phần mở đầu, kết luận kết cấu luận văn gồm 4 chƣơng chính: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh động Chƣơng 2: Thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Kết luận và hàm ý giải pháp cho Công ty CP Đầu tƣ Sản xuất VLXD Sao Việt Nhật Miền Trung Luan van 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Khái niệm về lợi thế cạnh tranh Một doanh nghiệp đƣợc xem là có lợi thế cạnh tranh khi tỷ lệ lợi nhuận của nó cao hơn tỷ lệ bình quân trong ngành. Và doanh nghiệp có một lợi thế cạnh tranh bền vững khi nó có thể duy trì tỷ lệ lợi nhuận cao trong một thời gian dài.
Có bốn yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh là: hiệu quả, chất luợng, sự cải tiến và sự đáp ứng khách hàng.1: Các yếu tạo nên lợi thế cạnh tranh Mỗi yếu tố đều có sự ảnh huởng dến việc tạo ra sự khác biệt. Bốn yếu tố này sẽ giúp doanh nghiệp tạo ra giá trị cao hơn thông qua việc hạ thấp chi phí hay tạo sự khác biệt về sản phẩm so với các đối thủ. Từ đó, doanh nghiệp có thể làm tốt hơn đối thủ và có lợi thế cạnh tranh. Luan van 11 Theo Porter, Doanh nghiệp có đƣợc lợi thế cạnh tranh nếu có thể tạo ra giá trị vuợt trội cho khách hàng.
Giá trị này là mức ngƣời mua sẵn sàng thanh toán và một giá trị cao hơn xuất hiện khi doanh nghiệp chào bán các tiện ích tƣơng đƣơng với một mức giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh, hoặc cung cấp những tiện ích độc đáo khiến ngƣời mua vẫn hài lòng với mức giá cao hơn bình thƣờng. Rõ ràng ta thấy nguồn gốc của lợi thế canh tranh là giá trị, vậy giá trị đƣợc tạo ra từ đâu? (Nguồn: Micheal E.Porter,1985, trang 76) Hình 1.2: Chuỗi giá trị của Micheal E.Porter Theo Micheal, mỗi doanh nghiệp là tập hợp các hoạt động bao gồm các hoạt động chính và các hoạt động hỗ trợ, mỗi hoạt động đầu tham gia vào quy trình chuyển hóa yếu tố đầu vào thành đầu ra và tạo ra một giá trị cho khách hàng. Mỗi hoạt động đƣợc thực hiện đều tiêu hao một lƣợng chi phí nhất định.2, ta có thể dễ dàng thấy rằng tổng chi phí doanh nghiệp bỏ ra đƣợc đo bằng diện tích hình ABCGD, giá trị doanh nghiệp tạo ra đƣợc xác định bằng số tiền mà khách hàng sẵn sàng thanh toán cho sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp, đó chính là phần diện tích hình ABFHE, lợi nhuận doanh nghiệp nhận đƣợc chính là phần chênh lệch giữa ABFHE với ABCGD đƣợc biểu thị bởi diện tích DGCHFE. Luan van 12 Vậy, sẽ có hai cách để doanh nghiệp có đƣợc lợi thế cạnh tranh trên thị trƣờng.
Thứ nhất, doanh nghiệp sẽ cố gắng tạo ra nhiều giá trị hơn cho khách hàng bằng cách tạo ra những tiện ích độc đáo nhờ vào sự khác biệt hóa. Khi đó khách hàng chấp nhận trả một giá cao hơn và vƣợt trội so với chi phí tăng thêm. Tức là đƣờng EFH và CGD đều dịch sang phải nhƣng tốc độ dịch chuyển của EHF cao hơn CGD và phần diện tích DGCHFE tăng lên. Thứ hai, doanh nghiệp có thể cố gắng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của mình để hạ thấp chi phí.
Khi đó đƣờng CGD sẽ dịch chuyển sang trái nên dịch tích phần chênh lệch (diện tích hình DGCHFE) cũng tăng lên. (Bùi Thị Thanh, TS. Nguyễn Xuân Hiệp, 2012, tr 37 – 38) 1. Khái niệm về Năng lực cạnh tranh Nhƣ đã đề cập trong phần đối tƣợng nghiên cứu, Năng lực cạnh tranh trong đề tài đƣợc xem xét dƣới cấp độ doanh nghiệp.
Do đó, những khái niệm đƣợc trình bày trong đề tài này là khái niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Năng cạnh tranh đƣợc đề cập lần đầu tiên tại Mỹ vào năm 1980. Tuy nhiên, đến nay khái niệm năng lực cạnh tranh vẫn chƣa đƣợc hiểu theo một cách thống nhất, một số quan niệm về năng lực cạnh tranh đƣợc đề cập tới nhƣ sau: (1) Theo Sách trắng về cạnh tranh của Anh (1994) “Một công ty có năng lực cạnh tranh nếu nó sản xuất ra những sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cao hơn và chi phí thấp hơn các đối thủ trong và ngoài nước” (2) Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế trích dẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điển Thuật Ngữ chính sách thƣơng mại (1997), theo đó, năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan điểm về năng lực cạnh tranh trên mang tính chất định tính, khó có thể định luợng.
Luan van 13 (3) “Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với sự hoạt động mang lại lợi nhuận dài hạn của một công ty và khả năng của nó trong việc đảm bảo thu nhập cho người lao động và mang lại một khoản sinh lời cao hơn cho những chủ DN”- (Báo cáo về hoạt động thƣơng mại ở hải ngoại của một số chi nhánh của Loyds, 1985, trích trong Flanagan và cộng sự, 2005, tr. (4) Năng lực cạnh tranh của DN có thể đƣợc định nghĩa nhƣ là “khả năng của DN trong việc thiết kế, sản xuất và Marketing các sản phẩm vượt trội hơn so với các đối thủ cạnh tranh, xét cả về khía cạnh giá cả lẫn các khía cạnh phi giá”- (D’Cruz 1992, trích trong Ambastha & Momaya, 2004, tr. (5) Theo Uỷ ban Cộng đồng châu Âu, năng lực cạnh tranh của DN có thể được hiểu là khả năng của nó trong việc đương đầu với cạnh tranh để đảm bảo một mức thu nhập tương đối cho các yếu tố đầu vào và một mức việc làm tương đối cao trên một nền tảng bền vững. (EU, 1994, trích trong Flanagan và cộng sự, 2005, tr.
20) (6) Năng lực cạnh tranh của công ty là khả năng cơ bản trong việc nhận thức được những thay đổi từ môi trường bên ngoài lẫn bên trong và khả năng thích nghi với những thay đổi đó và tạo lợi nhuận dài hạn cho công ty” (Chikan, 2001, trích trong Dr. Nicolae Bibu và cộng sự, 2008 tr.2) (7) “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một công ty đứng vững trong kinh doanh và đạt được những kết quả mong đợi trên khía cạnh lợi nhuận, giá, tỷ suất sinh lời hay chất lượng sản phẩm và có năng lực trong việc khai thác các thị trường hiện tại và tạo ra thị trường mới” – (Asian Development Outlook, 2003, tr. (8) “Năng lực cạnh tranh của DN thể hiện ở khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của DN nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu khách hàng (so với các đối thủ cạnh tranh) và đạt được các Luan van 14 mục tiêu của DN trong môi trường cạnh tranh trong nước và quốc tế” (Vũ Trọng Lâm, Nguyễn Kế Tuấn và cộng sự, 2006, tr. 24) (9) Theo tác giả Lê Ðăng Doanh trong tác phẩm Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thời hội nhập: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đuợc đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận cho doanh nghiệp trong môi truờng cạnh tranh trong nuớc và ngoài nuớc”.(Đặng Đức Thành, Đoàn Duy Khƣơng, Lê Đăng Doanh, 2010, trg 28) Từ các quan điểm về năng lực cạnh tranh ở trên cho thấy đƣợc rằng: + Năng lực cạnh tranh là một khái niệm đa nghĩa Các khái niệm đƣợc phân theo hai hƣớng cụ thể, hƣớng thứ nhất cho rằng năng lực cạnh tranh là các nhân tố ảnh hƣởng hiệu quả hoạt động của DN nhƣ thiết kế tốt, chất lƣợng đảm bảo, chi phí thấp…Trong khi đó, quan điểm thứ hai cho rằng biểu hiện của năng lực cạnh tranh chính là ở kết quả mà DN có đƣợc từ lợi thế cạnh tranh: tăng trƣởng lợi nhuận, thị phần, hiệu quả sử dụng vốn… + Năng lực cạnh tranh là một khái niệm đa trị Do cách quan niệm khác nhau nên năng lực cạnh tranh cũng có nhiều cách đo lƣờng, tức là có nhiều chỉ báo cho năng lực cạnh tranh.
Có khi năng lực cạnh tranh đƣợc đo lƣờng bằng các chỉ tiêu nhƣ thị phần, lợi nhuận. Trong trƣờng hợp khác, nó đƣợc đánh giá thông qua năng suất, giá sản phẩm, chi phí sản xuất… (Võ Thị Quỳnh Nga, 2014, trg 2). + Năng lực cạnh tranh là một khái niệm có tính phụ thuộc Các khái niệm về năng lực cạnh tranh đƣợc đƣa ra dƣới nhiều góc nhìn khác nhau có thể là từ Doanh nghiệp, ngƣời lao động hoặc thậm chí năng lực cạnh tranh đôi khi đề cập dƣới góc nhìn của Khách hàng. Do đó, nghĩa của khái niệm phụ thuộc vào những đối tƣợng liên quan.
(Võ Thị Quỳnh Nga, 2014, trg 2) Luan van 15 + Năng lực cạnh tranh là một khái niệm có tính tương đối. Việc đo lƣờng năng lực cạnh tranh đều có tính tƣơng đối. Một DN có thể đƣợc coi là có năng lực cạnh tranh cao hơn khi so sánh với một tập hợp các DN trong một phạm vi không gian nào đó nhƣng lại thấp hơn khi so trong một phạm vi không gian khác. Vì vậy, khi đánh giá năng lực cạnh tranh, một trong những vấn đề quan trọng nhất là xác định hệ thống chỉ tiêu đánh giá cũng nhƣ phạm vi không gian và thời gian.
(Võ Thị Quỳnh Nga, 2014, trg 3) + Năng lực cạnh tranh là một khái niệm có tính động Ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh có nhiều nhân tố: các nhân tố vĩ mô, các nhân tố vi mô; các nhân tố bên trong DN, các nhân tố bên ngoài DN… Các nhân tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh thay đổi theo thời gian và không gian. Sự tác động của những nhân tố này sẽ khác nhau qua những giai đoạn khác nhau, ở các nƣớc khác nhau và trong phạm vi toàn cầu thì sự ảnh hƣởng đó lại càng thay đổi. (Võ Thị Quỳnh Nga, 2014, trg 3) Trong đề tài này, khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đƣợc hiểu là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng các lợi thế cạnh tranh của mình để đương đầu với đối thủ cạnh tranh và đạt được các mục tiêu của Doanh nghiệp. ĐO LƢỜNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH DOANH NGHIỆP Các quan điểm nghiên cứu về năng lực cạnh tranh đƣợc phân chia làm 3 nhóm.
Nhóm thứ nhất đi theo quan điểm nghiên cứu năng lực cạnh tranh dựa trên hiệu quả hoạt động (Performance). Theo nhóm nghiên cứu này, năng lực cạnh tranh của một DN thể hiện ở những chỉ báo về hiệu quả hoạt động. Nhóm nghiên cứu thứ hai lại có quan điểm cho rằng một DN có năng lực cạnh tranh cao khi nắm trong tay các tài sản/nguồn lực (Asset) dồi dào.