Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam" do nghiên cứu sinh Trương Văn Dũng thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Tư pháp), dưới sự hướng dẫn khoa học của người hướng dẫn 1 là Hà Hùng Cường và người hướng dẫn 2 là Hoàng Ngọc Thiết, bảo vệ năm 2003 thuộc chuyên ngành Luật kinh tế, mã số 5.15. Toàn văn luận án gồm 172 trang, kết cấu thành 3 chương và 7 mục nội dung chính.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng kinh tế đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam trong giai đoạn 1991–2000 đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 18,4%/năm. Năm 2001, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 26,9 tỷ USD và năm 2002 đạt 35,8 tỷ USD (trong đó xuất khẩu đạt 16,53 tỷ USD, nhập khẩu đạt 19,3 tỷ USD). Nhằm thực hiện "Đề án Chiến lược phát triển xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ thời kỳ 2001-2010" và Chỉ thị số 22/2000/CT-TTg ngày 27/10/2000 của Thủ tướng Chính phủ, các cơ quan chức năng cần rà soát, hoàn thiện khung pháp lý hỗ trợ thương mại quốc tế. Bối cảnh Việt Nam đã gia nhập ASEAN, ký kết Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA) và chuẩn bị đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đặt ra yêu cầu cấp bách phải hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế.
Thực tiễn thương mại thời điểm đó cho thấy phần lớn doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam còn non trẻ, thiếu kinh nghiệm đàm phán và hiểu biết về pháp luật cũng như tập quán thương mại quốc tế, dẫn đến nguy cơ bị lấn lướt và gánh chịu rủi ro khi có vi phạm hợp đồng. Trong khi đó, Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 sau hơn 5 năm thi hành đã bộc lộ những điểm chồng chéo, bất cập và chưa tương thích đầy đủ với thông lệ quốc tế. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: tính đến năm 2003, chưa có một công trình chuyên khảo nào ở cấp độ luận án tiến sĩ nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo pháp luật Việt Nam trong sự đối chiếu với pháp luật quốc tế.
| Chỉ tiêu kinh tế - xuất nhập khẩu |
Giai đoạn 1991–2000 |
Năm 2001 |
Năm 2002 |
| Tốc độ tăng trưởng bình quân |
18,4%/năm |
- |
- |
| Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu |
- |
26,9 tỷ USD |
35,8 tỷ USD |
| Kim ngạch xuất khẩu |
- |
- |
16,53 tỷ USD |
| Kim ngạch nhập khẩu |
- |
- |
19,3 tỷ USD |
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ một cách có hệ thống chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (căn cứ quy trách nhiệm, hình thức trách nhiệm, căn cứ miễn trách nhiệm) và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Làm sáng tỏ khái niệm và các đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
- Phân tích và so sánh các căn cứ quy trách nhiệm, các chế độ trách nhiệm và các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế theo Luật Thương mại Việt Nam với Công ước Viên năm 1980 (CISG) và pháp luật một số nước.
- Rút ra những điểm còn bất cập, chưa hợp lý của Luật Thương mại Việt Nam về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
- Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, bao gồm: khái niệm trách nhiệm, hành vi vi phạm, các căn cứ quy trách nhiệm, các hình thức trách nhiệm, các trường hợp miễn trách nhiệm và thực tiễn vận dụng các hình thức trách nhiệm.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định của Luật Thương mại Việt Nam năm 1997, Bộ luật Dân sự năm 1995, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989, Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG 1980), Công ước La Hay năm 1964, có đối chiếu với luật thương mại của Pháp, Đức, Anh, Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (UCC), Luật Hợp đồng Trung Quốc và thực tiễn xét xử tranh chấp tại Tòa án cũng như Trọng tài thương mại đến năm 2003.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các công trình khoa học pháp lý tiêu biểu đã công bố tại Việt Nam liên quan đến chế định trách nhiệm hợp đồng:
- PGS.TS Hoàng Thế Liên với các bài viết: "Chế độ trách nhiệm tài sản đối với những vi phạm hợp đồng kinh tế" và "Đổi mới chế độ trách nhiệm vật chất đối với những vi phạm hợp đồng kinh tế" đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4 năm 1987.
- PGS.TS Trần Đình Hảo với công trình: "Về trách nhiệm vật chất do vi phạm hợp đồng kinh tế và xử lý hợp đồng vô hiệu" đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 3 năm 1990.
- Bộ Tư pháp với đề tài khoa học: "Đánh giá thực trạng, đề xuất các khuyến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật và thiết chế trong nước để đáp ứng yêu cầu của các thoả thuận ASEAN và WTO" thuộc khuôn khổ Dự án VIE/98/001 ("Tăng cường năng lực pháp luật tại Việt Nam - giai đoạn II") do PGS.TS Lê Hồng Hạnh làm chủ nhiệm đề tài.
- Các tài liệu giáo trình chuyên ngành như: Giáo trình Tư pháp quốc tế (Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001) và Giáo trình Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại (Trường Đại học Ngoại thương, 1997).
Tác giả phân tích rằng các công trình năm 1987 và 1990 của PGS.TS Hoàng Thế Liên và PGS.TS Trần Đình Hảo được xây dựng trong giai đoạn nền kinh tế chuyển đổi bước đầu, chịu ảnh hưởng của cơ chế kế hoạch hóa tập trung, đối tượng điều chỉnh là hợp đồng kinh tế giữa các chủ thể trong nước và chưa có sự hiện diện của Luật Thương mại năm 1997. Trong khi đó, đề tài của Dự án VIE/98/001 mang tính chất khảo cứu rộng về hệ thống thể chế phục vụ hội nhập kinh tế đa phương, không đi sâu vào chế định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Từ sự tổng thuật trên, luận án định vị là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dưới góc độ luật học so sánh giữa Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 với CISG 1980 và pháp luật các quốc gia có nền thương mại phát triển.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền và hoàn thiện pháp luật kinh tế làm cơ sở lý luận. Luận án kế thừa các quan điểm lý thuyết về trách nhiệm pháp lý trong khoa học luật học, tiếp cận quan niệm của nhà luật học N. Struchkov về bản chất của trách nhiệm (khía cạnh tâm lý học, đạo đức học và nghĩa vụ pháp lý chịu sự tác động bất lợi) và các quy định hiến định về trách nhiệm xã hội tích cực tại Hiến pháp năm 1992 (các Điều 8, 11, 12, 22, 97, 98, 100, 115, 116).
Phương pháp luận chỉ đạo công trình là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính cụ thể:
- Phương pháp lịch sử: xem xét sự phát triển của các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng thương mại quốc tế tại Việt Nam qua các thời kỳ (từ Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK năm 1991 đến Luật Thương mại năm 1997).
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch và quy nạp: mổ xẻ các cấu thành pháp lý của hành vi vi phạm, lỗi, thiệt hại, mối quan hệ nhân quả và các hình thức chế tài.
- Phương pháp so sánh pháp luật: đối chiếu các quy định của Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 với Công ước La Hay 1964, Công ước Viên 1980 (CISG), Bộ luật Dân sự Pháp, Luật Bán hàng Anh 1979, UCC Hoa Kỳ và Luật Hợp đồng Trung Quốc.
- Phương pháp hệ thống hóa: liên kết các văn bản pháp quy trong nước gồm Luật Thương mại 1997, Bộ luật Dân sự 1995, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989, Pháp lệnh Trọng tài thương mại và các Nghị định hướng dẫn thi hành.
Nguồn tư liệu của luận án gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Nghị định 57/1998/NĐ-CP, Nghị định 44/2001/NĐ-CP, Nghị định 55/2001/NĐ-CP, Quyết định 46/TTg năm 2001), các điều ước quốc tế đa phương và song phương, các ấn phẩm tập quán thương mại quốc tế của Phòng Thương mại Quốc tế (Incoterms 1936, 1953, 1967, 1976, 1980, 1990, 2000), cùng các bản án của Tòa án nhân dân tối cao và phán quyết trọng tài của Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Chương 1 tập trung giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và chế định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng:
Về khái niệm và tiêu chí xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế: Luận án phân tích sự khác biệt giữa các văn bản pháp lý quốc tế và trong nước. Điều 1 Công ước La Hay 1964 đưa ra ba tiêu chí (trụ sở thương mại ở các nước khác nhau; hàng hóa được vận chuyển qua biên giới; việc ký kết diễn ra ở các nước khác nhau). Trong khi đó, Điều 1 Công ước Viên 1980 (CISG) quy định duy nhất một tiêu chí cốt lõi: các bên có trụ sở thương mại đặt tại các quốc gia khác nhau, không phụ thuộc vào quốc tịch của các bên hay tính chất dân sự/thương mại của hợp đồng.
| Văn bản pháp lý |
Tiêu chí chủ yếu xác định tính chất quốc tế của hợp đồng |
| Công ước La Hay 1964 |
Trụ sở thương mại ở các nước khác nhau; hàng hóa chuyển từ nước người bán sang nước người mua; hoặc nơi giao kết hợp đồng ở các nước khác nhau. |
| Công ước Viên 1980 (CISG) |
Duy nhất tiêu chí trụ sở thương mại của các bên đặt tại các quốc gia khác nhau. |
| Quy chế 4794/TN-XNK (1991) |
Quốc tịch khác nhau; hàng hóa chuyển qua biên giới; đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên. |
| Điều 80 Luật Thương mại 1997 |
Tiêu chí quốc tịch: một bên là thương nhân Việt Nam, một bên là thương nhân nước ngoài. |
| Đề xuất của tác giả luận án |
Sự thỏa thuận giữa các bên có trụ sở thương mại đóng ở các nước khác nhau; bên bán giao hàng và chuyển quyền sở hữu, bên mua nhận hàng và thanh toán. |
Tác giả chỉ ra sự bất cập của Điều 80 Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 khi đồng nhất "hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài" với hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế dựa trên yếu tố quốc tịch. Phân tích thực tiễn cho thấy một thương nhân nước ngoài mở chi nhánh tại Việt Nam mua bán hàng hóa với doanh nghiệp Việt Nam trong nước thì chỉ là hợp đồng nội địa; ngược lại, hai thương nhân cùng mang một quốc tịch nhưng có trụ sở thương mại tại hai quốc gia khác nhau và thực hiện giao dịch chuyển hàng qua biên giới thì vẫn mang bản chất là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Về điều kiện hiệu lực của hợp đồng: Luận án phân tích 4 điều kiện:
- Chủ thể phải hợp pháp: Bên ký kết phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi (Điều 830, 832, 96, 20 Bộ luật Dân sự 1995; Điều 17 Luật Thương mại 1997; Nghị định 57/1998/NĐ-CP và Nghị định 44/2001/NĐ-CP). Người ký phải đúng thẩm quyền đại diện hoặc có ủy quyền hợp lệ. Tác giả dẫn chứng vụ tranh chấp giữa Công ty Thương mại Tây Ninh và đối tác Singapore mua bán 3.000 tấn sắn lát khô (giá 104 USD/MT, FOB Quy Nhơn): ngày 11/10/1996, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tuyên bố hợp đồng vô hiệu do Phó Giám đốc bên Việt Nam ký vượt quá phạm vi giấy ủy quyền số 12/UQ-HĐ (vốn chỉ ủy quyền ký hợp đồng ủy thác trong nước).
- Nội dung hợp đồng hợp pháp: Phải chứa đựng các điều khoản chủ yếu theo Điều 50 Luật Thương mại 1997 (tên hàng, số lượng, quy cách phẩm chất, giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm và thời gian giao nhận) và đối tượng hàng hóa không thuộc danh mục cấm theo Quyết định 46/TTg năm 2001.
- Hình thức hợp đồng hợp pháp: Khoản 4 Điều 81 Luật Thương mại 1997 bắt buộc lập thành văn bản (bao gồm điện tín, telex, fax, thư điện tử). Tác giả so sánh với Điều 11 CISG 1980 (cho phép mọi hình thức, kể cả nhân chứng) và điều khoản bảo lưu theo Điều 96 CISG 1980.
- Hợp đồng ký kết trên cơ sở tự nguyện: Nghiêm cấm mọi hành vi lừa dối, ép buộc, đe dọa làm sai lệch ý chí thực sự của các bên.
Về nguồn luật điều chỉnh: Bao gồm luật quốc gia (theo thỏa thuận chọn luật phù hợp Điều 4 Luật Thương mại 1997, điều ước quốc tế hoặc quy tắc xung đột do Tòa án/Trọng tài áp dụng như vụ tranh chấp hợp đồng số 04/PAN/NK99 và 05/PAN/NK99 giữa Sifrina Trading / Panwood Co và Công ty TNHH Tân Đại Gia tại Hội đồng Trọng tài VIAC ngày 27/02/2001 áp dụng luật Việt Nam); Điều ước quốc tế về thương mại; Tập quán thương mại quốc tế (Incoterms 2000, dẫn chứng vụ tranh chấp giữa Vegetexco Việt Nam và đối tác Đức về bảo quản hoa hồi trong container thông gió tại cảng Hamburg); Án lệ và hợp đồng mẫu.
Về bản chất trách nhiệm do vi phạm hợp đồng: Tác giả xác định 4 yếu tố cấu thành để quy trách nhiệm: (i) Có hành vi vi phạm hợp đồng; (ii) Có thiệt hại tài sản thực tế trực tiếp; (iii) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại; (iv) Có lỗi của bên vi phạm. Khác với CISG 1980 và luật các nước, Luật Thương mại Việt Nam 1997 quy định 4 hình thức trách nhiệm: Buộc thực hiện đúng hợp đồng, Phạt vi phạm, Bồi thường thiệt hại và Hủy hợp đồng. Tác giả đưa ra định nghĩa pháp lý: "Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là trách nhiệm tài sản, mang tính quốc tế, được thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định, nhằm phục hồi lại quyền lợi của bên bị vi phạm và mang lại hậu quả bất lợi cho bên bị vi phạm".
Chương 2: Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Chương 2 đi sâu phân tích cơ chế áp dụng từng hình thức trách nhiệm pháp lý và căn cứ miễn trách nhiệm trong tương quan so sánh:
Hành vi vi phạm và căn cứ quy trách nhiệm: Khảo sát các hành vi vi phạm phổ biến của người bán (không giao hàng, giao hàng chậm, giao hàng không đúng địa điểm, không phù hợp về phẩm chất, số lượng, bao bì, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ) và của người mua (không thanh toán, thanh toán chậm, không mở L/C đúng hạn, không tiếp nhận hàng hóa). Luận án phân tích mức độ vi phạm cơ bản (fundamental breach theo Điều 25 CISG) so với vi phạm thông thường.
Các hình thức trách nhiệm cụ thể:
- Buộc thực hiện đúng hợp đồng: Phân tích quyền yêu cầu sửa chữa, thay thế hàng hóa hoặc gia hạn thực hiện nghĩa vụ theo quy định của Luật Thương mại 1997 và Điều 46, 62 CISG 1980.
- Phạt vi phạm hợp đồng: Luận án phân tích bản chất của chế tài phạt vi phạm theo luật Việt Nam – vốn mang tính trừng phạt tài sản và răn đe có nguồn gốc từ Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989. Tác giả so sánh với nguyên tắc của hệ thống Common Law (Hoa Kỳ, Anh) vốn không công nhận điều khoản mang tính chất trừng phạt (penalty clause) mà chỉ chấp nhận bồi thường ước tính trước (liquidated damages).
- Bồi thường thiệt hại: Căn cứ phát sinh gồm thiệt hại thực tế, trực tiếp và khoản lợi nhuận đáng lẽ được hưởng (mất mát lợi nhuận). Luận án đối chiếu quy tắc dự liệu trước thiệt hại (foreseeability rule) tại Điều 74 CISG 1980 với các quy định bồi thường trong luật thực định Việt Nam.
- Đình chỉ, hủy bỏ hợp đồng: Điều kiện áp dụng hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ hợp đồng khi xảy ra vi phạm nghiêm trọng mục đích giao kết của các bên.
Các trường hợp miễn trách nhiệm: Luận án phân tích các trường hợp bất khả kháng (force majeure), lỗi hoàn toàn thuộc về bên bị vi phạm, sự kiện do người thứ ba hoặc do hành vi của cơ quan Nhà nước gây ra theo thỏa thuận hợp đồng và quy định pháp luật.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
Chương 3 đề xuất định hướng và các giải pháp lập pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp lý của Việt Nam:
Đánh giá thực trạng bất cập:
- Sự tồn tại song song, chồng chéo và mâu thuẫn giữa ba văn bản: Bộ luật Dân sự 1995, Luật Thương mại 1997 và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989, gây khó khăn cho Tòa án và Trọng tài khi xác định luật áp dụng.
- Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài tại Điều 80 Luật Thương mại 1997 quá hẹp và không phản ánh đúng bản chất giao dịch thương mại quốc tế hiện đại.
- Quy định về mức phạt vi phạm tối đa (khống chế tỷ lệ phần trăm) tạo ra sự xơ cứng, làm giảm quyền tự do thỏa thuận của các bên.
- Thiếu các quy định chi tiết về nghĩa vụ hạn chế tổn thất của bên bị vi phạm và phương pháp tính toán thiệt hại thực tế theo thông lệ quốc tế.
Kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
- Thống nhất khái niệm: Sửa đổi quy định tại Điều 80 Luật Thương mại 1997 theo hướng chuyển từ tiêu chí "quốc tịch thương nhân" sang tiêu chí "trụ sở thương mại đặt tại các quốc gia khác nhau", tương thích với Điều 1 CISG 1980.
- Thống nhất hệ thống pháp luật hợp đồng: Bãi bỏ Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 để xóa bỏ sự phân biệt phân tán giữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự/thương mại, xây dựng Bộ luật Dân sự giữ vai trò luật chung và Luật Thương mại giữ vai trò luật chuyên ngành.
- Hoàn thiện các chế tài vi phạm: Phân định rõ mối quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại; quy định rõ nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế trực tiếp và các khoản lợi nhuận bỏ lỡ; bổ sung nghĩa vụ giảm thiểu thiệt hại của bên bị vi phạm.
- Gia nhập điều ước quốc tế: Đề xuất Việt Nam khẩn trương nghiên cứu, hoàn tất các thủ tục phê chuẩn/gia nhập Công ước Viên năm 1980 (CISG) để tạo khung pháp lý đồng bộ và an toàn cho doanh nghiệp trong quá trình gia nhập WTO.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án ghi nhận các đóng góp khoa học mới về mặt lý luận và thực tiễn:
- Là công trình chuyên khảo đầu tiên trong khoa học pháp lý Việt Nam nghiên cứu toàn diện, có hệ thống chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế kể từ khi Luật Thương mại năm 1997 có hiệu lực.
- Làm sáng tỏ về mặt lý luận các khái niệm pháp lý cốt lõi: phân biệt bản chất giữa hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài; xác lập định nghĩa khoa học chuẩn xác về chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
- Phân tích so sánh có hệ thống giữa Luật Thương mại Việt Nam với CISG 1980, Công ước La Hay 1964, Bộ luật Thương mại Thống nhất Hoa Kỳ (UCC), Luật Hợp đồng Trung Quốc và pháp luật các nước Tây Âu, cung cấp cơ sở khoa học cho công tác lập pháp thương mại.
- Chỉ rõ các điểm bất cập, mâu thuẫn giữa Luật Thương mại 1997, Bộ luật Dân sự 1995 và Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989.
- Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể, bao gồm việc sửa đổi tiêu chí xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, điều chỉnh cơ chế áp dụng các chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, cũng như định hướng gia nhập Công ước Viên 1980.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án gắn liền với bối cảnh thời điểm nghiên cứu (năm 2003), khi Luật Thương mại năm 1997 đang có hiệu lực, Việt Nam chưa ban hành Luật Thương mại năm 2005, chưa gia nhập WTO (2007) và chưa phê chuẩn Công ước Viên năm 1980 (CISG - Việt Nam chính thức gia nhập năm 2015). Luận án giới hạn phạm vi trong các giao dịch mua bán hàng hóa hữu hình truyền thống, chưa mở rộng sang các loại hình dịch vụ thương mại quốc tế phức tạp và thương mại điện tử xuyên biên giới mới nảy sinh.
Hướng nghiên cứu tiếp nối từ công trình bao gồm: theo dõi việc chuyển hóa các chuẩn mực của CISG 1980 vào hệ thống pháp luật thương mại Việt Nam sau khi gia nhập; nghiên cứu chuyên sâu về các chế tài xử lý vi phạm trong hợp đồng mua bán hàng hóa qua môi trường thương mại điện tử quốc tế; và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại các trung tâm trọng tài quốc tế.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu học thuật hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật kinh tế, Tư pháp quốc tế, Luật thương mại quốc tế: cung cấp hệ thống lý luận nền tảng, kỹ năng so sánh pháp luật và nguồn án lệ tranh chấp thực tiễn.
- Đối với giảng viên: phục vụ công tác giảng dạy các học phần Luật Thương mại quốc tế, Hợp đồng thương mại quốc tế tại các cơ sở đào tạo luật học và khối kinh tế đối ngoại.
- Đối với cơ quan lập pháp và quản lý Nhà nước (Bộ Tư pháp, Bộ Thương mại, Tòa án nhân dân tối cao): cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc sửa đổi Luật Thương mại 1997 và đàm phán gia nhập các điều ước quốc tế.
- Đối với luật sư, trọng tài viên và doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu: hỗ trợ nhận diện rủi ro pháp lý về thẩm quyền ký kết, điều khoản luật áp dụng và phương thức vận dụng các biện pháp tự bảo vệ quyền lợi khi có vi phạm hợp đồng.
Câu hỏi thường gặp
1. Tiêu chí cốt lõi để xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo đề xuất của luận án là gì?
Luận án chỉ ra rằng tiêu chí cốt lõi và phù hợp nhất với thông lệ quốc tế (đặc biệt là Điều 1 CISG 1980) là các bên giao kết phải có trụ sở thương mại đặt tại các quốc gia khác nhau. Tiêu chí quốc tịch của thương nhân hay việc hàng hóa có chuyển dịch qua biên giới không mang tính quyết định tuyệt đối.
2. Tại sao tác giả cho rằng khái niệm tại Điều 80 Luật Thương mại 1997 chưa chuẩn xác?
Điều 80 Luật Thương mại 1997 xác định hợp đồng dựa vào tiêu chí một bên là thương nhân Việt Nam và một bên là thương nhân nước ngoài (tiêu chí quốc tịch). Tác giả chứng minh điều này dẫn đến sự bất hợp lý: một giao dịch giữa chi nhánh công ty nước ngoài tại Việt Nam với doanh nghiệp Việt Nam trên lãnh thổ Việt Nam bị coi là quốc tế (dù thực chất là nội địa), trong khi giao dịch giữa hai pháp nhân cùng quốc tịch nhưng có trụ sở ở hai nước khác nhau lại không được bao hàm đầy đủ.
3. Bốn yếu tố cấu thành để quy trách nhiệm do vi phạm hợp đồng gồm những gì?
Căn cứ lý luận của luận án xác định 4 yếu tố: (1) Có hành vi vi phạm hợp đồng; (2) Có thiệt hại tài sản thực tế của bên bị vi phạm; (3) Có mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy ra; (4) Có lỗi của bên vi phạm hợp đồng.
4. Khác biệt lớn nhất về các hình thức trách nhiệm giữa Luật Thương mại 1997 và CISG 1980 là gì?
Khác với CISG 1980 và pháp luật các nước phương Tây chỉ quy định buộc thực hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt hại và hủy bỏ hợp đồng, Luật Thương mại Việt Nam năm 1997 quy định thêm hình thức phạt vi phạm hợp đồng độc lập với bồi thường thiệt hại.
5. Vụ tranh chấp hợp đồng giữa Công ty Thương mại Tây Ninh và đối tác Singapore được Tòa án giải quyết theo hướng nào?
Ngày 11/10/1996, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tuyên bố hợp đồng mua bán 3.000 tấn sắn lát khô giữa hai bên vô hiệu và buộc Công ty Thương mại Tây Ninh trả lại tiền đặt cọc cho công ty Singapore, do người ký hợp đồng (Phó Giám đốc) không có giấy ủy quyền hợp lệ để ký kết trực tiếp với khách hàng nước ngoài mà chỉ được ủy quyền ký hợp đồng ủy thác nội địa.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Trương Văn Dũng là công trình khoa học chuyên khảo giải quyết toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Việt Nam đầu thập niên 2000. Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính và so sánh luật học sâu sắc với Công ước Viên 1980 cùng pháp luật nhiều quốc gia, tác giả đã chỉ rõ các khoảng trống, bất cập của Luật Thương mại 1997 và hệ thống văn bản pháp quy liên quan. Các luận điểm, phân tích và hệ thống kiến nghị lập pháp trong luận án mang giá trị khoa học vững chắc, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế pháp luật kinh tế và chuẩn bị điều kiện hội nhập quốc tế của Việt Nam.