Tổng quan luận án

Đề tài nghiên cứu "Nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta hiện nay" được thực hiện trong khuôn khổ chuyên ngành Triết học (Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử). Luận án tập trung giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn về tư duy chiến lược của đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong bối cảnh đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam.

+-----------------------------------------------------------------------------------------+
|                                  THÔNG TIN TỔNG QUAN                                    |
+----------------------+------------------------------------------------------------------+
| Tiêu đề              | Nâng cao tư duy chiến lược cho cán bộ lãnh đạo Việt Nam          |
+----------------------+------------------------------------------------------------------+
| Chuyên ngành         | Triết học / Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử      |
+----------------------+------------------------------------------------------------------+
| Hướng tiếp cận       | Nghiên cứu định tính, phương pháp luận triết học Mác - Lênin      |
+----------------------+------------------------------------------------------------------+
| Đối tượng nghiên cứu | Trình độ tư duy chiến lược của đội ngũ cán bộ lãnh đạo           |
+----------------------+------------------------------------------------------------------+
| Khách thể/Phạm vi    | Đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị Việt Nam        |
+----------------------+------------------------------------------------------------------+

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tư duy chiến lược giữ vai trò định hướng đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của người lãnh đạo. Trong lịch sử tư tưởng triết học và khoa học quản lý, vấn đề tư duy và tư duy lý luận đã được khảo sát ở nhiều phương diện. Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét tư duy lý luận nói chung, hoặc bàn về chiến lược phát triển trong từng lĩnh vực chuyên ngành cụ thể (như kinh tế, văn hóa, giáo dục, quân sự) mà chưa tiếp cận tư duy chiến lược với tính cách là một quy trình tư duy, một trình độ và năng lực tư duy khái quát mang tính chỉnh thể.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định bao gồm:

  1. Thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về bản chất, cấu trúc và con đường hình thành tư duy chiến lược dưới góc độ triết học nhận thức luận.
  2. Chưa có sự phân định rõ ràng giữa tư duy chiến lược với tư duy kinh nghiệm, tư duy lý luận và tư duy sách lược trong hoạt động lãnh đạo.
  3. Chưa hệ thống hóa đầy đủ các nhân tố tác động mới như bối cảnh kinh tế - xã hội sau hơn 30 năm đổi mới và tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến yêu cầu năng lực tư duy của cán bộ lãnh đạo tại Việt Nam.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là làm rõ cơ sở lý luận về tư duy chiến lược, phân tích thực trạng trình độ tư duy chiến lược của cán bộ lãnh đạo và xác lập hệ thống giải pháp nhằm nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở Việt Nam hiện nay.

Các nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu cụ thể được xác định theo văn bản:

  1. Phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận về tư duy chiến lược; xác định tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo; chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng và bản chất thực sự của việc nâng cao trình độ tư duy chiến lược.
  2. Khảo sát, phân tích ưu điểm, hạn chế và các vấn đề đặt ra về trình độ tư duy chiến lược của đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp có cơ sở khoa học nhằm nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo ở nước ta.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bản chất lý luận, đặc trưng, vai trò và các quy luật hình thành, phát triển trình độ tư duy chiến lược của cán bộ lãnh đạo.
  • Phạm vi nội dung: Tiếp cận dưới góc độ triết học nhận thức luận Mác - Lênin kết hợp với khoa học lãnh đạo, quản lý.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu thực tiễn đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị Việt Nam qua chặng đường hơn 30 năm đổi mới (từ Đại hội VI năm 1986 đến giai đoạn thực hiện các văn kiện Đại hội XII của Đảng), có liên hệ với bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả phân chia thành ba nhóm công trình chính:

Nhóm công trình Tác giả và tác phẩm tiêu biểu Nội dung học thuật đã đạt được
1. Nghiên cứu về tư duy và tư duy chiến lược - Phạm Như Cương (1995) [16]: Đổi mới phong cách tư duy
- Trần Văn Phòng (2002) [81]: Học tập phong cách tư duy Hồ Chí Minh
- Nguyễn Trọng Chuẩn (2000) [11]: Nửa thế kỷ nghiên cứu và giảng dạy triết học ở Việt Nam
- Nguyễn Trọng Chuẩn, Đặng Hữu Toàn (2001) [12]: Những vấn đề lý luận đặt ra từ các văn kiện Đại hội IX của Đảng
- Vũ Khoan (2007) [46]: Tư duy chiến lược và khoa học lãnh đạo, quản lý...
- Nguyễn Ngọc Long (2004) [57]: Năng lực tư duy lý luận trong quá trình đổi mới tư duy
- Hồ Bá Thâm (2003) [101]: Bàn về năng lực tư duy
- Trần Đình Huỳnh (2000) [44]: Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của năng lực trí tuệ và lý luận
- Nguyễn Đức Quyền (2009) [90]: Nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện ở nước ta hiện nay
- Thái Ninh (1998) [78]: Mấy ý kiến về đổi mới tư duy lý luận
- Hội thảo Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (6/2008)
- Khẳng định vai trò của tư duy biện chứng duy vật và phong cách tư duy Hồ Chí Minh nhằm khắc phục bệnh giáo điều, kinh nghiệm, duy ý chí.
- Tổng kết các hướng nghiên cứu nhận thức luận, phương pháp luận, lôgíc học.
- Khẳng định tư duy chiến lược là nội dung cốt lõi của khoa học lãnh đạo, quản lý và dịch vụ công.
2. Nghiên cứu về trình độ tư duy của cán bộ lãnh đạo - Nguyễn Thế Kiệt (2002) [81]
- Tô Huy Rứa và cộng sự (2001) [92]: Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta từ năm 1986 đến nay
- Các học giả Trung Quốc (2004) [96]: 5 đương đại
- T. Irene Sanders (2003) [94]: Tư duy chiến lược và khoa học mới...
- Bruce và Andy (2004) [8]: Tư duy chiến lược
- Avinat Đixit, Beri NênBăp (2007) [1]: Tư duy chiến lược - Công cụ sắc bén trong chính trị, kinh doanh và đời thường
- Lê Hữu Nghĩa (2003) [71]: Một số căn bệnh trong phương pháp tư duy của cán bộ ta
- Trần Văn Phòng (2008, 2011, 2013) [82, 83, 84]
- Ban Chỉ đạo Tổng kết Trung ương (2015) [27]: Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 30 năm đổi mới
- Phân tích thực trạng tư duy của cán bộ: tính năng động đi liền với tâm lý trông chờ chỉ đạo, thụ động giải quyết tình huống.
- Tổng kết 20 - 30 năm đổi mới tư duy của Đảng; chỉ ra sự bất cập giữa tư duy và hành động, hiện tượng suy thoái đạo đức, tệ quan liêu.
- Nhận diện các căn bệnh tư duy: bệnh giáo điều (tuyệt đối hóa lý luận) và bệnh kinh nghiệm (tuyệt đối hóa kinh nghiệm).
- Xác định 4 yếu tố hình thành tư duy chiến lược (tố chất bẩm sinh, tri thức rèn luyện, môi trường, hoạt động thực tiễn) và 4 nội dung (tư duy toàn cầu cho hành động quốc gia, quản trị xã hội, nguồn nhân lực chất lượng cao, mô hình phát triển).
3. Nghiên cứu về giải pháp nâng cao trình độ tư duy - Thái Kiến Ba, Chu Minh, Vĩ Học Cơ (2002) [3]
- Hoàng Chí Bảo (2011) [4]: Năng lực lãnh đạo chiến lược - quan niệm, vấn đề và giải pháp
- Vương Như Cần (2003) [9]: Tư duy chiến lược của cán bộ lãnh đạo cần đủ bốn quan điểm
- Đỗ Minh Cương, Nguyễn Viết Lộc (2014) [15]: Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tham mưu chiến lược
- Dương Minh Đức (2010) [31]: Luận án tiến sĩ cấp tỉnh vùng Đồng bằng sông Hồng
- Ngô Huy Đức (2012) [32]: Nâng cao năng lực tư duy của cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược
- Đoàn Minh Huấn (2013) [43]
- Tăng Quảng Lạc (2002) [49]: Bàn về nguyên tắc cơ bản của tư duy chiến lược...
- Đỗ Văn Quân, Nguyễn Ngọc Lam (2017) [86]
- Đoạn Bồi Quân (2003) [87]
- Trần Thành (2007) [99]
- Hồ Bá Thâm (2004) [102]
- Trần Thị Thanh Thủy (2014) [110]: Kinh nghiệm đào tạo lãnh đạo chiến lược của Xin-ga-po
- Đề xuất 4 phương pháp nhãn quan bồi dưỡng tư duy: rộng mở, thấu tỏ, nhìn xa trông rộng, vượt trước.
- Phân tầng lãnh đạo chiến lược: cấp quốc gia/vĩ mô, cấp tỉnh/vùng miền, cấp cơ sở.
- Xác lập 4 quan điểm (triết học, thời đại, toàn cục, thực tiễn) và 4 nguyên tắc (giá trị, khoa học, dân chủ, sáng tạo).
- Phân tích cấu trúc năng lực tư duy theo 3 chiều kích: mục tiêu - phương thức (hoạch định), toàn cục - cục bộ (toàn cục), hiện tại - tương lai (dự báo).
- Bài học từ Trường Công vụ Singapore (Civil Service College Singapore) về đào tạo tư duy bối cảnh và tư duy đại cục.

Vị trí và khoảng trống luận án tiếp tục giải quyết

Mặc dù các tài liệu trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của tư duy, tư duy lý luận và quản trị chiến lược, phần lớn các nghiên cứu mới dừng lại ở việc bàn luận về các chiến lược cụ thể của từng ngành hoặc từng cấp chính quyền địa phương riêng lẻ. Luận án lựa chọn định vị nghiên cứu vào việc giải quyết tư duy chiến lược với tư cách là một quy trình nhận thức mang tính chỉnh thể, làm rõ các tiêu chí của một trình độ tư duy ở tầm vĩ mô và chỉ ra con đường bản chất để bồi dưỡng, nâng cao trình độ này cho cán bộ lãnh đạo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chuyển đổi số.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng

Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử, trực tiếp là lý luận nhận thức Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh:

  • Lý luận phản ánh: Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người một cách tích cực, chủ động, sáng tạo dựa trên cơ sở thực tiễn lịch sử - cụ thể. Nhận thức vận động biện chứng từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính, trong đó thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích và tiêu chuẩn của chân lý.
  • Khái niệm tư duy: Được tiếp cận dưới góc độ triết học như là giai đoạn phát triển cao của nhận thức, sản phẩm của bộ não người, phản ánh bản chất và các mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng dưới dạng khái niệm, phán đoán, suy lý và giả thuyết.
  • Phân loại tư duy:
    • Theo trình độ: Phân biệt giữa "Tư duy kinh nghiệm" (dựa vào kinh nghiệm trực tiếp, tự phát, trình độ trừu tượng hóa thấp, khả năng dự báo hạn chế) và "Tư duy lý luận" (phản ánh thuộc tính bản chất, có hệ thống, mang tính trừu tượng và khái quát cao, gắn liền với phương pháp luận khoa học).
    • Theo tầm nhìn: Phân biệt giữa "Tư duy sách lược" (quyết định hành động ngắn hạn, mục tiêu trước mắt, linh hoạt, uyển chuyển) và "Tư duy chiến lược" (hoạch định tầm nhìn dài hạn, định hướng tổng thể, bao quát toàn cục).
  • Khái niệm lãnh đạo và quản lý: Vận dụng định nghĩa từ Từ điển tiếng Việt [79, tr. 540], xác định lãnh đạo bao trùm lên quản lý; lãnh đạo là việc vạch ra đường lối, phương hướng ở tầm vĩ mô và chỉ đạo, kiểm tra thực tiễn, trong khi quản lý là sự triển khai cụ thể các quyết định lãnh đạo.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng thuần túy các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp luận triết học chuyên ngành:

  • Phương pháp kết hợp lịch sử và lôgíc: Khảo sát sự phát triển của các quan niệm về tư duy qua lịch sử triết học và quá trình đổi mới tư duy của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1986 đến nay.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Hệ thống hóa các nguồn văn kiện Đại hội Đảng (Đại hội VI, IX, XII), các bài viết, sách chuyên khảo trong và ngoài nước.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh giữa tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận, giữa tư duy sách lược và tư duy chiến lược, đối chiếu kinh nghiệm đào tạo cán bộ của một số quốc gia (Singapore, Trung Quốc).
  • Phương pháp phân tích hệ thống - cấu trúc: Tiếp cận năng lực tư duy chiến lược của cán bộ lãnh đạo như một chỉnh thể bao gồm các yếu tố nhận thức, dự báo, hoạch định và tổ chức thực hiện.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Các tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
  • Văn kiện các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam (Đại hội VI, IX, XII), Báo cáo tổng kết 30 năm đổi mới, Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII.
  • Báo cáo và số liệu công bố từ các tổ chức quốc tế: Báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về tác động của tự động hóa đối với ngành dệt may, da giày Đông Nam Á.
  • Dữ liệu thực tiễn ứng dụng khoa học công nghệ: Dữ liệu y tế về hệ thống IBM Watson, số liệu phẫu thuật bằng robot tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đầu năm 2017.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 thực hiện tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến tư duy và tư duy chiến lược của cán bộ lãnh đạo theo ba tuyến nội dung chính:

  1. Các công trình nghiên cứu về tư duy và tư duy chiến lược: Điểm lại các công trình nghiên cứu cơ bản về nhận thức luận, phương pháp luận, lôgíc học của Phạm Như Cương, Nguyễn Trọng Chuẩn, Hồ Bá Thâm, Vũ Khoan. Phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn qua các nghiên cứu của Trần Văn Phòng, Trần Đình Huỳnh. Khảo sát các công trình phân tích vai trò của tư duy lý luận đối với công cuộc đổi mới kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Nguyễn Ngọc Long, Thái Ninh) và kỷ yếu hội thảo khoa học của Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh (2008) về tư duy chiến lược trong khu vực công.
  2. Các công trình nghiên cứu về trình độ tư duy, tư duy chiến lược của đội ngũ cán bộ lãnh đạo: Đánh giá các nghiên cứu thực trạng của Nguyễn Thế Kiệt, Tô Huy Rứa, Lê Hữu Nghĩa; các nghiên cứu quốc tế của học giả Trung Quốc (5 đương đại), phương Tây (T. Irene Sanders, Bruce và Andy, Avinat Đixit và Beri NênBăp); các công trình nghiên cứu chuyên sâu về tư duy cán bộ cấp huyện (Trần Văn Phòng, Nguyễn Đức Quyền), cấp tỉnh (Dương Minh Đức) và cán bộ cấp chiến lược (Ngô Huy Đức, Đoàn Minh Huấn).
  3. Các công trình về giải pháp nâng cao trình độ tư duy chiến lược cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo: Tổng hợp các nhóm giải pháp từ nghiên cứu của Hoàng Chí Bảo, Đỗ Minh Cương - Nguyễn Viết Lộc, các tác giả Trung Quốc (Thái Kiến Ba, Vương Như Cần, Tăng Quảng Lạc, Đoạn Bồi Quân) và kinh nghiệm đào tạo của Trường Công vụ Singapore qua bài viết của Trần Thị Thanh Thủy.

Tiểu kết Chương 1: Tác giả khẳng định tư duy chiến lược là một cấp độ phát triển của tư duy lý luận nhưng chưa được nghiên cứu toàn diện dưới góc độ bản chất triết học nhận thức luận, qua đó xác lập tính hợp lý và phạm vi triển khai của đề tài luận án.


Chương 2: Một số vấn đề lý luận về tư duy chiến lược và vai trò của nó đối với hoạt động của cán bộ lãnh đạo

Chương 2 tập trung xây dựng cơ sở lý luận, làm rõ nội hàm khái niệm và các yếu tố quy định tư duy chiến lược của người lãnh đạo:

1. Bản chất nhận thức luận của tư duy và phân định các loại hình tư duy

  • Nhận thức là sự phản ánh tích cực, biện chứng hiện thực khách quan, vận động từ cảm tính đến lý tính thông qua thực tiễn.
  • Tư duy lý luận có đặc trưng khái quát hóa, hệ thống hóa cao, phản ánh bản chất bên trong và quy luật vận động, là cơ sở nền tảng của tư duy khoa học nhưng có hạn chế là dễ rơi vào tư biện nếu thoát ly thực tiễn.
  • Phân biệt mối quan hệ giữa tư duy sách lược và tư duy chiến lược: Sách lược mang tính bộ phận, linh hoạt, ngắn hạn nhằm phục vụ cho mục tiêu chiến lược mang tính tổng thể, lâu dài.

2. Đặc điểm hoạt động và hai phẩm chất cơ bản của người cán bộ lãnh đạo

  • Hoạt động lãnh đạo là sự tác động định hướng đến khách thể (người dưới quyền và nhân dân) qua các khâu: nắm bắt và xử lý thông tin, ra quyết định, tổ chức lực lượng thực hiện, và kiểm tra việc thực hiện quyết định.
  • Cán bộ lãnh đạo cần hội tụ hai phẩm chất cơ bản:
    1. Năng lực lựa chọn và đưa ra quyết định đúng đắn.
    2. Năng lực tổ chức thực hiện thành công một cách tối ưu các quyết định đó.

3. Vai trò của nâng cao trình độ tư duy chiến lược

  • Về mặt nhận thức: Giúp người lãnh đạo có phương pháp tư duy hệ thống, phân tích toàn diện trong bối cảnh các mối quan hệ xã hội đan xen phức tạp và tính bất định gia tăng; nâng cao năng lực khái quát hóa tri thức và nhận diện bản chất nguy cơ, thách thức mới.
  • Về mặt hoạt động thực tiễn: Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn; khắc phục bệnh kinh nghiệm, giáo điều, chủ quan duy ý chí; tăng cường tính dự báo khoa học, định hướng xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội dài hạn.

4. Các nhân tố tác động đến yêu cầu nâng cao trình độ tư duy chiến lược

Chương 2 đi sâu phân tích hai nhóm nhân tố khách quan tác động trực tiếp:

  • Bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới:

    • Thành tựu và kết quả: Kinh tế vĩ mô ổn định, thực hiện 3 đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; phát triển nguồn nhân lực và ứng dụng KHCN; xây dựng kết cấu hạ tầng).
    • Hạn chế và thách thức: Tăng trưởng chưa thực sự bền vững, một số ngành phát triển nóng, năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; mục tiêu cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đến năm 2020 chưa đạt; các vấn đề biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên.
    • Yêu cầu giải quyết các mối quan hệ lớn: Cần tư duy chiến lược để xử lý đồng bộ các mối quan hệ lớn được nêu trong Văn kiện Đại hội XII (đổi mới - ổn định - phát triển; đổi mới kinh tế - đổi mới chính trị; quy luật thị trường - định hướng XHCN; phát triển LLSX - hoàn thiện QHSX; nhà nước - thị trường - xã hội; tăng trưởng kinh tế - phát triển văn hóa, công bằng xã hội; xây dựng CNXH - bảo vệ Tổ quốc; độc lập tự chủ - hội nhập quốc tế; Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ).
  • Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư:

    • Cơ hội: Lợi thế đi sau không bị cản trở bởi quy mô cồng kềnh, khả năng bứt phá năng suất lao động và đổi mới mô hình quản trị.
    • Thách thức và số liệu thực tế:
Lĩnh vực Dữ kiện và số liệu trích dẫn trong văn bản Tác động đến tư duy lãnh đạo
Lao động - Việc làm Báo cáo của ILO: Hơn 2/3 trong số 9,2 triệu lao động ngành dệt may, da giày tại Đông Nam Á bị đe dọa do tự động hóa.
- Tỷ lệ chịu ảnh hưởng: 86% lao động Việt Nam, 88% lao động Campuchia, 64% lao động Indonesia.
Nguy cơ mất lợi thế lao động thủ công giá rẻ; đòi hỏi hoạch định chiến lược chuyển đổi nguồn nhân lực.
Y tế - Ứng dụng hệ thống IBM Watson tổng hợp hàng triệu hồ sơ bệnh án để hỗ trợ chẩn đoán.
- Đầu năm 2017, các bệnh viện tại Hà Nội và TP.HCM đưa vào sử dụng robot phẫu thuật 4 cánh tay, góc phẫu thuật rộng 540 độ, hình ảnh 3D.
Tích hợp công nghệ cao trong cung cấp dịch vụ công, quản lý rủi ro y tế.
Giáo dục & Đào tạo Công nghệ thực tế ảo (VR) áp dụng mô phỏng lớp học, giả lập sa bàn lịch sử và đào tạo phi công trong buồng lái giả lập. Đổi mới phương thức đào tạo thực hành, giảm thiểu sai sót kỹ thuật.
Nông nghiệp Ứng dụng công nghệ IoT và hệ thống cảm biến (sensor) tự động điều tiết tưới tiêu, phân bón. Giải quyết nguy cơ thất nghiệp của nông dân, tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp.

Kết quả và những đóng góp mới

Dựa trên các nội dung trình bày tại phần tổng quan và cơ sở lý luận, các đóng góp mới của đề tài được thể hiện qua các luận điểm:

                  ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
VỀ MẶT LÝ LUẬN                                  VỀ MẶT THỰC TIỄN
- Hệ thống hóa tư duy chiến lược dưới          - Đánh giá thực trạng tư duy cán bộ
  góc độ triết học nhận thức luận.               lãnh đạo theo yêu cầu đổi mới.
- Phân định rõ tư duy chiến lược với           - Nhận diện thách thức từ Cách mạng 4.0
  tư duy kinh nghiệm, lý luận, sách lược.        và các mối quan hệ lớn của nền kinh tế.
- Xác lập khung 2 phẩm chất cơ bản và          - Đề xuất định hướng giải pháp bồi dưỡng
  các khâu của hoạt động lãnh đạo.               tư duy chiến lược có tính khả thi.
  1. Đóng góp về mặt lý luận:

    • Xây dựng cách tiếp cận tổng thể về tư duy chiến lược dưới góc độ triết học Mác - Lênin, không đồng nhất tư duy chiến lược với các bản kế hoạch hay chiến lược kinh tế ngành riêng lẻ.
    • Làm rõ mối quan hệ biện chứng giữa tư duy lý luận và tư duy chiến lược; khẳng định tư duy lý luận là tiền đề, cơ sở phương pháp luận cho tư duy chiến lược, trong khi tư duy chiến lược là sự cụ thể hóa tư duy lý luận vào việc giải quyết các bài toán phát triển lâu dài.
    • Luận giải cơ chế nhận thức của người lãnh đạo trong việc xử lý các tình huống bất định, phức tạp của thời đại toàn cầu hóa và chuyển đổi số.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn và định hướng giải pháp:

    • Làm rõ tác động trực tiếp của các nhân tố thời đại (kinh tế thị trường, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư) đến mô hình tư duy của người lãnh đạo tại Việt Nam.
    • Chỉ ra sự cần thiết phải gắn việc nâng cao tư duy chiến lược với công tác xây dựng Đảng, chỉnh đốn đội ngũ cán bộ, khắc phục sự suy thoái đạo đức, tệ quan liêu và tình trạng thụ động, trông chờ chỉ đạo từ cấp trên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Do hạn chế về dung lượng trích đoạn văn bản, các số liệu thực chứng cụ thể về việc đánh giá trình độ tư duy cán bộ qua phiếu điều tra xã hội học chưa được thể hiện đầy đủ trong phần văn bản này.
    • Nội dung phân tích chủ yếu tập trung vào bình diện lý luận nhận thức và phân tích bối cảnh vĩ mô; nguồn tài liệu tham khảo trong nước viết riêng về tư duy chiến lược dưới góc độ triết học còn khiêm tốn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục hoàn thiện bộ tiêu chí định lượng hóa năng lực tư duy chiến lược của cán bộ lãnh đạo theo từng cấp quản lý (cấp chiến lược Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã).
    • Nghiên cứu sâu hơn các mô hình và giáo trình đào tạo tư duy chiến lược trong hệ thống các trường chính trị và cơ sở đào tạo hành chính công tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Triết học, Xây dựng Đảng, Khoa học Lãnh đạo và Quản lý công: Có thể tham khảo cách thức tổng quan tài liệu, cấu trúc khung lý luận về nhận thức luận và phương pháp phân định các cấp độ tư duy.
  • Giảng viên các trường chính trị, học viện: Sử dụng làm tài liệu phục vụ giảng dạy các chuyên đề về phương pháp luận lãnh đạo, quản lý, đổi mới phong cách tư duy và lý luận nhận thức Mác - Lênin.
  • Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị: Tham khảo để tự rèn luyện, nâng cao năng lực phân tích bối cảnh, khắc phục lối tư duy kinh nghiệm chủ nghĩa, giáo điều và nâng cao khả năng hoạch định chính sách thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Câu hỏi thường gặp

1. Tư duy chiến lược khác với tư duy sách lược như thế nào theo quan điểm của tác giả?
Trả lời: Tư duy sách lược là tư duy về những quyết định, hành động cụ thể nhằm giải quyết các mục tiêu trước mắt, có tính linh hoạt, mềm dẻo, uyển chuyển tùy theo hoàn cảnh để thực hiện từng mắt khâu cụ thể. Trong khi đó, tư duy chiến lược là tư duy dài hạn, mang tính tổng thể, bao quát toàn cục nhằm định hướng con đường phát triển lâu dài.

2. Hai phẩm chất cơ bản của người cán bộ lãnh đạo được xác định trong luận án là gì?
Trả lời: Luận án xác định người lãnh đạo cần có hai phẩm chất cơ bản: 1) Khả năng lựa chọn và ra quyết định đúng đắn; 2) Khả năng tổ chức thực hiện thành công một cách tối ưu các quyết định đó.

3. Số liệu nào được trích dẫn để minh chứng cho thách thức của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với lao động Việt Nam?
Trả lời: Văn bản trích dẫn báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho biết hơn 2/3 trong số 9,2 triệu lao động ngành dệt may và da giày tại Đông Nam Á bị đe dọa do tự động hóa, trong đó tỷ lệ chịu ảnh hưởng của Việt Nam lên tới 86% (so với 88% của Campuchia và 64% của Indonesia).

4. Khái niệm lãnh đạo và quản lý được phân định như thế nào trong văn bản?
Trả lời: Căn cứ theo Từ điển tiếng Việt [79, tr. 540], lãnh đạo bao trùm lên quản lý. Lãnh đạo là việc vạch ra đường lối, phương hướng chung, chỉ đạo và kiểm tra thực hiện ở tầm vĩ mô; còn quản lý là sự triển khai cụ thể của lãnh đạo, thực thi các nhiệm vụ do cấp trên chỉ đạo.

5. Bốn quan điểm mà cán bộ lãnh đạo cần hội đủ khi thực hiện tư duy chiến lược theo học giả Vương Như Cần là gì?
Trả lời: Theo tác phẩm trích dẫn của tác giả Vương Như Cần [9], tư duy chiến lược của cán bộ lãnh đạo cần hội đủ bốn yếu tố: Triết học quan, Thời đại quan, Toàn cục quan và Thực tiễn quan.


Kết luận

Luận án "Nâng cao tư duy chiến lược cho cán bộ lãnh đạo Việt Nam" đã giải quyết một vấn đề lý luận và thực tiễn có ý nghĩa quan trọng trong công tác cán bộ hiện nay. Bằng việc vận dụng lý luận nhận thức Mác - Lênin và tổng quan sâu rộng các công trình trong và ngoài nước, công trình đã làm sáng tỏ bản chất của tư duy chiến lược, phân biệt rõ các cấp độ tư duy và khẳng định vai trò quyết định của tư duy chiến lược đối với hoạt động lãnh đạo. Công trình cung cấp cơ sở khoa học giúp các nhà lãnh đạo nâng tầm nhận thức, khắc phục các căn bệnh giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa để thích ứng hiệu quả với những biến động kinh tế - xã hội và tác động đa chiều của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.