Chương 1: Tổng Quan về vấn đề nghiên cứu Giới thiệu tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu 3 Trình bày các lý thuyết và các nghiên cứu liên quan trước đây để xác định mô hình nghiên cứu phù hợp. Mô hình nghiên cứu và các giả thuyết về mối tương quan giữa các yếu tố trong mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, mô hình nghiên cứu điều chỉnh, xây dựng thang đo.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày kết quả nghiên cứu gồm kiểm định thang đo các yếu tố, phân tích nhân tố, mô hình hồi qui đa biến và các giả thuyết nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách Tóm tắt kết quả nghiên cứu, những đóng góp cũng như hạn chế của đề tài và định hướng những nghiên cứu tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP Cạnh tranh gắn liền với hành vi của chủ thể như hành vi của doanh nghiệp kinh doanh, của cá nhân kinh doanh và của một nền kinh tế.
Trong quá trình cạnh tranh với nhau, để giành lợi thế về phía mình, các chủ thể phải áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp nhằm duy trì và phát triển vị thế của mình trên thị trường. Các biện pháp này thể hiện một sức mạnh nào đó của chủ thể được gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh hoặc khả năng cạnh tranh của chủ thể đó. Cho đến nay, một định nghĩa chính xác cho khái niệm này vẫn đang là vấn đề gây nhiều tranh luận. Dưới đây là một số khái niệm về năng lực cạnh tranh: - Theo MichaelPorter (1983, trang 75-90) Porter thì các doanh nghiệp không thể đưa ra một định nghĩa tuyệt đối về khái niệm năng lực cạnh tranh.
Porter (1983, trang 75-90) cho rằng: “Để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có được chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phẩm để đạt được những mức giá cao hơn trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh các doanh nghiệp cần ngày càng đạt được những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp hàng hóa hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn”. Quan niệm của Michael E. Porter đã đề cập đến vấn đề năng lực cạnh tranh còn bao hàm cả việc doanh nghiệp phải liên tục duy trì lợi thế cạnh tranh của mình.
Hay nói cách khác, doanh nghiệp phải liên tục duy trì mức lợi nhuận trên cơ sở bám sát với nhịp độ phát triển của thị trường hoặc thậm chí chủ động tạo lập nên sự phát triển của thị trường. - Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “Sức cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác, quốc gia khác đánh bại về năng lực kinh tế” (MUTRAP, 2003). - Theo Karama và Linge (2019) thì năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị phần của đồng nghiệp. Còn Lee và Falahat (2019) thì 5 cho rằng doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế.
Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng đảm bảo thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp. Chính vì có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh, vì vậy khi nghiên cứu năng lực cạnh tranh người ta thường xem xét phân biệt theo 4 cấp độ gồm năng lực cạnh tranh quốc gia, ngành, doanh nghiệp và sản phẩm. Cụ thể: + Năng lực cạnh tranh quốc gia: có thể hiểu là xây dựng một môi trường kinh tế chung, đảm bảo phân bổ hiệu quả các nguồn lực, đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững. + Năng lực cạnh tranh ngành: là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn.
+ Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp: là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp…một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo ra và có được các lợi thế cạnh tranh cho riêng mình.
Nhờ lợi thế, doanh nghiệp có thể thỏa mãn tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác cạnh tranh (Mikalef, Krogstie, Pappas, & Pavlou, 2020). + Năng lực cạnh tranh sản phẩm: Theo Madsen và Walker (2015) thì năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là khả năng sản phẩm, dịch vụ đó được sử dụng nhiều và nhanh chóng khi trên thị trường có nhiều doanh nghiệp cùng cung cấp loại sản phẩm, dịch vụ đó. Adede, Kibera, và Owino (2017) cho rằng năng lực cạnh 6 tranh của sản phẩm, dịch vụ chính là năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của loại sản phẩm, dịch vụ do chủ thể sản xuất và cung ứng nào đó đem ra để tiêu thụ so với sản phẩm, dịch vụ cùng loại của các chủ thể sản xuất, cung ứng khác đem đến tiêu thụ ở cùng một khu vực thị trường và thời gian nhất định. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ có thể hiểu là sự vượt trội so với các sản phẩm, dịch vụ cùng loại trên thị trường về chất lượng và giá cả với điều kiện các sản phẩm, dịch vụ tham gia cạnh tranh đều đáp ứng được các yêu cầu của người tiêu dùng, mang lại giá trị sử dụng cao nhất trên một đơn vị giá cả làm cho sản phẩm, dịch vụ có khả năng cạnh tranh cao hơn.
Khi đánh giá năng lực cạnh tranh sản phẩm, dịch vụ người ta thường sử dụng các chỉ tiêu chính như: sản lượng, doanh thu, lợi nhuận, thị phần. Các chỉ tiêu này là biểu hiện bên ngoài của năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ cho thấy kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của sản phẩm, dịch vụ. Khi đem so sánh với đối thủ, chúng thể hiện một cách trực giác sức mạnh tổng thể và vị thế hiện tại của sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường. CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH 2.
Năng lực tài chính -Vốn điều lệ, vốn tự có: Rashidirad, Salimian, Soltani, và Fazeli (2017) cho rằng về mặt lý thuyết, vốn điều lệ và vốn tự có đang đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động công ty viễn thông. Vốn điều lệ cao sẽ giúp công ty tạo được uy tín trên thị trường và tạo lòng tin nơi công chúng. Vốn tự có thấp đồng nghĩa với sức mạnh tài chính yếu và khả năng chống đỡ rủi ro của công ty thấp. - Quy mô và khả năng huy động vốn: Khả năng huy động vốn là một trong những tiêu chí đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của công ty viễn thông, đặc biệt trong lúc công ty triển khai các dự án có quy mô vốn lớn (Ngwenya, 2017).
Khả năng huy động vốn còn thể hiện tính hiệu quả, năng lực và uy tín của công ty đó trên thị trường. Khả năng huy động vốn tốt cũng có nghĩa là công ty đó sử dụng các sản phẩm dịch vụ, hay công cụ huy động vốn có hiệu quả, thu hút được nhà đầu tư. - Khả năng thanh toán: Theo chuẩn mực quốc tế, khả năng thanh toán của một doanh nghiệp thể hiện qua tỷ lệ giữa tài sản “Có” có thể thanh toán ngay và tài 7 sản “Nợ” phải thanh toán ngay. Chỉ tiêu này đo lường khả năng một doanh nghiệp có thể đáp ứng được nhu cầu thanh toán cho chủ nợ đối với các khoản nợ đến hạn.
Khi các khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp không thể thanh thì uy tín của doanh nghiệp đó bị giảm một cách đáng kể, thậm chí dẫn đến phá sản (Mikalef và cộng sự, 2020). - Khả năng sinh lời: Khả năng sinh lời là thước đo đánh giá tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp. Mức sinh lời được phân tích qua các thông số sau (Lee & Falahat, 2019): + Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu: ROE là tỷ lệ thu nhập sau thuế trên vốn CSH. ROE cho biết một đồng vốn tự có tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
ROE càng cao thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh. Thông lệ quốc tế ROE >15% được cho là có khả năng sinh lời cao. + Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản: ROA là tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản. ROA cho thấy khả năng chuyển đổi tài sản của doanh nghiệp thành thu nhập ròng.
ROA cho biết cứ một đồng tài sản thì doanh nghiệp tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. ROA đánh giá hiệu suất sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Thông lệ quốc tế ROA >1% được cho là đạt hiệu quả. - Mức độ rủi ro: Mức độ rủi ro của doanh nghiệp được đo bằng 2 chỉ tiêu cơ bản sau (Ngô Kim Thanh, 2011): + Hệ số an toàn vốn (CAR: capital adequacy ratio): Hệ số CAR chính là tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có rủi ro chuyển đổi.
Theo chuẩn quốc tế thì CAR tối thiểu phải đạt 8%. Tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng tài chính của doanh nghiệpcàng mạnh, càng tạo được uy tín, sự tin cậy của khách hàng với doanh nghiệp càng lớn. Tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ và năng lực marketing Các doanh nghiệp viễn thông có thể phát huy khả năng cạnh tranh của mình không chỉ bằng sản phẩm cơ bản mà còn thể hiện ở tính độc đáo, sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ của mình và marketing thành công sản phẩm dịch vụ đó đến với khách hàng (Nguyễn Tú Anh, 2014).