CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh 1. Các nghiên cứu về nội hàm của cạnh tranh và năng lực cạnh tranh Ngày nay, trong quá trình phát triển các doanh nghiệp đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức dưới bối cảnh trong nước và quốc tế ngày càng phức tạp hơn. Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và toàn thế giới không ngừng phát triển, cùng với đó là sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, thì áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp ngày càng lớn.
Năng lực cạnh tranh là một chủ đề được rất nhiều nghiên cứu đánh giá, phân tích trong giai đoạn vừa qua. Các công trình đã nghiên cứu NLCT ở các cấp độ khác nhau như cấp quốc gia, cấp ngành, cấp doanh nghiệp và sản phẩm. Cấp quốc gia Porter (1990) lập luận rằng định nghĩa có ý nghĩa duy nhất về NLCT ở cấp quốc gia là năng suất quốc gia. Tuy nhiên Krugman (1994, 1996) chỉ trích quan niệm về NLCT quốc gia.
Ông cho rằng NLCT là lời hùng biện và cách nói năng suất. Theo quan điểm của ông, tính cạnh tranh không liên quan gì đến sự cạnh tranh của các quốc gia. Ông nhấn mạnh rằng các công ty cạnh tranh để giành thị phần, chứ không phải các quốc gia. Còn theo Moon và Peery (1995), không nên nhầm lẫn khả năng cạnh tranh với năng suất vì nó là vị trí tương đối so với đối thủ cạnh tranh, trong khi năng suất là khả năng nội bộ của một tổ chức.
Moon, Rugman và Verbeke (1998) định nghĩa NLCT quốc gia là khả năng của các công ty tham gia vào các hoạt động giá trị gia tăng trong một ngành công nghiệp cụ thể ở một quốc gia cụ thể để duy trì giá trị gia tăng này trong thời gian dài bất chấp sự cạnh tranh quốc tế. Nó được coi là tập hợp các thể chế, chính sách và các yếu tố quyết định mức độ năng suất của một quốc gia (Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu [GCR], Diễn đàn kinh tế thế giới, 2013). Từ những quan điểm được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu khác nhau, có thể suy ra rằng khả năng cạnh tranh quốc gia là khả năng của 7 một quốc gia để cung cấp môi trường thuận lợi cho các quốc gia của mình, và do đó các ngành công nghiệp, phát triển thịnh vượng. Mục tiêu là giúp tạo ra giá trị, tạo ra lợi nhuận và nâng cao sự thịnh vượng quốc gia cùng một lúc.
Cấp độ ngành Theo McFetridge (1995), một ngành công nghiệp cạnh tranh có thể được định nghĩa là bao gồm các công ty cạnh tranh liên khu vực hoặc quốc tế. Một công ty cạnh tranh giữa các khu vực hoặc quốc tế nếu nó luôn có lãi trong một thị trường mở. Momaya (1998) đề xuất một định nghĩa mở rộng về NLCT của ngành bao gồm các bên liên quan. Theo ông, đó là mức độ mà một ngành công nghiệp thỏa mãn nhu cầu của khách hàng, với sự kết hợp đặc biệt của sản phẩm/dịch vụ, giá cả, chất lượng và đổi mới và nhu cầu của các bên liên quan khác nhau, cũng như cung cấp nơi làm việc an toàn cho người lao động.
Có thể suy ra rằng một ngành có thể được coi là cạnh tranh nếu nó bao gồm các công ty mang lại lợi nhuận đầu tư sinh lợi. Cấp độ doanh nghiệp Chikan (2008) định nghĩa NLCT của công ty là khả năng của một công ty để thực hiện bền vững mục đích kép của mình, tức là đáp ứng các yêu cầu của khách hàng về lợi nhuận. Khả năng này có thể được nhận ra bằng cách cung cấp hàng hóa và dịch vụ mà khách hàng đánh giá cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Theo Cetindamar và Kilitcioglu (2013), khả năng cạnh tranh là một khả năng và tiềm năng của nó phải được hiện thực hóa trong các hoạt động hàng ngày của công ty.
Có thể suy ra từ các định nghĩa đã nêu ở trên rằng khả năng cạnh tranh của công ty phụ thuộc vào khả năng thích ứng và khả năng hiện thực hóa lợi nhuận dài hạn. Khi đề cập đến NLCT thì Porter đã chỉ ra rằng NLCT đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh (Porter, 1985, 1998). Phân biệt giữa lợi thế cạnh tranh và NLCT, nghiên cứu của Porter (1998), đã khám phá những cơ sở cốt lõi của lợi thế cạnh tranh trong từng doanh nghiệp. Porter đã phân tích cách một doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ như thế nào.
Bên cạnh đó, Porter cho rằng, cường độ cạnh tranh trên thị trường của bất kỳ một ngành nào sẽ bị tác động của 5 lực lượng cạnh tranh: (1) Sức mạnh nhà cung cấp, (2) Nguy cơ thay thế, (3) Các rào cản gia nhập, (4) Sức mạnh khách hàng, (5) Mức độ cạnh tranh. 8 Còn theo Eduardo de Oliveira và William (2013), khi đối mặt với các thách thức tài chính sẽ làm giảm lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Ngoài ra còn có nhiều công trình nghiên cứu công phu khác về NLCT như Momaya (2002), Ambastha và cộng sự (2005), hoặc Henricsson và các cộng sự (2004).Các nghiên cứu này đã hệ thống hóa, phân loại các nghiên cứu và đo lường NLCT thành 3 loại bao gồm: (1) Năng lực cạnh tranh hoạt động, (2) Năng lực cạnh tranh dựa trên khai thác, sử dụng tài sản và (3) Năng lực cạnh tranh theo quá trình. Trên cơ sở các lý thuyết thương mại và quản trị, Thorne (2004) đưa ra 2 quan điểm khác nhau về NLCT của doanh nghiệp đó là: Lý thuyết thương mại truyền thống cho rằng giá cả của hàng hóa, dịch vụ là tiêu chí chính để đo lường NLCT; còn theo quan điểm của Lý thuyết tổ chức công nghiệp, doanh nghiệp có NLCT cao là những doanh nghiệp có các chỉ tiêu về hoạt động kinh doanh hiệu quả như: thị phần cao, năng suất lao động cao, chi phí sản xuất thấp.
Trong khi đó theo trường phái quản trị chiến lược thì NLCT giữa các doanh nghiệp được đo lường và so sánh thông qua 4 nguồn lực chủ yếu là nhân lực, tài chính, công nghệ và marketing. Còn nghiên cứu của Sanchez & Heence (2004) cho rằng NLCT của doanh nghiệp dựa trên khả năng kết hợp các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh. Tuy nhiên theo quan điểm của Sanchez (2001) thì bản chất của NLCT chú trọng vào năng lực thay vì nguồn lực. Cũng đồng quan điểm trên, Hitt và DeNisi (2003) coi năng lực là chìa khóa để duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững và đạt hiệu quả cao.
Một số nghiên cứu khác lại cho rằng NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là quan niệm phổ biến được các nhà nghiên cứu, học giả đưa ra hiện nay (M. Porter, 1985, 1998; Mehra, 1998; Ramasamy, 1995; Buckley, 1991; Schealbach, 1989). Theo quan niệm này thì NLCT là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ cạnh tranh và khả năng thu được lợi nhuận của doanh nghiệp.
Như vậy nếu quan niệm như trên thì NLCT chủ yếu mang tính định tính mà khó định lượng cụ thể đối với doanh nghiệp. Mặt khác, trong môi trường cạnh tranh, doanh nghiệp cần phát triển năng lực động để tồn tại (Zhou và Li, 2010) và các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần 9 phát triển nhiều năng lực tốt hơn so với các doanh nghiệp lớn để khắc phục hạn chế về quy mô nhỏ và hoạt động tốt hơn đối thủ cạnh tranh (Borch và Madsen, 2007; Terziovski, 2010). Ngoài ra còn có các nghiên cứu của Krugman (1991); Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế; Hội đồng Năng lực cạnh tranh của Mỹ; Porter và Ketels (2008) đã thảo luận NLCT, các vấn đề liên quan đến NLCT… Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay gắt. Dưới tác động mạnh mẽ của kỷ nguyên số, cùng với đó là việc Việt Nam đang hội nhập mạnh mẽ và sâu rộng với khu vực và thế giới đang đặt ra nhiều cơ hội và thách thức lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam.
Vì thế, trước áp lực cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải không ngừng nâng cao NLCT. Nâng cao NLCT không chỉ là nhu cầu cấp thiết, liên tục và lâu dài mà còn là vấn đề sống còn của doanh nghiệp và nền kinh tế… do đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về NLCT của doanh nghiệp. Khi nghiên cứu nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Vũ Trọng Lâm (2006) đã khái quát hóa những vấn đề lý luận cơ bản về sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Đồng thời, tác giả còn phân tích các kinh nghiệm trong nước và ngoài nước về nâng cao NLCT của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, hạn chế của nghiên cứu này là quy mô nghiên cứu mới dừng lại ở Thành Phố Hà Nội mà chưa đánh giá được tổng thể các doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Lê Xuân Bá (2007), đã trình bày một số cơ hội và khó khăn đối với doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Từ việc phân tích thực trạng NLCT của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay, tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường NLCT của các doanh nghiệp. Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thắng (2008) tập trung phân tích NLCT của các công ty Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, thách thức của việc hội nhập và đưa ra một số giải pháp để nâng cao NLCT của các doanh nghiệp trước những thách thức đó.
Điểm hạn chế của các nghiên cứu này là chưa đưa ra được mô hình nghiên cứu cụ thể khi đánh giá, phân tích NLCT của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập. 10 Đối với ngành dịch vụ viễn thông, nghiên cứu của Lê Thị Hằng (2013) đã làm rõ cơ sở lý luận về NLCT trong cung ứng dịch vụ thông tin di động của doanh nghiệp. Trên cơ sở các tiêu chí chung đánh giá NLCT của doanh nghiệp, tác giả đã xây dựng các tiêu chí đánh giá NLCT của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ thông tin di động, bao gồm: chất lượng dịch vụ; giá cước; sự khác biệt của dịch vụ; hệ thống kênh phân phối; thông tin và xúc tiến thương mại; thương hiệu và uy tín dịch vụ.