; Phạm Thu Hương (2017) nghiên cứu 10 yếu tố ảnh hưởng tại doanh nghiệp nhỏ.

Hướng nghiên cứu mô hình năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh: Pragya Bhawsar và Utpal Chattopadhyay (2015) tổng kết các thước đo cạnh tranh; Eve D. Rosenzweig và cộng sự (2002) khảo sát 238 doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thuộc dự án VIM của Deloitte; Vinit Parida (2008) khảo sát 291 công ty nhỏ tại Thụy Điển; László Szerb (2009) khảo sát 678 doanh nghiệp nhỏ và 17 doanh nghiệp lớn tại Hungary; Peter Njuguna Kimemia và cộng sự (2014) khảo sát 175 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Kenya; Nguyễn Văn Thụy (2015) kiểm định mô hình SEM với mẫu 319 nhà quản trị chi nhánh ngân hàng thương mại cổ phần tại TP. Hồ Chí Minh.

Hướng nghiên cứu về năng lực cạnh tranh động: Li và Liu (2012) khảo sát 650 nhà quản trị tại Trung Quốc; G. Gurkan Inan và Umit S. Bititci (2015) xác định 8 thành tố năng lực động ở doanh nghiệp quy mô nhỏ; Williamson (2016) phỏng vấn 14 doanh nghiệp Trung Quốc; Zeng, Simpson và Dang (2017) phỏng vấn 36 chuyên gia ngành dệt may và điện tử để xây dựng quy trình phát triển 3 giai đoạn; Vijaya, Ganesh và Marathe (2017) tổng thuật 171 bài báo giai đoạn 1999–2016; các nghiên cứu tại Việt Nam gồm Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Thị Mai Trang (2009), Nguyễn Thị Thúy Hoa (2011 khảo sát 197 khách hàng Siemens), Nguyễn Hoàng Việt (2012), Hồ Trung Thanh (2012), và Nguyễn Phúc Nguyên (2016 khảo sát 262 nhà quản lý du lịch).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết bao gồm 3 điểm:

  1. Thiếu các công trình đi sâu nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên đặc thù ngành sản xuất thuốc thú y tại Việt Nam.
  2. Thiếu sự đánh giá kịp thời theo hướng tiếp cận năng lực cạnh tranh động trước các biến động mới của thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.
  3. Thiếu mô hình định lượng kết hợp khảo sát thực tế và dữ liệu thứ cấp từ cơ quan quản lý để đo lường các thành tố năng lực vô hình tạo nên sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp thuốc thú y nội địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý thuyết, luận án kế thừa các quan điểm kinh điển về cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh của Michael Porter (1985, 1990, 1998, 2004) bao gồm mô hình năm lực lượng cạnh tranh (áp lực từ đối thủ tiềm năng, nhà cung cấp, khách hàng, sản phẩm thay thế và cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hiện tại). Đồng thời, tác giả tổng hợp các định nghĩa của Sanchez và Heene (1996, 2004), Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2004), Lưu Quốc Hưng (2017), Domazet (2012), Wijnands và cộng sự (2008), và Bạch Thụ Cường (2002).

Từ quan điểm dựa trên nguồn lực (RBV) của Barney (1991, 2001) vốn mang tính tĩnh, luận án phát triển theo lý thuyết năng lực động (Dynamic Capabilities) khởi xướng bởi Teece và cộng sự (1990, 1997, 2007), Collis (1994), Eisenhardt và Martin (2000), Ambrosini và Bowman (2009), và Wang và Ahmed (2007). Luận án chính thức sử dụng định nghĩa của Barreto (2010): "Năng lực động là tiềm năng của doanh nghiệp để giải quyết vấn đề một cách có hệ thống được hình thành bởi xu hướng nhận diện cơ hội và rủi ro, ra quyết định đúng thời điểm theo định hướng thị trường và thay đổi cơ sở nguồn lực của nó". Đồng thời, tác giả viện dẫn 6 chức năng của năng lực động theo Helfat và Peteraf (2003) gồm: làm mới, kết hợp lại, triển khai lại, sao chép, thử lại và rút bớt các khả năng khai thác thị trường.

Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra định nghĩa riêng: "Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng sử dụng và kết hợp các nguồn lực, khả năng của doanh nghiệp nhằm duy trì và tạo ra lợi thế cạnh tranh nhằm đạt được kết quả hoạt động kinh doanh cao hơn so với đối thủ và thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh".

Khung phân tích của luận án xác định 5 nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh động ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y, kết hợp các tiêu chí đánh giá hiệu quả (chỉ tiêu tài chính theo Kaplan và Norton 1992, Neely và cộng sự 1995, Waal và Coevert 2007; chỉ tiêu vận hành theo Laihonen và Pekkola 2014; chỉ tiêu khách hàng):

STT Nhân tố năng lực cạnh tranh động Mã hóa thang đo
1 Năng lực đổi mới sáng tạo Thang đo Bảng 2.3
2 Năng lực định hướng học hỏi Thang đo Bảng 2.4
3 Năng lực Marketing Thang đo Bảng 2.5
4 Năng lực định hướng kinh doanh Thang đo Bảng 2.6
5 Năng lực liên kết hợp tác Thang đo Bảng 2.7
- Năng lực cạnh tranh của DN sản xuất thuốc thú y (Biến phụ thuộc) Thang đo Bảng 2.8

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả áp dụng phương pháp kết hợp định tính và định lượng:

  • Giai đoạn định tính: Nghiên cứu tổng quan tài liệu, tham khảo ý kiến chuyên gia quản lý và lãnh đạo doanh nghiệp để phát hiện vấn đề, thiết kế và hiệu chỉnh bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ.
  • Giai đoạn định lượng: Xây dựng phiếu điều tra chính thức sử dụng thang đo Likert; thực hiện quy trình chọn mẫu, phát phiếu khảo sát thu thập dữ liệu sơ cấp tại các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam.
  • Kỹ thuật xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm thống kê để thực hiện thống kê mô tả; kiểm định độ tin cậy của các thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha; phân tích nhân tố khám phá (EFA) riêng biệt cho tập biến độc lập và biến phụ thuộc; phân tích hệ số tương quan Pearson; và ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính bội để xác định mức độ tác động của từng nhân tố.
  • Nguồn tư liệu: Dữ liệu sơ cấp từ khảo sát thực tế; dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Hiệp hội Sản xuất và Kinh doanh thuốc thú y Việt Nam, số liệu kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp điển hình (Ecovet, Vet Product giai đoạn 2014–2018).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y

Chương 1 hệ thống hóa các lý thuyết về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh ở ba cấp độ (quốc gia, ngành, doanh nghiệp), lý thuyết năng lực động và các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của tổ chức. Tác giả luận giải vai trò của 5 thành tố năng lực cạnh tranh động đối với sự thích ứng của doanh nghiệp trong bối cảnh biến động kinh tế và dịch bệnh.

Bên cạnh phần lý luận, chương này phân tích kinh nghiệm thực tiễn nâng cao năng lực cạnh tranh của một số doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y trên thế giới, cụ thể là phân tích kết quả kinh doanh của Công ty Ecovet (Bảng 1.3) và Công ty Vet Product (Bảng 1.4) giai đoạn 2014–2018. Từ đó, tác giả đúc kết các bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam về việc đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D), tiêu chuẩn hóa chất lượng sản phẩm và mở rộng mạng lưới phân phối.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu theo quy trình gồm 4 bước chính: nghiên cứu tổng quan, thiết kế bảng khảo sát sơ bộ, nghiên cứu định lượng chính thức, và đề xuất giải pháp, kiến nghị (thể hiện tại Hình 2.1). Tác giả mô tả quy trình xây dựng phiếu điều tra (Hình 2.2 và Hình 2.3), tiến độ thực hiện các nghiên cứu (Bảng 2.1), và chi tiết hóa các thang đo biến độc lập và biến phụ thuộc (từ Bảng 2.2 đến Bảng 2.8).

Quy trình chọn mẫu khảo sát, phương thức thu thập số liệu sơ cấp từ các nhà quản lý doanh nghiệp thuốc thú y và phương pháp làm sạch dữ liệu được giải trình cụ thể. Tác giả xác lập quy trình kiểm định kinh tế lượng bao gồm đánh giá độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan và phân tích hồi quy đa biến nhằm lượng hóa tác động của các năng lực động đến năng lực cạnh tranh.

Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam

Chương 3 tập trung phân tích bối cảnh ngành và dữ liệu thực nghiệm thông qua hệ thống số liệu toàn diện:

  • Tổng quan ngành: Phân tích danh sách 10 doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y hàng đầu thế giới năm 2020 (Bảng 3.1); tổng hợp nhu cầu thuốc thú y tại Việt Nam giai đoạn 2016–2020 (Bảng 3.2); thống kê số lượng doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam giai đoạn 2013–2020 (Bảng 3.3).
  • Phân tích doanh thu và cơ cấu thị phần: Đưa ra bảng xếp hạng Top 15 doanh thu của các doanh nghiệp thú y Việt Nam năm 2020 (Bảng 3.4) và bảng so sánh doanh thu giữa doanh nghiệp nội địa với doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2020 (Bảng 3.5), chứng minh thực tế khối FDI nắm giữ khoảng 80% thị phần nội địa.
  • Kết quả thống kê mô tả khảo sát: Thống kê mô tả mức độ đánh giá của doanh nghiệp đối với 5 nhân tố động và biến phụ thuộc (Bảng 3.6 đến Bảng 3.11).
  • Kết quả kiểm định kinh tế lượng:
    • Kiểm định Cronbach's Alpha (Bảng 3.12 đến Bảng 3.17) khẳng định các thang đo: năng lực đổi mới sáng tạo, định hướng học hỏi, năng lực marketing, năng lực định hướng kinh doanh, năng lực liên kết hợp tác và năng lực cạnh tranh đều đạt độ tin cậy kỹ thuật.
    • Phân tích EFA cho các biến độc lập (Bảng 3.18) và biến phụ thuộc (Bảng 3.19) trích xuất được các nhân tố hợp lệ.
    • Ma trận tương quan (Bảng 3.20) và mô hình hồi quy (Bảng 3.21, Hình 3.1) lượng hóa mối quan hệ tác động cùng chiều của các năng lực động lên năng lực cạnh tranh.
  • Đánh giá tổng hợp: Chỉ rõ các hạn chế nội tại của doanh nghiệp nội địa như quy mô vốn nhỏ, công nghệ và mẫu mã đơn điệu, năng lực xúc tiến bán hàng yếu, và sự thiếu liên kết trong chuỗi giá trị chăn nuôi.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam

Chương 4 phân tích bối cảnh quốc tế và trong nước ảnh hưởng đến ngành (yêu cầu an toàn sinh học, áp lực tiêu chuẩn GMP, biến động hậu dịch bệnh Covid-19), đồng thời tổng hợp các quan điểm và định hướng chính sách của Nhà nước đối với ngành thuốc thú y.

Dựa trên kết quả mô hình hồi quy ở Chương 3, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể cho doanh nghiệp:

  1. Xây dựng năng lực đổi mới sáng tạo từ phía các doanh nghiệp (đầu tư công nghệ, cải tiến công thức và quy trình bào chế).
  2. Xây dựng văn hóa học tập trong doanh nghiệp (đào tạo chuyên môn kỹ thuật gắn liền với kỹ năng quản trị kinh doanh).
  3. Đầu tư phát triển năng lực marketing (xây dựng thương hiệu, chuyên nghiệp hóa hệ thống phân phối và bao bì sản phẩm).
  4. Xây dựng định hướng kinh doanh phù hợp (nhạy bén với nhu cầu thị trường, chuyển đổi cơ cấu sản phẩm đáp ứng chăn nuôi trang trại quy mô lớn).
  5. Tăng cường thực hiện các mô hình liên kết và hợp tác của doanh nghiệp (hợp tác giữa các doanh nghiệp nội địa, liên kết viện - trường và chuỗi giá trị chăn nuôi).

Bên cạnh đó, luận án đưa ra các kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các cơ quan chuyên ngành thú y) nhằm hoàn thiện khung pháp lý, hỗ trợ kiểm soát chất lượng thuốc và tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp khoa học và thực tiễn chủ yếu:

Về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và phát triển khung lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung và sản xuất thuốc thú y nói riêng dựa trên tiếp cận năng lực cạnh tranh động.
  • Xác định và kiểm định thành công mô hình gồm 5 năng lực cạnh tranh động (năng lực đổi mới sáng tạo, năng lực học hỏi/định hướng học hỏi, năng lực liên kết hợp tác, năng lực định hướng kinh doanh, năng lực marketing) tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
  • Xây dựng hệ thống thang đo đánh giá năng lực cạnh tranh động cho ngành sản xuất thuốc thú y bằng mô hình kinh tế lượng, bổ sung cơ sở phương pháp luận cho việc đo lường các yếu tố vô hình trong quản trị doanh nghiệp.

Về mặt thực tiễn:

  • Phác thảo bức tranh thực trạng về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam giai đoạn 2016–2020 trong bối cảnh chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 và biến động kinh tế.
  • Cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về sự chênh lệch thị phần (20% nội địa so với 80% FDI) và các điểm nghẽn trong quản trị, marketing, liên kết của doanh nghiệp trong nước.
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp quản trị đồng bộ cho các doanh nghiệp và kiến nghị chính sách cho cơ quan quản lý nhà nước để đánh giá định kỳ, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu gắn liền với phạm vi được xác định trong văn bản:

  • Phạm vi khảo sát chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y của Việt Nam trong giai đoạn 2016–2020, là thời kỳ có nhiều biến động bất thường do dịch Covid-19 nên một số chỉ tiêu tài chính và thị trường có thể chịu tác động đột biến.
  • Mô hình tập trung chủ yếu vào 5 nhóm năng lực cạnh tranh động vô hình, chưa bao quát toàn bộ các biến số kỹ thuật chuyên ngành dược lý thú y cũng như các yếu tố tài sản hữu hình đặc thù khác.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được tác giả gợi mở:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các giai đoạn tiếp theo để đánh giá sự phục hồi và chuyển biến của các doanh nghiệp trong điều kiện bình thường mới.
  • Nghiên cứu so sánh năng lực cạnh tranh giữa doanh nghiệp thuốc thú y Việt Nam với các doanh nghiệp trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Indonesia.
  • Kiểm định và mở rộng mô hình nghiên cứu bằng cách kết hợp thêm các yếu tố hữu hình và các công cụ phân tích cấu trúc phức hợp.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo rõ ràng cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế nông nghiệp: Có thể tham khảo cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh động, bộ thang đo Likert (từ Bảng 2.2 đến Bảng 2.8) và quy trình kiểm định mô hình hồi quy ứng dụng trong một phân ngành sản xuất công nghiệp - nông nghiệp cụ thể.
  • Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Thú y): Sử dụng số liệu thực trạng về số lượng doanh nghiệp giai đoạn 2013–2020, tổng nhu cầu thuốc thú y 2016–2020 và tương quan doanh thu nội địa - FDI năm 2020 làm luận cứ xây dựng chính sách quy hoạch ngành, tiêu chuẩn hóa GMP và hỗ trợ kỹ thuật cho doanh nghiệp nội địa.
  • Lãnh đạo và nhà quản trị tại các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam: Ứng dụng trực tiếp 5 nhóm giải pháp tại Chương 4 để tái cơ cấu hoạt động quản trị, nâng cao năng lực tiếp thị, chủ động hợp tác liên kết và đổi mới công nghệ nhằm cải thiện vị thế cạnh tranh trên thị trường nội địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ trọng doanh thu giữa doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y nội địa và doanh nghiệp FDI tại Việt Nam được luận án ghi nhận như thế nào?
Theo số liệu được tác giả dẫn từ vnbusiness trong phần Mở đầu và phân tích chi tiết tại Bảng 3.5 của Chương 3, mỗi năm ngành chăn nuôi chi khoảng 1.000 tỷ đồng cho thuốc thú y, doanh thu bình quân một doanh nghiệp đạt khoảng 100 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, doanh nghiệp nội địa chỉ chiếm khoảng 20% tổng doanh thu thị trường, trong khi 80% thị phần còn lại thuộc về các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp có vốn FDI hoạt động tại Việt Nam.

2. Khung phân tích của luận án xác định năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp thuốc thú y gồm những thành tố nào?
Khung phân tích của luận án xác định 5 nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh động bao gồm: (1) Năng lực đổi mới sáng tạo, (2) Năng lực định hướng học hỏi, (3) Năng lực Marketing, (4) Năng lực định hướng kinh doanh, và (5) Năng lực liên kết hợp tác.

3. Luận án lựa chọn định nghĩa năng lực động của tác giả nào làm cơ sở lý luận chính?
Luận án chính thức sử dụng khái niệm năng lực động của Barreto (2010), theo đó năng lực động được định nghĩa là tiềm năng của doanh nghiệp để giải quyết vấn đề một cách có hệ thống, được hình thành bởi xu hướng nhận diện cơ hội và rủi ro, ra quyết định đúng thời điểm theo định hướng thị trường và thay đổi cơ sở nguồn lực của tổ chức.

4. Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế trong luận án đã phân tích dữ liệu của những doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y nào?
Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành phân tích số liệu kết quả kinh doanh giai đoạn 2014–2018 của hai doanh nghiệp điển hình trên thế giới là Công ty Ecovet (Bảng 1.3) và Công ty Vet Product (Bảng 1.4) để rút ra bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam.

5. Quy trình xử lý dữ liệu định lượng của luận án bao gồm những bước kỹ thuật nào?
Phương pháp nghiên cứu định lượng tại Chương 2 và Chương 3 được thực hiện qua các bước kỹ thuật: thống kê mô tả mẫu khảo sát, kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA cho các biến độc lập và biến phụ thuộc, phân tích hệ số tương quan Pearson, và ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính bội để lượng hóa tác động của các biến độc lập lên biến phụ thuộc năng lực cạnh tranh.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam" của tác giả Phạm Đắc Thắng đã hệ thống hóa và phát triển khung lý thuyết về năng lực cạnh tranh động trong một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trên dữ liệu thực tế giai đoạn 2016–2020, công trình đã làm rõ bức tranh thực trạng về sự chênh lệch thị phần giữa doanh nghiệp nội địa và khối ngoại, đồng thời lượng hóa mức độ tác động của 5 thành tố năng lực động đến năng lực cạnh tranh. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống giải pháp quản trị thiết thực cho các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y trong nước và mang lại cơ sở dữ liệu hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách nông nghiệp tại Việt Nam.