Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu 9 Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh của các cảng hàng không quốc tế. Chương 3: Năng lực cạnh tranh của một số cảng hàng không quốc tế ở Châu Á và những đối sánh với Việt Nam. Chương 4: Phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các cảng hàng không quốc tế của Việt Nam trên cơ sở bài học kinh nghiệm của quốc tế. 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến cạnh tranh và năng lực cạnh tranh Các công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, có thể kể đến các nhà kinh tế người Anh Peter J. Pass Kate Prescott (1988) trong nghiên cứu: “Measures of international competitiveness: A critical survey, Journal of Marketing Management” đã có định nghĩa về năng lực cạnh tranh và đo lường khả năng cạnh tranh quốc tế. Porter (1990) trong nghiên cứu “The competitive advantage of nations” cho rằng năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ và chưa có một định nghĩa nào được chấp nhận một cách thống nhất.
Tuy nhiên, năng lực canh tranh vẫn là một trong những khái niệm rộng và chưa được hiểu thiếu đầy đủ, phụ thuộc vào những ngành khác nhau mà nội hàm của khái niệm lại khác nhau. Khái niệm năng lực canh tranh được các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh tế, các nhà báo, các học giả hiểu khác nhau. Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, có thể thấy Roger Flanagan, Weisheng Lu, Liyin Shen Carol Jewell (2007), trong nghiên cứu có tên: “Competitiveness in construction: a critical review of research, Construction Management and Economics”, đã chỉ ra lý thuyết về năng lực cạnh tranh trên thế giới bước vào thời k bùng nổ với số lượng công trình nghiên cứu được công bố rất lớn. Các hướng nghiên cứu về năng lực cạnh tranh qua nghiên cứu của tác giả được chia thành 5 hướng chính: Năng lực cạnh tranh tiếp cận theo quan điểm của lý thuyết cạnh tranh truyền thống; Năng lực cạnh tranh tiếp cận theo chuỗi giá trị; 11 Năng lực cạnh tranh tiếp cận theo định hướng thị trường; Năng lực cạnh tranh tiếp cận theo lý thuyết nguồn lực DN; Năng lực cạnh tranh tiếp cận theo lý thuyết năng lực.
Có nhiều cách tiếp cận, nhận thức về ngành, cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, cấp ngành. Trước tiên, có thế xem xét đến một số khái niệm liên quan đến các thuật ngữ này.1 tóm tắt một số định nghĩa liên quan đến ngành, cạnh tranh và năng lực cạnh tranh cấp ngành trong một vài nghiên cứu trên thế giới: Bảng 1.1: Một số định nghĩa về ngành, cạnh tranh và năng lực cạnh tranh cấp ngành Thuật ngữ Định nghĩa Ngành Theo Micheal Porter (1985), ngành là một nhóm các doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm thay thế gần gũi cho nhau. Cạnh tranh Theo K. Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Theo Michael Porter (1985), cạnh tranh (kinh tế) tạo ra năng suất nhằm giành lấy thị phần. Năng suất là giá trị sản lượng do một đơn vị lao động hoặc vốn sinh ra, nó phụ thuộc vào chất lượng và đặc điểm của sản phẩm (yếu tố quyết định giá của sản phẩm). Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh), cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”.Nordhaus (1989), cạnh tranh 12 (Competition) là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition).
Dornbusch (2007), một cạnh tranh hoàn hảo là ngành mà trong đó mọi người đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hưởng tới giá cả thị trường, phải có nhiều người bán và nhiều người mua. Năng lực Theo OECD (1996), năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra cạnh tranh thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả cao làm cho doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (2006), “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một đất nước trong việc đạt được tỷ lệ thu nhập bình quân đầu người cao và bền vững”. Năng lực Theo Van Duren (1991), năng lực cạnh tranh cấp ngành là cạnh tranh năng lực duy trì được lợi nhuận trên thị trường trong nước và cấp ngành quốc tế.
Theo OECD (1996), “Năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng của ngành trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Theo United Nations (2001), năng lực cạnh tranh của một ngành là năng lực duy trì được lợi nhuận trên thị trường trong nước và quốc tế. Nguồn: Tổng hợp của tác giả 13 Như vậy, có thể hiểu rằng ngành là một hệ thống tập hợp các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sử dụng các yếu tố đầu vào, quy trình sản xuất, công nghệ để sản xuất và cung cấp những sản phẩm tương tự, thay thế cho nhau. Nguyên tắc phân ngành dựa vào 3 yếu tố chính: (1) Đặc trưng sản phẩm hàng hóa và dịch vụ; (2) Nguồn nguyên liệu đầu vào và quy trình công nghệ; (3) Công dụng của sản phẩm hàng hóa và dịch vụ.
Micheal Porter (1980), nghiên cứu sâu về cạnh tranh độc quyền. Chamberlin (1933) bàn về cạnh đồng nhất nguồn lực với chiến lược kinh doanh. Barney (1991) cho rằng khi môi trường kinh doanh thay đổi có tác động đến chiến lược kinh doanh. Chamberlin (1933) nhấn mạnh trong điều kiện mất cân bằng của thị trường và nền kinh tế độc quyền với giả định DN có lợi thế tuyệt đối về các tài sản, nguồn lực.
Do vậy, trong môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng thì các điều kiện về chí phí, công nghệ, quy mô,. đã không còn là lợi thế của doanh nghiệp. Lý thuyết năng lực cạnh tranh có những quan điểm khác nhau gồm: quan điểm quyết định (Shapiro, 1988), quan điểm thông tin thị trường (Kohli Jaworski,1990), quan điểm hành vi văn hóa (Day, 1994; Deshpande ctg, 1993; Slater Narver, 1990), quan điểm trọng tâm chiến lược (Ruekert, 1992), quan điểm định hướng khách hàng (Deshpandé ctg, 1993.), quan điểm dựa trên hệ thống (Becker Homburg, 1999; Hunt Morgan, 1995), quan điểm tổ chức học tập dựa trên thị trường (Sinkula, 1994) và quan điểm quan hệ khách hàng (Baker Sinkula, 1999). Ki-chun Ho (2005) trong cuốn “Corporate Govermance - An Internatonal review” đã nghiên cứu mối quan hệ gi a các hoạt động quản trị trong oanh nghiệp và năng lực cạnh tranh.
Tác giả đưa ra mô hình đo lường các hoạt động quản trị trong doanh nghiệp thông qua năm khía cạnh, 14 (1) Cơ cấu hội đồng quản trị; (2) Cương vị quản lý; (3) Chiến lược lãnh đạo; (4) Sở hữu tập trung và các mối quan hệ vốn - thị trường; (5) Trách nhiệm xã hội có mối quan hệ với năng lực cạnh tranh. Nghiên cứu đã cung cấp những bằng chứng cụ thể rằng hầu hết các công ty quốc tế đều tuân thủ các thực hành quản trị doanh nghiệp; mối quan hệ giữa quản trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp mạnh hơn rất nhiều khi quản trị doanh nghiệp được đánh giá trên cơ sở toàn diện hơn; và cuối cùng, các thuộc tính quản trị doanh nghiệp liên quan đến nhau và thích hợp hơn để theo đuổi hoặc nghiên cứu chúng trên cơ sở tập thể. Thompson, Strickland Gamble (2007) trong cuốn “Crafting and Executing Strategy: The Quest for Competitive Advantage. Concepts and Cases” đã đề xuất các nhân tố ảnh hư ng đến năng lực cạnh tranh t ng th của một DN dựa trên 10 yếu tố (Hình ảnh/uy tín, công nghệ, mạng lưới phân phối, khả năng phát triển và đổi mới sản phẩm, chi phí sản xuất, dịch vụ khách hàng, nguồn nhân lực, tình hình tài chính và trình độ quảng cáo, khả năng quản lý thay đổi).
Arnis Sauka (2014) trong báo cáo “Measuring the competitiveness of Latvian companies” được công bố tên tạp chí Baltic Journal of Economics số 14 năm 2014. Nghiên cứu dựa trên cuộc khảo sát chủ các doanh nghiệp để chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của các công ty ở Latvia. Kết quả nghiên cứu đã xác định 7 nhân tố ảnh hưởng đến NLCT cấp công ty, bao gồm: (1) Năng lực tiếp cận các nguồn lực; (2) Năng lực làm việc của nhân viên; (3) Nguồn lực tài chính; (4) Chiến lược kinh doanh; (5) Tác động của môi trường; (6) Năng lực kinh doanh so với đối thủ; (7) Sử dụng các mạng lưới thông tin liên lạc. Nghiên cứu này chỉ sử dụng phương pháp thống kê và đưa ra nhận xét dựa trên giá trị trung bình và xác định những yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của doanh nghiệp cũng như đo lường mức độ của chúng 15 thông qua khảo sát nhưng không đề cập đến mối quan hệ với NLCT của doanh nghiệp.
Lê Thị Hằng (2013) trong luận án Tiến s Nâng cao năng lực cạnh tranh trong cung ứng ịch vụ thông tin i động của các công ty vi n thông Việt Nam , Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ thông tin di động của DN, sự cần thiết phải nâng cao NLCT trong cung ứng dịch vụ thông tin di động của các công ty viễn thông; phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh trong cung ứng dịch vụ di động của một số công ty viễn thông Việt Nam, so sánh điểm mạnh, điểm yếu cả việc cung ứng dịch vụ giữa các công ty này với nhau và tìm ra những vấn đề cần giải quyết để nâng cao NLCT của mình. Nguyễn Duy Hùng (2016) trong luận án Tiến s Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam , Đại học Kinh tế quốc dân. Tác giả đã vận dụng mô hình đánh giá các yếu tố nội bộ của Thompson và Strickland (2001) để xác định hệ thống 07 yếu tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam, bao gồm yếu tố về tiềm lực tài chính; vốn trí tuệ; chất lượng sản phẩm; trình độ công nghệ; chất lượng dịch vụ; thương hiêu, uy tín và hoạt động xúc tiến; mạng lưới hoạt động.