Lời mở đầu “Giải thích các chuẩn mực kiểm toán” cho rằng: “Kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”[27,30]. Quan điểm của các chuyên gia kiểm toán Hoa Kỳ cho rằng: “Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về thông tin có thể lượng hóa có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hóa với những tiêu chuẩn đã được thiết lập”[27,31]. Quan điểm của Cộng hòa Pháp trong giáo dục và đào tạo kiểm toán cho rằng: “Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của 6 một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che giấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định”[27,30]. Cả 3 quan điểm nêu trên về cơ bản đều đã khái quát 5 yếu tố cơ bản về kiểm toán, đó là: (1) Chức năng của kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến (nghiên cứu và kiểm tra); (2) Đối tượng trực tiếp của kiểm toán là các báo cáo tài chính của các tổ chức hay một thực thể kinh tế; (3) Khách thể kiểm toán được xác định là thực thể kinh tế hoặc một tổ chức; (4) Chủ thể kiểm toán là những kiểm toán viên độc lập, có nghiệp vụ và (5) Cơ sở thực hiện kiểm toán là những luật định, tiêu chuẩn hay chuẩn mực nói chung.
Thuật ngữ “kiểm toán” thực sự mới xuất hiện và sử dụng ở Việt Nam hơn 15 năm, nên các khái niệm chung về kiểm toán cũng mới được đề cập ở mức độ hạn chế, sau đây là một số quan điểm chính: Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam thì “Kiểm toán (audit) là quá trình xem xét và thẩm tra các bảng kế toán của những tổ chức sản xuất kinh doanh và quản lý nhà nước về kinh tế, do các nhân viên gọi là kiểm toán viên (auditor) có đủ trình độ, có đủ nghề nghiệp chuyên môn giỏi thực hiện. Các báo cáo quyết toán tài chính của doanh nghiệp, tổ chức xã hội. được kiểm toán ký lưỡng để xét xem báo cáo quyết toán đó được lập ra có đúng với các chuẩn mực nguyên lý kế toán và quy tắc thông dụng đã được quy định không, số liệu có phản ánh trung thực và chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp”[31,564]. Theo Từ điển kinh doanh Anh – Việt thì “Kiểm toán (audit) là một cuộc kiểm tra chính thức những báo cáo và thủ tục kế toán của một doanh nghiệp, một cơ quan Chính phủ do một nhân viên kiểm toán (auditor) tiến hành, nhằm 7 kiểm tra sự xác nhận trong tình hình tài chính, chống mọi sự khai man.
Cuộc kiểm tra có thể được thực hiện bởi một người trong nội bộ (internal audit, kiểm toán nội bộ) hoặc bởi một người từ bên ngoài (independant audit, kiểm toán độc lập)”[32,47]. Theo giáo trình Lý thuyết kiểm toán của Trường Đại học Kinh tế quốc dân thì “Kiểm toán là xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý có hiệu lực”[27,38]. Theo giáo trình Kiểm toán của Học viện Tài chính thì “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được xây dựng”[12,5]. Theo Luật Kiểm toán nhà nước thì “Kiểm toán là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; việc tuân thủ pháp luật; tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngân sách , tiền và tài sản nhà nước”[15,8].
Qua các khái niệm đã nêu và phân tích trên tác giả cho rằng “Kiểm toán là một quá trình mà trong đó các cá nhân độc lập (kiểm toán viên), có trình độ chuyên môn phù hợp, tiến hành kiểm tra và xác minh về các thông tin có thật và có thể lượng hóa được của một cơ quan hoặc tổ chức nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa các thông tin thu thập được với những tiêu chuẩn đã được thiết lập" 8 Khái niệm kiểm toán nhà nước Theo giáo trình Kiểm toán của Học viện Tài chính thì “Kiểm toán nhà nước là công việc kiểm toán do cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước (Tài chính, thuế.) và cơ quan Kiểm toán nhà nước chuyên trách tiến hành”. Theo giáo trình của trường Đại học Kinh tế Quốc dân, thì “Kiểm toán nhà nước là hệ thống bộ máy chuyên môn của Nhà nước thực hiện các chức năng kiểm toán tài sản công” Luật Kiểm toán nhà nước, điều 13 quy định rõ: “Kiểm toán nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước, do Quốc hội thành lập và chỉ tuân theo pháp luật” Từ những quan điểm trên có thể rút ra khái niệm về Kiểm toán nhà nước như sau: Kiểm toán nhà nước là công việc kiểm toán do cơ quan Kiểm toán nhà nước tiến hành, nhằm xác định tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước các cấp; báo cáo quyết toán, báo cáo tài chính của các cơ quan, đơn vị, tổ chức có sử dụng ngân sách nhà nước; kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước và tài sản công. Từ khái niệm “kiểm toán” và “kiểm toán nhà nước” đã phân tích ở trên có thể thấy KTNN cũng có 2 chức năng cơ bản của kiểm toán nói chung, đó là: Chức năng xác minh và chức năng bày tỏ ý kiến. Chức năng xác minh nhằm khẳng định mức độ trung thực của các tài liệu, số liệu, tính hợp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các báo cáo tài chính; Chức năng bày tỏ ý kiến có thể được hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về chất lượng thông tin và cả pháp lý, tư vấn qua xác minh.
Phân loại kiểm toán Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau hoạt động kiểm toán có thể được phân chia thành các loại khác nhau. Nếu căn cứ vào loại hình thì có thể chia kiểm toán thành 3 loại sau: Một là, kiểm toán báo cáo tài chính. Kiểm toán báo cáo tài chính là loại hình kiểm toán nhằm kiểm tra và xác nhận về tính tính trung thực, hợp lý của các số liệu và chỉ tiêu được phản ánh trên báo cáo tài chính của các đơn vị được kiểm toán. Hai là, kiểm toán tuân thủ.
Kiểm toán tuân thủ là loại hình kiểm toán nhằm kiểm tra, xem xét đơn vị được kiểm toán có tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền ban hành không. Ba là, kiểm toán hoạt động. Kiểm toán hoạt động là loại hình kiểm toán để kiểm tra, đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý và sử dụng ngân sách tiền và tài sản nhà nước. Nếu căn cứ vào chủ thể kiểm toán thì theo thông lệ Quốc tế và quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, hiện tại ở nước ta có 03 tổ chức (chủ thể) kiểm toán (Kiểm toán nội bộ, Kiểm toán độc lập và Kiểm toán Nhà nước) như sau: Một là, kiểm toán nội bộ là loại kiểm toán do các kiểm toán viên nội bộ của từng đơn vị tiến hành theo quy chế làm việc của từng đơn vị hoặc do yêu cầu của Lãnh đạo đơn vị, nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý nội bộ của đơn vị.
Như vậy, Kiểm toán nội bộ là một bộ phận của đơn vị thường là một tổ chức trực thuộc giám đốc. Kiểm toán nội bộ có nhiệm vụ kiểm toán các báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị của doanh nghiệp và của các đơn vị thành viên; kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động, với một số nội dung 10 chủ yếu sau: (1) Kiểm toán báo cáo và báo cáo kế toán quản trị với một số nội dung chủ yếu sau: Kiểm tra và xác nhận tính kịp thời, đầy đủ khách quan, tính tin cậy của báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị trước khi Giám đốc ký duyệt và công bố; kiểm tra và đánh giá các báo cáo tài chính, kế toán quản trị để đưa ra những kiến nghị và tư vấn cần thiết cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm bảo đảm sự hợp lý và hiệu quả. (2) Kiểm toán tuân thủ với một số nội dung chủ yếu sau: Kiểm toán tính tuân thủ pháp luật, chính sách, chế độ tài chính, kế toán, chế độ quản lý của nhà nước và tình hình chấp hành các chính sách, nghị quyết, quyết định quy chế của Hội đồng quản trị, của Ban giám đốc, kiểm tra tình tuân thủ các quy định về nguyên tắc, quy trình nghiệp vụ, thủ tục quản lý của toàn bộ cũng như từng khâu công việc, của từng biện pháp trong hệ thống kiểm soát nội bộ; kiểm tra sự chấp hành các nguyên tắc, các chính sách, các chuẩn mực kế toán từ khâu lập chứng từ, vận dụng hệ thống tài khoản, ghi sổ kế toán, tổng hợp thông tin và trình bày báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị đến lưu trữ tài liệu kế toán. Hai là, kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, tổ chức (gọi chung là đơn vị được kiểm toán) khi có yêu cầu của các đơn vị này.
Như vậy, Kiểm toán độc lập thực chất là một loại hình dịch vụ, tư vấn về tài chính, kế toán được thành lập theo quy định của pháp luật, hoạt động chủ yếu của nó là trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính.