Luận văn thạc sĩ ueb năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi việt nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Luận văn thạc sĩ phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

229
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Tổng quan các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh

1.2. Các nghiên cứu về nội hàm của cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

1.3. Các nghiên cứu về các cách tiếp cận năng lực cạnh tranh

1.4. Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

1.5. Các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp

1.6. Đánh giá chung về các nghiên cứu trong và ngoài nước

1.7. Các vấn đề đã nghiên cứu

1.8. Khoảng trống cần nghiên cứu

1.9. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THỨC ĂN CHĂN NUÔI

2.1. Khái niệm và các lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

2.1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh

2.1.2. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

2.1.3. Năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp

2.1.4. Các lý thuyết về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

2.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

2.3.1. Nhân tố vĩ mô

2.3.2. Nhân tố ngành

2.3.3. Nhân tố nội bộ doanh nghiệp

2.4. Các nhân tố hình thành năng lực cạnh tranh động của doanh nghiệp

2.4.1. Năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp

2.4.2. Năng lực marketing của doanh nghiệp

2.4.3. Năng lực định hướng kinh doanh

2.4.4. Năng lực liên kết và hợp tác

2.4.5. Năng lực định hướng học hỏi

2.4.6. Năng lực thích nghi

2.5. Mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh động và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

2.6. Đề xuất mô hình nghiên cứu và các giả thuyết

2.7. Kinh nghiệm của các tập đoàn trên thế giới và bài học nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi

2.7.1. Kinh nghiệm của một số tập đoàn sản xuất thức ăn chăn nuôi

2.7.2. Bài học rút ra cho các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

2.8. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Cách tiếp cận nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu định tính

3.3. Phương pháp nghiên cứu định lượng

3.4. Thiết kế thang đo

3.5. Thiết kế bảng hỏi

3.6. Quy trình chọn mẫu và thu thập, phân tích dữ liệu

3.7. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Tổng quan về ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam

4.1.1. Tổng quan chung

4.1.2. Tổng quan về các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam

4.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam

4.2.1. Nhân tố vĩ mô

4.2.2. Nhân tố ngành

4.2.3. Nhân tố nội bộ doanh nghiệp

4.3. Năng lực cạnh tranh động của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam qua kết quả nghiên cứu định lượng

4.3.1. Thống kê mô tả các biến liên quan đến nghiên cứu

4.3.2. Đánh giá độ tin cậy của thang đo

4.3.3. Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất TACN

4.3.4. Kết quả đạt được

4.3.5. Nguyên nhân của hạn chế và những vấn đề đặt ra đối với các doanh nghiệp sản xuất TACN

4.4. Kết luận chương 4

5. CHƯƠNG 5: CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT THỨC ĂN CHĂN NUÔI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ

5.1. Bối cảnh trong nước và quốc tế

5.1.1. Bối cảnh trong nước

5.1.2. Bối cảnh quốc tế

5.2. Mục tiêu, định hướng phát triển ngành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi trong bối cảnh hội nhập quốc tế

5.2.1. Mục tiêu phát triển ngành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi trong bối cảnh hội nhập quốc tế

5.2.2. Định hướng phát triển ngành công nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi

5.3. Các đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi

5.3.1. Nâng cao năng lực marketing

5.3.2. Nâng cao năng lực đổi mới và sáng tạo của các doanh nghiệp

5.3.3. Nâng cao năng lực tài chính và chất lượng nhân lực

5.3.4. Tăng cường liên kết và hợp tác của doanh nghiệp

5.3.5. Xác định định hướng kinh doanh đúng đắn

5.3.6. Đổi mới thiết bị và công nghệ, nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp

5.3.7. Một số kiến nghị và đề xuất

5.3.7.1. Đối với Nhà nước
5.3.7.2. Đối với Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn
5.3.7.3. Đối với các hiệp hội

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam

Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi (TACN) Việt Nam đang trở thành một chủ đề nóng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Sự phát triển của ngành TACN không chỉ ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi mà còn tác động đến nền kinh tế nông nghiệp của cả nước. Các doanh nghiệp trong lĩnh vực này cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt.

1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh trong ngành TACN

Năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng của doanh nghiệp trong việc cung cấp sản phẩm và dịch vụ tốt hơn so với đối thủ. Trong ngành TACN, điều này bao gồm chất lượng sản phẩm, giá cả hợp lý và khả năng phục vụ khách hàng.

1.2. Tình hình hiện tại của ngành TACN Việt Nam

Ngành TACN Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với nhiều doanh nghiệp tham gia. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức như chi phí nguyên liệu cao và sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp nước ngoài.

II. Thách thức đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp TACN Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập, các doanh nghiệp TACN Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức lớn. Những thách thức này không chỉ đến từ thị trường nội địa mà còn từ các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết.

2.1. Cạnh tranh từ doanh nghiệp nước ngoài

Doanh nghiệp nước ngoài thường có lợi thế về công nghệ, tài chính và kinh nghiệm. Điều này tạo ra áp lực lớn cho các doanh nghiệp TACN trong nước.

2.2. Chi phí sản xuất cao

Chi phí nguyên liệu TACN chiếm tỷ trọng lớn trong giá thành sản phẩm. Việc phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu làm tăng chi phí và giảm khả năng cạnh tranh.

III. Phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp TACN

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp TACN cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Những phương pháp này không chỉ giúp cải thiện chất lượng sản phẩm mà còn tối ưu hóa quy trình sản xuất.

3.1. Đổi mới công nghệ sản xuất

Đầu tư vào công nghệ mới giúp cải thiện chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất. Các doanh nghiệp cần tìm kiếm các giải pháp công nghệ tiên tiến để nâng cao hiệu quả sản xuất.

3.2. Tăng cường marketing và thương hiệu

Xây dựng thương hiệu mạnh và chiến lược marketing hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp tiếp cận khách hàng tốt hơn và tăng cường vị thế trên thị trường.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về năng lực cạnh tranh

Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp TACN Việt Nam đã chỉ ra nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Việc áp dụng các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh đã mang lại nhiều kết quả tích cực.

4.1. Kết quả từ các doanh nghiệp điển hình

Nhiều doanh nghiệp đã áp dụng thành công các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và đạt được sự tăng trưởng bền vững trong thời gian qua.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ các doanh nghiệp thành công

Các doanh nghiệp thành công trong ngành TACN đã chia sẻ nhiều bài học quý giá về việc áp dụng công nghệ, quản lý chất lượng và phát triển thương hiệu.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của ngành TACN Việt Nam

Ngành TACN Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Tuy nhiên, để đạt được điều này, các doanh nghiệp cần phải không ngừng cải thiện năng lực cạnh tranh và thích ứng với những thay đổi của thị trường.

5.1. Triển vọng phát triển ngành TACN

Với sự hỗ trợ từ chính phủ và các hiệp định thương mại, ngành TACN có thể phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai.

5.2. Định hướng phát triển bền vững

Các doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược phát triển bền vững, chú trọng đến chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi việt nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh 1. Các nghiên cứu về nội hàm của cạnh tranh và năng lực cạnh tranh Ngày nay, trong quá trình phát triển các doanh nghiệp đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức dưới bối cảnh trong nước và quốc tế ngày càng phức tạp hơn. Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và toàn thế giới không ngừng phát triển, cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, thì áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp ngày càng lớn.

Năng lực cạnh tranh là một chủ đề được rất nhiều nghiên cứu đánh giá, phân tích trong giai đoạn vừa qua. Các công trình đã nghiên cứu NLCT ở các cấp độ khác nhau như cấp quốc gia, cấp ngành, cấp doanh nghiệp và sản phẩm. Cấp quốc gia Porter (1990) lập luận rằng định nghĩa có ý nghĩa duy nhất về NLCT ở cấp quốc gia là năng suất quốc gia. Tuy nhiên Krugman (1994, 1996) chỉ trích quan niệm về NLCT quốc gia.

Ông cho rằng NLCT là lời hùng biện và cách nói năng suất. Theo quan điểm của ông, tính cạnh tranh không liên quan gì đến sự cạnh tranh của các quốc gia. Ông nhấn mạnh rằng các công ty cạnh tranh để giành thị phần, chứ không phải các quốc gia. Còn theo Moon và Peery (1995), không nên nhầm lẫn khả năng cạnh tranh với năng suất vì nó là vị trí tương đối so với đối thủ cạnh tranh, trong khi năng suất là khả năng nội bộ của một tổ chức.

Moon, Rugman và Verbeke (1998) định nghĩa NLCT quốc gia là khả năng của các công ty tham gia vào các hoạt động giá trị gia tăng trong một ngành công nghiệp cụ thể ở một quốc gia cụ thể để duy trì giá trị gia tăng này trong thời gian dài bất chấp sự cạnh tranh quốc tế. Nó được coi là tập hợp các thể chế, chính sách và các yếu tố quyết định mức độ năng suất của một quốc gia (Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu [GCR], Diễn đàn kinh tế thế giới, 2013). Từ những quan điểm được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu khác nhau, có thể suy ra rằng khả năng cạnh tranh quốc gia là khả năng của 7 một quốc gia để cung cấp môi trường thuận lợi cho các quốc gia của mình, và do đó các ngành công nghiệp, phát triển thịnh vượng. Mục tiêu là giúp tạo ra giá trị, tạo ra lợi nhuận và nâng cao sự thịnh vượng quốc gia cùng một lúc.

Cấp độ ngành Theo McFetridge (1995), một ngành công nghiệp cạnh tranh có thể được định nghĩa là bao gồm các công ty cạnh tranh liên khu vực hoặc quốc tế. Một công ty cạnh tranh giữa các khu vực hoặc quốc tế nếu nó luôn có lãi trong một thị trường mở. Momaya (1998) đề xuất một định nghĩa mở rộng về NLCT của ngành bao gồm các bên liên quan. Theo ông, đó là mức độ mà một ngành công nghiệp thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, với sự kết hợp đặc biệt của sản phẩm/dịch vụ, giá cả, chất lượng và đổi mới và nhu cầu của các bên liên quan khác nhau, cũng như cung cấp nơi làm việc an toàn cho người lao động.

Có thể suy ra rằng một ngành có thể được coi là cạnh tranh nếu nó bao gồm các công ty mang lại lợi nhuận đầu tư sinh lợi. Cấp độ doanh nghiệp Chikan (2008) định nghĩa NLCT của công ty là khả năng của một công ty để thực hiện bền vững mục đích kép của mình, tức là đáp ứng các yêu cầu của khách hàng về lợi nhuận. Khả năng này có thể được nhận ra bằng cách cung cấp hàng hóa và dịch vụ mà khách hàng đánh giá cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Theo Cetindamar và Kilitcioglu (2013), khả năng cạnh tranh là một khả năng và tiềm năng của nó phải được hiện thực hóa trong các hoạt động hàng ngày của công ty.

Có thể suy ra từ các định nghĩa đã nêu ở trên rằng khả năng cạnh tranh của công ty phụ thuộc vào khả năng thích ứng và khả năng hiện thực hóa lợi nhuận dài hạn. Khi đề cập đến NLCT thì Porter đã chỉ ra rằng NLCT đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh (Porter, 1985, 1998). Phân biệt giữa lợi thế cạnh tranh và NLCT, nghiên cứu của Porter (1998), đã khám phá những cơ sở cốt lõi của lợi thế cạnh tranh trong từng doanh nghiệp. Porter đã phân tích cách một doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ như thế nào.

Bên cạnh đó, Porter cho rằng, cường độ cạnh tranh trên thị trường của bất kỳ một ngành nào sẽ bị tác động của 5 lực lượng cạnh tranh: (1) Sức mạnh nhà cung cấp, (2) Nguy cơ thay thế, (3) Các rào cản gia nhập, (4) Sức mạnh khách hàng, (5) Mức độ cạnh tranh. 8 Còn theo Eduardo de Oliveira và William (2013), khi đối mặt với các thách thức tài chính sẽ làm giảm lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu công phu khác về NLCT như Momaya (2002), Ambastha và cộng sự (2005), hoặc Henricsson và các cộng sự (2004).Các nghiên cứu này đã hệ thống hóa, phân loại các nghiên cứu và đo lường NLCT thành 3 loại bao gồm: (1) Năng lực cạnh tranh hoạt động, (2) Năng lực cạnh tranh dựa trên khai thác, sử dụng tài sản và (3) Năng lực cạnh tranh theo quá trình. Trên cơ sở các lý thuyết thương mại và quản trị, Thorne (2004) đưa ra 2 quan điểm khác nhau về NLCT của doanh nghiệp đó là: Lý thuyết thương mại truyền thống cho rằng giá cả của hàng hóa, dịch vụ là tiêu chí chính để đo lường NLCT; còn theo quan điểm của Lý thuyết tổ chức công nghiệp, doanh nghiệp có NLCT cao là những doanh nghiệp có các chỉ tiêu về hoạt động kinh doanh hiệu quả như: thị phần cao, năng suất lao động cao, chi phí sản xuất thấp.

Trong khi đó theo trường phái quản trị chiến lược thì NLCT giữa các doanh nghiệp được đo lường và so sánh thông qua 4 nguồn lực chủ yếu là nhân lực, tài chính, công nghệ và marketing. Còn nghiên cứu của Sanchez & Heence (2004) cho rằng NLCT của doanh nghiệp dựa trên khả năng kết hợp các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên theo quan điểm của Sanchez (2001) thì bản chất của NLCT chú trọng vào năng lực thay vì nguồn lực. Cũng đồng quan điểm trên, Hitt và DeNisi (2003) coi năng lực là chìa khóa để duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững và đạt hiệu quả cao.

Một số nghiên cứu khác lại cho rằng NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là quan niệm phổ biến được các nhà nghiên cứu, học giả đưa ra hiện nay (M. Porter, 1985, 1998; Mehra, 1998; Ramasamy, 1995; Buckley, 1991; Schealbach, 1989). Theo quan niệm này thì NLCT là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ cạnh tranh và khả năng thu được lợi nhuận của doanh nghiệp.

Như vậy nếu quan niệm như trên thì NLCT chủ yếu mang tính định tính mà khó định lượng cụ thể đối với doanh nghiệp. Mặt khác, trong môi trường cạnh tranh, doanh nghiệp cần phát triển năng lực động để tồn tại (Zhou và Li, 2010) và các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần 9 phát triển nhiều năng lực tốt hơn so với các doanh nghiệp lớn để khắc phục hạn chế về quy mô nhỏ và hoạt động tốt hơn đối thủ cạnh tranh (Borch và Madsen, 2007; Terziovski, 2010). Ngoài ra còn có các nghiên cứu của Krugman (1991); Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế; Hội đồng Năng lực cạnh tranh của Mỹ; Porter và Ketels (2008) đã thảo luận NLCT, các vấn đề liên quan đến NLCT… Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt. Dưới tác động mạnh mẽ của kỷ nguyên số, cùng với đó là việc Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ và sâu rộng với khu vực và thế giới đang đặt ra nhiều cơ hội và thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam.

Vì thế, trước áp lực cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng nâng cao NLCT. Nâng cao NLCT không chỉ là nhu cầu cấp thiết, liên tục và lâu dài mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp và nền kinh tế… do đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về NLCT của doanh nghiệp. Khi nghiên cứu nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Vũ Trọng Lâm (2006) đã khái quát hóa những vấn đề lý luận cơ bản về sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Đồng thời, tác giả còn phân tích các kinh nghiệm trong nước và ngoài nước về nâng cao NLCT của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này là quy mô nghiên cứu mới dừng lại ở Thành Phố Hà Nội mà chưa đánh giá được tổng thể các doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Lê Xuân Bá (2007), đã trình bày một số cơ hội và khó khăn đối với doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Từ việc phân tích thực trạng NLCT của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường NLCT của các doanh nghiệp. Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thắng (2008) tập trung phân tích NLCT của các công ty Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, thách thức của việc hội nhập và đưa ra một số giải pháp để nâng cao NLCT của các doanh nghiệp trước những thách thức đó.

Điểm hạn chế của các nghiên cứu này là chưa đưa ra được mô hình nghiên cứu cụ thể khi đánh giá, phân tích NLCT của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập. 10 Đối với ngành dịch vụ viễn thông, nghiên cứu của Lê Thị Hằng (2013) đã làm rõ cơ sở lý luận về NLCT trong cung ứng dịch vụ thông tin di động của doanh nghiệp. Trên cơ sở các tiêu chí chung đánh giá NLCT của doanh nghiệp, tác giả đã xây dựng các tiêu chí đánh giá NLCT của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thông tin di động, bao gồm: chất lượng dịch vụ; giá cước; sự khác biệt của dịch vụ; hệ thống kênh phân phối; thông tin và xúc tiến thương mại; thương hiệu và uy tín dịch vụ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ