CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU 1. Tong quan nghiên cứu nước ngoài Yang Xinting, Li Ming và cộng sự (2009), “Hệ thống thông tin quản lý và truy xuất nguồn gốc về an toàn chất lượng nông sản ở Trung Quốc” (Traceability and management information system of agricultural product quality safety in China), bài viết đã nghiên cứu các công nghệ thông tin để cải thiện mức độ quản lý và truy xuất nguồn gốc chất lượng sản phẩm, chăng hạn như mã vạch, REID, GIS, GPS,. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng đã phát trién hệ thống quản lý và truy xuất nguồn gốc cho các sản phẩm thủy sản, rau, trái cây, gia súc và áp dụng chúng ở Bắc Kinh, Thiên Tân và Quảng Đông, Trung Quốc. Ứng dụng nay đã thu được những lợi ích đáng ké về kinh tế, xã hội và sinh thái.
Techane Bosona và Girma Gebresenbet (2013), “Truy xuất nguồn gốc thực phẩm như một phan không thể thiếu của quản lý hậu cần trong chuối cung ứng nông sản và thực phẩm” (Food traceability as an integral part of logistics management in food and agricultural supply chain), mục tiêu của nghiên cứu này là thực hiện một đánh giá toàn diện về các van đề truy xuất nguồn gốc thực phâm. Dựa trên kết quả xem xét các tài liệu về truy xuất nguồn sốc thực phẩm, định nghĩa, động lực, rào cản trong việc phát triển và thực hiện hệ thống truy xuất nguồn sốc, lợi ích, công nghệ xác định nguồn sốc, cải tiến và hiệu suất của hệ thong đã được xác định va thảo luận. Đánh giá này cũng đã chỉ ra rằng vấn đề phát triển hệ thống truy xuất nguồn gốc chuỗi đầy đủ và hiệu quả là khá phức tạp. Về ban chất nó đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về các quy trình thực tế và từ các khía cạnh khác nhau như các vẫn đề kinh tế, luật pháp, công nghệ và xã hội.
Trong báo cáo của ITC (2015), “Truy xuất nguồn gốc thực phẩm và nông san” (Traceability in food and agricultural products) đã cung cap một cái nhìn tổng quan về ý nghĩa của việc truy xuất nguồn gốc đối với thực phẩm và nông sản, với các luật liên quan được áp dụng ở một số thị trường chính liên quan đến các yêu cau truy xuất nguồn gốc. Truy xuất nguồn gốc là một công cụ quan lý cần thiết cho các nhà kinh doanh thực phẩm hoặc cơ quan chức năng đáp ứng nhu cầu về chất lượng sản phẩm. Đây là nền tảng của chính sách an toàn thực phẩm của bat kỳ quốc gia nào. Keshav Prakash Dandage (2018), “Phat trién hé thong xac dinh nguon sốc cho các sản phẩm nông nghiệp ở An D6”(Development Traceability Systems for Agricultural products in India), bài báo cáo phan tích một hệ thống truy xuất nguồn gốc GS1 cho các sản phẩm nông nghiệp của An Độ, dựa trên công nghệ tiên tiến RFID và mã code.
Hệ thống này được Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ quản lý, sử dụng hệ thống tiêu chuẩn của GS1 và áp dụng các quy định, luật dé hỗ trợ người nông dân về quy trình lựa chọn nhà cung cấp đầu vào trong chuỗi cung ứng. Trong quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyên cũng được Chính phủ kiểm soát giúp việc truy xuất nguôn gôc có thê đáp ứng các yêu câu xuât khâu quôc tê. Khaled Salah, Nishara Nizamuddin va cộng sự (2019), “Truy xuất nguồn gốc đậu nành dựa trên chuối khói trong chuỗi cung ứng nông sản” (Blockchain-Based Soybean Traceability in Agricultural Supply Chain), trong bài viết này, các tác giả đã dé xuất một giải pháp và khuôn khổ chung tận dụng chuỗi khối Ethereum và các hợp đồng thông minh để theo dõi, thực hiện các giao dịch kinh doanh loại bỏ trung gian truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng nông sản, cụ thê là mặt hàng đậu tương. 10 Justin Sunny, Naveen Undralla và V.
Madhusudanan Pillai (2020), “Tinh minh bạch của chuỗi cung ứng thông qua truy xuất nguồn gốc dựa trên chuối khối: Tổng quan với minh chứng” (Supply Chain Transparency through Blockchain - Based Traceability: An Overview with Demonstration), bai báo cáo cho thấy việc áp dụng truy xuất nguồn gốc có thé tao ra su minh bạch trong chuỗi cung ứng. Các giải pháp truy xuất nguồn gốc tập trung thông thường không thích hợp cho chuỗi cung ứng vì chúng có nhiều van dé về thao tác dữ liệu. Blockchain, công nghệ số cái phân tán mới nỗi gan đây dang trở nên phô biến với các ứng dụng to lớn của nó trong các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong quản lý chuỗi cung ứng. Các giải pháp truy xuất nguồn gốc dựa trên chuỗi khối có thê giải quyết những thiếu sót của các giải pháp truy xuất nguôn gốc tập trung.
Deepak Prashar, Nishant Jha và cộng sự (2020), “Khả năng truy xuất nguồn gốc và khả năng hiển thị dựa trên Blockchain đối với các sản phẩm nông nghiệp: Một cách phi tập trung dé đảm bảo an toàn thực phẩm ở An Độ” (Blockcham - Based Traceability and Visibility for Agricultural Products: A Decentralized Way of Ensuring Food Safety in India), bai bao dé xuất một giải pháp dựa trên Blockchain nhằm tối ưu hóa hiệu suất và tuân thủ an toàn vệ sinh thực phẩm. Mô hình đề xuất dựa vào việc sử dụng các hợp đồng thông minh trong Blockchain để giám sát, quản lý tất cả các thông tin liên lạc và giao dịch trong mạng lưới chuỗi cung ứng giữa tất cả các bên liên quan. Tất cả các giao dịch, được ghi lại và lưu trữ trong cơ sở dữ liệu hệ thống tập trung. Nó cho phép các bên có liên quan trong chuỗi cung ứng cung cấp thông tin an toàn, tiết kiệm chi phí va bảo mật.
Tổng quan nghiên cứu trong nước Phạm Thị Minh Nguyệt (2013), “Xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam sang thị trường Đức”, bài luận văn chỉ ra Đức là thị trường day tiềm năng của Việt Nam trong việc xuất khẩu nông sản. Nhìn chung, hàng nông sản Việt Nam đang ngày một cố gắng thay đổi để đáp ứng thị trường này từ chất lượng đến giá cả dé cạnh tranh với các nước khác. Tuy nhiên, cần phát trién những ưu thế về điều kiện tự nhiên cũng như thay đổi những công nghệ trong sản xuât đê nâng cao thương hiệu nông sản Việt. Warner Uiterwijk, Ha Lan và cộng sự (2016), “Báo cáo thị trường rau quả EU”, bài báo cáo đã chỉ ra tình hình sản xuất và xuất khẩu rau củ của Việt Nam.
Đồng thời đã tìm hiểu đặc điểm thị trường và các quy định nhập khẩu rau quả của thị trường EU, từ đó đánh giá cơ hội của Việt Nam đối với thị trường này. Dinh Văn Sơn (2019), sách chuyên khảo “Nghiên cứu chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu của các tỉnh khu vực Tây Bắc”, được biên soạn dựa trên kết quả nghiên cứu đề tài "Nghiên cứu chuỗi cung ứng sản phẩm nông lâm đặc sản xuất khâu của các tỉnh khu vực Tây Bắc". Sách đã tìm hiểu về một số mặt hàng nông sản tiềm năng của khu vực Tây Bắc như chè, gạo, rau củ,.phân tích chuỗi cung ứng xuất khẩu của các mặt hàng này, từ đó đề xuất mô hình và giải pháp giúp phát triển chuỗi cung ứng hiệu quả hơn. Nguyễn Thị Việt Hà (2020), “Xuất khẩu nông sản sang thị trường EU: Bối cảnh hiệp định EVFTA đã được ký kết”, đề tài đã làm rõ thực trạng tình hình xuất khâu nông sản của Việt Nam sang EU, nghiên cứu các vấn đề liên quan đến xuất khâu nông sản qua hiệp định EVFTA.
Bên cạnh đó, bài luận đưa ra những cơ hội mà doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam có thể tận dụng được, đồng thời phân tích những thách thức mà Việt Nam cần phải 12 đối mặt và cải thiện dé có thé khai thác được cơ hội phát triển hoạt động xuất khâu nông san của Việt Nam sang thị trường EU. — Khoảng trống nghiên cứu Bên cạnh những thành tựu, kết quả đã đạt được thì các bài nghiên cứu còn tôn tại những hạn chế, khoảng trống nhất định như: Các bài nghiên cứu, báo cáo nước ngoài đã có cái nhìn tổng quan về hoạt động truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng nói chung và truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng nông sản nói riêng nhưng phạm vi nghiên cứu còn rộng và bao quát, chưa phân tích cụ thé ở từng quốc gia bởi mỗi quốc gia có điều kiện tự nhiên và điều kiện phát triển kinh tế khác nhau. Ngoài ra, các bài nghiên cứu về mô hình truy xuất nguồn trong chuỗi cung ứng nông sản chỉ dừng lại ở việc đề xuất, chưa được ứng dụng thực tế cũng như chưa phân tích được sự phù hợp của mô hình với điều kiện kinh tế. Các bài nghiên cứu trong nước đã phân tích rõ ràng hoạt động xuất khâu nhóm hàng nông sản của Việt Nam sang EU.
Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở nghiên cứu thực trạng xuất khâu nông sản của Việt Nam và tìm hiểu tổng quan, đặc điểm của thị trường EU. Bên cạnh đó, các bai nghiên cứu chưa đánh giá được thực trạng hoạt động truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng nông sản xuất khâu của Việt Nam. Quy định của EU về việc truy xuất nguồn gốc đối với hàng nông sản nhập khẩu cũng chưa được nhắc đến vì vậy chưa đưa ra được giải pháp giúp nâng cao tính minh bạch về hoạt động truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang EU phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Bài nghiên cứu này sẽ tiếp tục kế thừa các bài nghiên cứu trước đây, vận dụng hệ thống các cơ sở lý luận về chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc, hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam sang EU trong những năm qua.
13 Trên cơ sở đó, bài viết sẽ phân tích các quy định về truy xuất nguồn gốc của EU đối với hàng nông sản nhập khẩu, đánh giá thực trạng hoạt động truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu của Việt Nam từ đó dé xuất các giải pháp phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. 14 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THUC TIEN VE HOẠT ĐỘNG TRUY XUẤT NGUON GÓC TRONG CHUOI CUNG UNG 2. Chuỗi cung ứng Qua nghiên cứu các tài liệu tham khảo, có rất nhiều định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu về chuỗi cung ứng. Có thể đưa ra một số khái niệm điên hình sau: “Chuỗi cung ứng là mang lưới của những tô chức liên quan đến những mối liên kết các dòng chảy ngược và xuôi theo những tiễn trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm cho khách hàng” (Martin, 1992).