Chương 1 của luận văn trình bày các khái niệm và các nghiên cứu có liên quan đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Các lý thuyết này sẽ làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu năng lực cạnh tranh của VNPT BRVT.1 Khái niệm cạnh tranh “Cạnh tranh là khái niệm rất rộng, xuất hiện trong hau hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, từ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày đến các lĩnh vực kinh tế, chính. trị, văn hoá, thể thao. và có khá nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về cạnh tranh.
'Các khía cạnh khoa học và lý thuyết của cạnh tranh đã được giới thiệu và tóm tất trong các công trình khoa học của A. Yudanov (Yudanov, 2001) và những người khác. “Trong khoa học kinh tế, đến nay các nha khoa học dường như chưa thoả mãn với bất cứ khái niệm nào về cạnh tranh. Bởi lẽ, cạnh tranh là hiện tượng kinh tế chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, ở mọi lĩnh vực, mọi giai đoạn của.
quá trình kinh doanh và gắn với mọi chủ thể kinh doanh đang hoạt động trên thị trường. Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tuỷ thuộc vào ý định và hướng tiếp cận nghiên cứu của các nhà khoa học. Nhưng nhìn chung, định nghĩa về “cạnh tranh” trong kinh tế học xuất phát từ ba cách tiếp cận tủy thuộc vào. nguồn gốc của thị trường và sự tương tác của thực thẻ kinh doanh, đó là : hành vi, cấu trúc và chức năng (Bảng I.
Các cách tiếp cận về “cạnh tranh” Tác Định nghĩa "cạnh trani ~ xác định các đặc thù và chiến lược hành vi của các thực thể kinh doanh trong sự cạnh tranh về nhu cầu hiệu quả về mặt tài chính; - đông cơ thúc đẩy các thực thể kinh doanh với mục. đích cung cấp khả năng cạnh tranh trên thị trường. Porter, Cách tiếp cận này nằm trong tư tưởng của người tiêu A.Radyhina (tiếp cận theo. dùng là thỏa mãn tối đa nhu cầu của họ; hành vi) ~ bỏ qua thực tế là sự cạnh tranh không chỉ diễn ra đối với nhu cầu hiệu quả nhất về mặt tài chính mà còn vì độc quyền đối với thị trường phân phối, nguồn nguyên liệu, thành tựu của tiến bộ khoa học, lực lượng lao động có trình độ, v.
~ Cơ chế thị trường không phụ thuộc vào hoạt động, của các cá nhân và chủ thể kinh doanh nhất định. Chỉ cấu trúc thị trường và các điều kiện hoạt động. Cournot, của nó là quan trọng hàng đầu; LRobinson, ~ Cạnh tranh được coi là cơ chế điều tiết sản xuất xã E.Chembcrlain (tiếp cận. hội dẫn đến sự di chuyển giữa các yếu tố sản xuất theo cấu trúc) - thị trường cạnh tranh có rất nhiều người mua các.
sản phẩm tương tự. Khối lượng bán ra trong một thị trường quá nhỏ nên không thể ảnh hưởng đến giá sản phẩm. ~ cạnh tranh được coi là một yêu tô của tăng trường Y.Hayek kinh tế, là kết quả của việc các chủ thể kinh doanh. (tiếp cận theo chức năng) được định hướng đưa ra các chiến lược phát triển đổi mới; Tác giả Định nghĩa "cạnh tranh" ~ Để đạt được sự cạnh tranh trên thị trường, các chủ thể kinh doanh phải giảm chỉ phí sản xuất và cung.
cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu ngày cảng tăng. (Nguon: Mokiy, 2010) Trong nền kinh tế hiện đại, thuật ngữ “cạnh tranh” có nghĩa là sự cạnh tranh kinh tế hoặc sự cạnh tranh giữa các nhà sản xuất hàng hóa và dịch vụ riêng biệt, và liên quan đến việc bán hàng của họ cho cùng một người tiêu dùng (Klimenko và công. Hoặc cạnh tranh có thể được hiểu là một hoạt động của các cá nhân nhằm. đạt được những lợi ích mà người khác muốn đạt được tại cùng một thời điểm và trong những điều kiện giống nhau (Grzebyk và Krynski, 2011).
Bản chất của nó dựa trên việc loại bỏ các đối thủ cạnh tranh hoạt động cùng ngành và chiếm lấy khách hàng. Mặc dù tồn tại nhiều cách tiếp cận dé xác định cạnh tranh kinh tế, nhưng thuật ngữ "cạnh tranh” trong giai đoạn hiện nay bao gồm các đặc điểm sau: (1) nó là một chức năng của thị trường; (2) nó là nguyên tắc của nền kinh tế; (3) nó được đánh dấu bằng các quá trình kinh tế của sự tương tác, kết nối và ganh đua giữa các chủ thể kinh. doanh; (3) nó phải chứa đựng bản chất pháp lý của sự ganh đua cạnh tranh; (4) nó có thể xảy ra ở các cấp hệ thống khác nhau (vi mô, trung bình, vĩ mô, cấp độ lớn): (5) nó là một chỉ số tăng trưởng kinh tế, vì nó làm cho các chủ thể kinh doanh đưa ra các chiến lược phát triển sáng tạo; (6) nó xuất hiện giữa các chủ thể kinh doanh sản xuất hàng hóa và địch vụ tương tự, hoặc hàng hóa bỏ sung; (7) nó khuyến khích các nhà sản xuất tìm kiếm các lợi thế cạnh tranh của họ và cải thiện chúng hơn nữa.2 Các hình thức cạnh tranh trong nền kinh tế 'Cách phân loại cạnh tranh trong kinh tế cũng khá đa dạng, tương ứng với từng, tiêu chí phân loại khác nhau. Căn cứ vào chủ thê tham gia thị trường cạnh tranh được chia thành 3 loại.
Thứ nhất, cạnh tranh giữa người mua và người bán. Người bán muốn bán hàng hoá của mình với giá cao nhất, còn người mua muốn mua hàng hoá với giá thấp nhất. Giá cả cuối cùng được hình thành sau quá trình thương lượng giữa hai bên. “Thứ hai, cạnh tranh giữa những người mua với nhau.
Mức độ cạnh tranh này phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thị trường. Khi cung nhỏ hơn cầu thì cuộc cạnh. tranh trở nên gay gắt, giá cả hàng hoá và dịch vụ sẽ tăng lên, người mua phải chấp nhận giá cao để mua được hàng hoá hoá mà họ cần. Thứ ba, cạnh tranh giữa những nguời bán với nhau.
Đây là cuộc cạnh tranh nhằm giảnh giật khách hàng và thị trường, quả là giá cả giảm xt 1g và có lợi cho người mua. Trong cuộc cạnh tranh này, doanh nghiệp nào tỏ ra đuối sức, không chịu được sức ép sẽ phải rút lui khỏi thị trường, nhường thi pha của mình cho các đối thủ mạnh hơn. Căn cứ theo phạm vỉ ngành kinh tế cạnh tranh được phân thành hai loại: Một là, cạnh tranh trong nội bộ ngành. Đây là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá hoặc dịch vụ.
Kết quả của cuộc cạnh tranh nay là làm cho kỹ thuật phát triển. Hai là, cạnh tranh giữa các ngành. Đây là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. trong các ngành kinh tế với nhau nhằm thu được lợi nhuận cao nhất.
Trong quá trình này có sự phân bổ vốn đầu tư một cách tự nhiên giữa các ngành, kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. Căn cứ vào tính chất cạnh tranh cạnh tranh được phân thành 3 loại: “Thứ nhất là cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition): La hinh thức cạnh tranh giữa nhiều người bán trên thị trờng trong đó không người nảo có đủ ưu thế khống chế giá cả trên thị trường. Các sản phẩm bán ra đều được người mua xem là đồng thức, tức là không khác nhau về quy cách, phẩm chất, mẫu mã. Để chiến thắng trong cuộc.
cạnh tranh này các doanh nghiệp buộc phải tìm cách giảm chỉ phí, hạ giá thành hoặc làm khác biệt hoá sản phẩm của mình so với các đối thủ cạnh tranh. “Thứ hai là cạnh tranh khéng hoan hao (Imperfect Competition): La hinh thức cạnh tranh giữa những người bán có các sản phẩm không đồng nhất với nhau. Mỗi 10 sản phẩm đều mang hình ảnh hay uy tín khác nhau cho nên để giành đựợc ưu thế trong cạnh tranh, người bán phải sử dụng các công cụ hỗ trợ bán hàng như: Quảng. cáo, khuyến mại, cung cấp dịch vụ, ưu đãi giá cả, đây là loại hình cạnh tranh phổ biến trong giai đoạn hiện nay.
“Thứ ba là cạnh tranh quyền (Monopolistic Competition): Trên thị trường. chỉ có một hoặc một số ít người bán một sản phẩm hoặc dịch vụ vào đó, giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ đó trên thị trường sẽ do họ quyết định không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu. Căn cứ vào thủ đoạn sử dụng trong cạnh tranh chia cạnh tranh thành: Một là, cạnh tranh lành mạnh: Là cạnh tranh đúng luật pháp, phù hợp với chuải mực xã hội và được xã hội thừa nhận, nó thường diễn ra sòng phẳng, công bằng và công khai. Hai là, cạnh tranh không lành mạnh: Là cạnh tranh dựa vào kẽ hở của luật pháp, trái với chuẩn mực xã hội và bị xã hội lên án (như trồn thuế, buôn lậu, 1.3 Vai trò của cạnh tranh Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng, và trong.
lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần vào sự phát triển kinh tế. Sự cạnh tranh buộc người sản xuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn. nhu cầu của người tiêu dùng, tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng những tiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất. hoàn thiện cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năng.
suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Ở đâu thiếu cạnh tranh hoặc có biểu hiện độc. quyền thì thường tri tré và kém phát triển. Canh tranh mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt cho người tiêu dùng.
Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sản phẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chỉ phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ trí thức khoa học, công nghệ trong đó cao hơn. dé đáp ứng với thị hiểu của người tiêu dùng. 10 "1 Cạnh tranh sẽ đem đến cho khách hàng giá trị tối ưu đối với những đồng tiền mồ hôi công sức của họ vì càng nhiều doanh nghiệp cạnh tranh với nhau thì sản phẩm hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng sẽ càng có chất lượng tốt hơn. “Trong xã hội, mỗi con người, xét về tông thê, vừa là người sản xuất đồng thời cũng là người tiêu dùng, do vậy cạnh tranh thường mang lại nhiều lợi ích hon cho mọi người và cho cộng đồng, xã hội.2 Năng lực cạnh tranh 1.1 Khái niệm năng lực cạnh tranh Can cứ vào khái niệm "cạnh tranh” đã được trình bày ở phần trước, rõ rằng là tất cả các doanh nghiệp đều mong muốn thỏa mãn tối đa nhu cầu của người tiêu dùng.
Vi lý do này, họ phải đạt được một số lợi thế cạnh tranh bằng cách áp dụng các. phương thức sản xuất khác nhau, áp dụng chính sách phân phối mới, .