Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THUỐC THÚ Y 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về năng lực cạnh tranh 1.1 Các công trình nghiên cứu về phương pháp tiếp cận năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia: Các nghiên cứu về nỗ lực cạnh tranh cấp quốc gia nhằm đề xuất các chính sách và cải cách khác nhau. Một số chiến lược để tăng cường khả năng cạnh tranh quốc gia bao gồm các chương trình tài chính để tăng tiết kiệm, tỷ giá hối đoái được quản lý, chính sách thuế và chính sách kinh tế vĩ mô. Bên cạnh các chiến lược tài chính, các chương trình nâng cao kỹ năng của người lao động, quản lý chất lượng, thiết lập các tiêu chuẩn giáo dục và tiêu chuẩn đạo đức cũng nổi bật trong nỗ lực của quốc gia nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh. Trong một báo cáo của Hội đồng nghiên cứu kinh tế và xã hội, Porter và Ketels (2003) đã đề cập đến tình trạng cạnh tranh của Vương quốc Anh.
Thực trạng nền kinh tế của quốc gia được đánh giá bằng các biện pháp như mức độ thịnh vượng, năng suất, quốc tế hóa, đổi mới và tăng trưởng năng suất. Kiggundu và Uruthirapathy (2010) đã so sánh khả năng cạnh tranh của Canada với hai đối tác kinh tế truyền thống mạnh mẽ là Mỹ và Anh và hai quốc gia mới nổi là Ấn Độ và Trung Quốc. Đối với các nền kinh tế mới nổi, Pillania (2008) đã nghiên cứu khả năng cạnh tranh của Ấn Độ với dưới cả góc độ vĩ mô và vi mô trong giai đoạn 1999-2006. Trong nghiên cứu này tác giả đã nhấn mạnh đến ngành chế biến chế tạo trong việc hình thành năng lực cạnh tranh của quốc gia.
Trong một nghiên cứu so sánh giữa các quốc gia mới nổi và quốc gia phát triển, Waheeduzzaman (2011) đã khám phá khả năng cạnh tranh và hội tụ của các quốc gia G7 với các quốc gia mới nổi bằng việc sử dụng dữ liệu theo chiều dọc và các chỉ số so sánh phổ biến. Hiệu suất cạnh tranh của các quốc gia được đo lường bằng cách sử dụng một số chỉ tiêu kinh tế, nhân khẩu học, thương mại, đầu tư và tự do và quản trị. Mặc dù các quốc gia mới nổi được phát hiện với tốc độ nhanh hơn nhưng vẫn tụt hậu so với các quốc gia G7 về hiệu suất cạnh tranh 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Adams, Gangnes và Shachmurove (2004) đã nghiên cứu các yếu tố chính ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh gia tăng của Trung Quốc so với các quốc gia cạnh tranh ở Đông Á. Trong đó, hiệu suất của hoạt động xuất khẩu được sử dụng như một chỉ số thực nghiệm về khả năng cạnh tranh của Trung Quốc.
Bốn yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh của Trung Quốc được xác định trong nghiên cứu này là: lợi thế so sánh (RCA); tỷ giá; chi phí lao động và FDI. Năng lực cạnh tranh cấp ngành: Năng lực cạnh tranh đã được nghiên cứu rộng rãi ở cấp độ công ty và quốc gia, nhưng ở cấp độ ngành, nó vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức. Các chính sách công, hiệp định thương mại, v., tất cả đều phụ thuộc vào năng lực cạnh tranh ở cấp độ ngành, làm cho nó trở thành mấu chốt trong khả năng cạnh tranh của một quốc gia (Momaya, 1998). Theo Porter (1990), là ngành công nghiệp là ngành cơ bản để đánh giá năng lực cạnh tranh.
Trong một nghiên cứu về sự chuyển đổi các ngành công nghiệp ở Mỹ từ địa phương sang toàn cầu, Mitchell và cộng sự (1993) đã xem xét mối quan hệ giữa các hoạt động của công ty với sự thay đổi trong sự hiện diện quốc tế của nó trong giai đoạn 1978 - 1989. Mở rộng quốc tế là cần thiết cho sự sống còn khi các công ty nước ngoài bắt đầu chiếm lĩnh thị trường trong nước, nhưng các công ty có kinh nghiệm và thị phần đáng kể chỉ có thể trở nên thành công. Chandra và Sastry (1998) đã nghiên cứu thực trạng, chiến lược, điểm mạnh và điểm yếu của các doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất Ấn Độ. Mục tiêu là giúp các công ty đánh giá hiệu suất của họ bằng cách phổ biến các thông lệ tốt nhất trong ngành.
Mẫu nghiên cứu bao gồm 56 công ty vừa và lớn ở Ấn Độ. So với các nhà sản xuất đẳng cấp thế giới, người ta lo ngại rằng các công ty Ấn Độ không coi trọng các hoạt động như thời gian (JIT), gia công chiến lược, hợp tác khách hàng và nhà cung cấp, sử dụng kiểm soát quy trình thống kê, thiết kế lại sản phẩm. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Hayopadhyay (2010) đã làm dấy lên mối lo ngại về sự đóng góp tụt hậu của ngành sản xuất Ấn Độ. Nhiều lý do như bảo hộ các doanh nghiệp trong nước, năng suất lao động thấp và tắc nghẽn về cơ sở hạ tầng, v., làm giảm khả năng cạnh tranh của ngành sản xuất Ấn Độ.
Một điều đáng nói nữa là không giống 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com như các nước phát triển, các quốc gia mới nổi thiếu các hoạt động thương mại của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ở các nước đang phát triển, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể có ý nghĩa về số lượng, nhưng về khả năng cạnh tranh công nghiệp, đóng góp của họ khá thấp. Cái này có thể được giải thích bởi hai lý do chính: môi trường kinh doanh và thiếu khả năng tiếp cận tài chính bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ này. Sardy và Fetscherin (2009) đã so sánh ngành công nghiệp ô tô của Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc bằng việc sử dụng mô hình kim cương kép.
Chỉ số cạnh tranh của ngành công nghiệp ô tô Trung Quốc là tốt hơn trong cả điều kiện trong nước và quốc tế so với Hàn Quốc và Ấn Độ. Ngoài ra, Shafaei và Shahriari (2009) đã nghiên cứu hiệu suất cạnh tranh của chuỗi giá trị da của Iran và so sánh với chín nước xuất khẩu lớn khác. Trong đó lợi thế cạnh tranh đã được sử dụng để đo lường hiệu suất cạnh tranh. Kết quả cho thấy hiệu suất cạnh tranh của Iran là thấp đáng kể so với chín quốc gia khác.
Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp: Sự phát triển của quốc gia và doanh nghiệp có mối quan hệ hai chiều với nhau bởi vì quốc gia cung cấp môi trường cho các công ty phát triển (hoặc cản trở), ngược lại doanh nghiệp lại tạo ra giá trị kinh tế cho quốc gia (Garelli, 2012). Chikan (2008) bằng việc sử dụng mô hình kim cương để nghiên cứu mối quan hệ vĩ mô và vi mô về khả năng cạnh tranh. Đã có rất nhiều nghiên cứu khác tập trung vào vấn đề về các yếu tố khác nhau góp phần vào khả năng cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp, từ chuỗi giá trị của Porter (1985) rồi đến các yếu tố khác nhau như lãnh đạo, học tập, R & D, chất lượng và năng suất lao động. Kết quả nghiên cứu của Chacko, Wacker và Asar (1997) cho thấy rằng chi phí, chất lượng, giao hàng và tính linh hoạt là những mục tiêu mà một doanh nghiệp nên phấn đấu để đạt được khả năng cạnh tranh.
Để đáp ứng các mục tiêu này, doanh nghiệp nên áp dụng các thực hành về quản lý kỹ thuật, như tự động hóa, quản lý chất lượng tổng thể, điểm chuẩn, thực hành nguồn nhân lực, như trao quyền và đào tạo nhân viên, v. Bên cạnh đó, Shee, van Gramberg và Foley (2010) đã xem xét vai trò của lãnh đạo trong việc thúc đẩy các giá trị tổ chức, năng lực và các giá trị đặc biệt mang lại cho khách hàng sẽ dẫn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Salazar, Vilchez và Pozo (2012) đã 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phân tích hiệu quả của huấn luyện, một kỹ thuật được sử dụng rộng rãi để đào tạo và phát triển các cá nhân trông một doanh nghiệp, trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh kinh doanh. Trong thế giới toàn cầu hóa ngày nay, những tiến bộ về công nghệ, vai trò của công nghệ là nhân tố quan trọng nhất trong việc mang lại lợi thế cạnh tranh cho một doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Lollar, Bheshti và Whitlow (2010) đã chỉ ra rằng việc sử dụng các công nghệ tích hợp giúp giảm chi phí kinh doanh và tăng cường khả năng thích nghi để đáp ứng với những thay đổi trên thị trường. Ngoài ra để nâng cao năng lực cạnh tranh và thành công, doanh nghiệp cần phải tích hợp chức năng nội bộ với các chức năng bên ngoài. Do đó, thực tiễn quản lý chuỗi cung ứng (SCM) ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các công ty. Trong một nghiên cứu được thực hiện bởi Agus (2011), tác động của các biến số quan trọng của quản lý chuỗi cung ứng đến chất lượng sản phẩm và hiệu quả kinh doanh đã được đo lường.
Kết quả cho thấy các biến của quản lý chuỗi cung ứng như sản xuất tinh gọn, công nghệ mới và đổi mới công nghệ, hợp tác nhà cung cấp chiến lược tác động tới năng lực cạnh tranh của sản phẩm và công ty.2 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Đây là một trong những hướng nghiên cứu chủ đạo về năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp. Ambastha and Momaya (2004), đã đưa ra lý thuyết về năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, năng lực cạnh tranh là những khả năng mà của doanh nghiệp làm được tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Nó chịu ảnh hưởng của các yếu tố: (1) Nguồn lực (nguồn nhân lực, cấu trúc, văn hóa, trình độ công nghệ, tài sản của doanh nghiệp); (2) Quy trình (chiến lược, quy trình quản lý, quy trình công nghệ, quy trình tiếp thị); (3) Hiệu suất (chi phí, giá cả, thị phần, phát triển sản phẩm mới).
Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở nghiên cứ năng lực cạnh tranh trên góc độ lý thuyết mà chưa phân biệt về qui mô, địa lý, lĩnh vực hoạt động.