Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HOÁ QUỐC TẾ VÀ TRÁCH NHIỆM DO VI PHAM HỢP ĐỒNG 1. HOP DONG MUA BAN HÀNG HÓA QUOC TE 1. Khai niém Để trao đổi, buôn bán, thực hiên hoạt động mua bán hàng hóa trong phạm vi quốc tế, thương nhân đóng trụ sở thương mại ở nước này ký kết hợp đồng mua hoặc bán hàng hoá với thương nhân đóng trụ sở thương mại ở nước khác. Chẳng hạn, một thương nhân Pháp đóng trụ sở thương mại tại Pháp, ký hợp đồng bán hàng cho một thương nhân Mỹ, hoặc một thương nhân Đức đóng trụ sở tại Đức ký hợp đồng mua hàng của một thương nhân Nhật đóng trụ sở thương mai tại Nhật.
Những hợp đồng này là hợp đồng mua bán hàng hoá trong phạm vi quốc tế và được gọi ngắn gọn lại là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Vậy hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là gì? Theo Điều 1 Công ước La Hay 1964 về mua bán quốc tế những động sản hữu hình, thì “hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là hợp đồng mua bán hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại đóng 6 các nước khác nhau và hàng hóa được chuyển từ nước người bán sang nước người mua, hoặc việc ký kết hợp đồng được diễn ra ở các nước khác nhau” [35, tr 100- 101]. Theo Công ước này chúng ta thấy có ba tiêu chí để phân biệt hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, đó là: thit nhất, tru sở thương mai của các bên đóng ở các nước khác nhau; fh hai, hang hoá được vận chuyển từ nước ngươì bán sang nước người mua; thit ba, hoặc việc ký kết hợp đồng được diễn ra ở các nước khác nhau. Thuật ngữ “hoặc” trong tiêu chí thứ ba được hiểu với nghĩa không bắt buộc, tức là việc ký kết hợp đồng có thể diễn ra ở mọi địa điểm: có thể là ở nước người bán, nước người mua hay ở một nước thứ ba do hai bên lựa chọn.
Như vậy, theo Công ước La Hay, tiêu chí quan trọng nhất để xác định hợp đồng mua bán quốc tế hàng hóa là tiêu chí trụ sở thương mại: các bên mua và bán phải có trụ sở thương mại đóng ở các nước khác nhau. Công ước La Hay không đề cập tới vấn đề quốc tịch của các bên mua và bán, không quy định là các bên (bên mua và bên bán) phải có quốc tịch khác nhau. Điều 1 Công ước Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (United Nations Convention on contracts for International Sales of Goods, Vienna 1980) đã đưc ra định nghĩa pháp ly của khái niệm hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là "hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mai dat tại các nước khác nhau” [30, tr 56-57]. Từ khái niệm này cho thấy, Công ước Viên 1980 chỉ đưa ra một tiêu chí để xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, đó là các bên mua và bán phải có trụ sở thương mại đóng ở các nước khác nhau.
Quốc tịch của các bên, tính chất dân sự hay thương mại của các bên hoặc của hợp đồng không phải là tiêu chí để xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Như vậy, cả Công ước La Hay 1964 và Công ước Viên năm 1980 đều lấy tiêu chí tru sở thương mại của các bên đương sự làm tiêu chí quan trong để xác định hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Nếu trụ sở của các bên mua và bán đóng ở các nước khác nhau, thì đó là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, còn nếu trụ sở của các bên mua và bán đóng trong một nước, thì đó không phải là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế. Yếu tố quốc tịch của các bên mua và bán không được hai Công ước này đề cập tới.
Trên thực tế, hầu hết các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được ký kết giữa các bên có trụ sở đóng ở các nước khác nhau, đồng thời có quốc tịch khác nhau, hàng hoá được chuyển từ nước người bán sang nước người mua hoặc sang nước thứ ba. Có một số lượng nhỏ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được ký kết giữa các bên có cùng quốc tịch, nhưng có trụ sở thương mại đóng ở các nước khác nhau và hàng hóa được chuyển qua khỏi 10 biên giới nước người bán. Ví dụ, hợp đồng mua bán hàng hóa giữa thương nhân người Anh đóng trụ sở tại Vương quốc Anh với một chi nhánh của thương nhân người Anh đóng trụ sở tại Hồng Kông, hàng hóa được chuyển từ Hồng Kông về Vương quốc Anh. Mặt khác, theo các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, thì người bán giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho người mua, còn người mua trả tiền hàng cho người bán.
Ở Việt Nam, trong hoạt động trao đổi, mua bán hàng hóa giữa Việt Nam với nước ngoài, nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa đã được ký kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam đóng trụ sở tại Việt Nam với các doanh nghiệp nước ngoài đóng trụ sở ở nước ngoài. Mặc dù, những hợp đồng này được gọi với nhiều tên khác nhau như: “hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hoá”; “hợp đồng mua bán ngoại thương”; “hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoai”., nhưng chúng có điểm chung đều thuộc loại hợp đồng mua bán hàng hóa trong phạm vi quốc tế. Trước hết, cần làm rõ nội ham của khái niệm “hop đồng xuất nhập khẩu hang hóa". Hiện nay, khái niệm "hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hóa" chưa được quy định chính thức trong các văn bản pháp luật, nhưng ở một mức độ nhất định, nó đã được các sách, báo, tạp chí pháp lý đề cập tới và trong hoạt động kinh doanh xuất nhập của các doanh nghiệp Việt Nam thì các thuật ngữ "hợp đồng xuất khẩu hàng hóa", "hợp đồng nhập khẩu hàng hóa” là thuật ngữ quen thuộc, là hình thức pháp lý của hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.
Theo cách hiểu thông thường, bản chất của hợp đồng xuất khẩu hàng hóa là bán hàng hoá ra nước ngoài. Ví dụ, một doanh nghiệp Việt Nam, đóng trụ sở tại Việt Nam ky hợp đồng bán hàng hóa cho một doanh nghiệp nước ngoài, đóng trụ sở tại nước ngoài; hàng hóa của hợp đồng này phải được làm thủ tục xuất khẩu qua lãnh thổ Việt Nam. Điều đó có nghĩa, đối với hợp đồng xuất khẩu hàng hóa, hàng hoá phải được chuyển qua biên giới Việt Nam để vào lãnh thổ của một nước khác (nước nhập khẩu 1] hoặc một nước thứ ba). Còn bản chất của hợp đồng nhập khẩu hàng hóa là mua hàng hóa từ nước ngoài về.
Ví dụ, một doanh nghiệp Việt Nam, đóng trụ sở ở Việt Nam, ký kết hợp đồng mua hàng hóa của một doanh nghiệp nước rigoài, đóng trụ sở ở nước ngoài; hàng hóa cua hợp đồng này phải được làm thủ tục xuất khẩu khỏi biên giới của nước người bán hoặc nước thứ ba và phải được làm thủ tục nhập khẩu vào lãnh thổ Việt Nam. Điều đó có nghĩa, đối với hợp đồng nhập khẩu hàng hóa, hàng hoá phải được chuyển qua biên giới nước ngoài, qua biên giéi Việt Nam để vào lãnh thổ Việt Nam. Từ sự phân tích ở trên, có thể đưa ra khái niệm hợp đồng xuất nhập khẩu hàng hoá: là hợp đồng mua bán hàng hoá giữa hai thương nhân đóng trụ sở thương mại ở hai nước khác nhau, theo đó hàng hoá được chuyển qua biên giới nước người xuất khẩu để chuyển vào lãnh thổ nước nhập khẩu hoặc một nước thứ ba. Đây chính là hợp đồng mua bán hàng hóa trong phạm vi quốc tế và được gọi là hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế.
Thứ hai, khái niệm "hợp đồng mua bán ngoại thương” đã được quy định chính thức trong Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK ngày 31/7/1991 của Bộ Thương nghiệp (nay là Bộ Thương mại) hướng dẫn việc ký kết hợp đồng mua bán ngoại thương. Theo Quy chế này, hợp đồng mua bán ngoại thương được hiểu là hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các bên có quốc tịch khác nhau, hàng hoá là đối tượng của hợp đồng được chuyển từ nước này sang nước khác và đồng tiền thanh toán là ngoại tệ đối với một hoặc cả hai bên. Từ khái niệm này cho thấy, một bên của hợp đồng mua bán ngoại thương là một doanh nghiệp Việt Nam, mang quốc tịch Việt Nam, đóng trụ sở thương mại tại Việt Nam, còn bên kia là một thương nhân nước ngoài, mang quốc tịch nước ngoài, đóng trụ sở thương mại ở nước ngoài. Hàng hoá là đối tượng của hợp đồng mua bán ngoại thương được chuyển từ nước người bán sang nước người mua.
Hay nói cách khác, hàng hóa của hợp đồng này được chuyển qua biên giới Việt Nam ra lãnh thổ nước ngoài hoặc được chuyển qua biên giới nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam. Trên thực tế đồng 12 tiền thanh toán trong hợp đồng mua bán ngoại thương ở Việt Nam thường là đồng dô la Mỹ, cho nên nó là ngoại tệ đối với bên các bên (bên mua và bên bán, trừ thương nhân Mỹ). Khái niệm "Hợp đồng mua bán ngoại thương” còn được đề cập tới trong nhiều sách, tạp chí, báo, giáo trình của một số trường đại học. Giáo trình "Tu pháp quốc tế” nim 2001 của Đại học quốc gia Hà Nội có nêu "HDMBNT (hay cong gọi là hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, hợp đồng xuất - nhập khẩu, hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài v.) là hợp đồng mua bán có yếu tố nước ngoài [14, tr 198- 199].Theo Giáo trình "Pháp luật trong hoạt động kinh tế đối ngoại" năm 1997 của Trường Dai học Ngoại thương, thi hợp đồng mua bán ngoại thương được hiểu là "Tất cả các hợp đồng mua bán được ký kết giữa các chủ thể của Việt Nam với các thể nhân (tự nhiên nhân) và pháp nhân nước ngoài, hay nói cách khác là tất cả các hợp đồng mua bán có tính chất quốc tế (yếu tố nước ngoài), [35, tr 100].
Như vậy, từ khái niệm hợp đồng mua bán ngoại thương đã được trình bày ở trên có thể rút ra: đây là hợp đồng mua bán hàng hoá có yếu tố nước ngoài. Yếu tố nước ngoài được thể hiện là một bên (chủ thể của hợp đồng) có trụ sở đóng ở nước ngoài, hàng hoá được chuyển từ trong nước ra nước ngoài hoặc chuyển từ nước ngoài vào. Địa điểm ký kết hợp đồng là ở nước ngoài đối với một trong hai bên hoặc có thể là ở nước ngoài đối với cả hai bên, nếu hợp đồng được ký kết ở một nước thứ ba.