Chương 1: Tổng quan về tiêu chuẩn về lao động được quy định trong Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương. Chương 2: Khung pháp lý của Việt Nam thực trạng và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn về lao động của các doanh nghiệp may mặc thuộc Tập đoàn dệt may Việt Nam khi thực hiện Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương. Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao khả năng đáp ứng tiêu chuẩn về lao động đối với các doanh nghiệp may mặc thuộc Tập đoàn dệt may Việt Nam khi thực hiện Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương. 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TIÊU CHUẨN VỀ LAO ĐỘNG ĐƢỢC QUY ĐỊNH TRONG HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC XUYÊN THÁI BÌNH DƢƠNG 1.
Tổng quan về Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dƣơng 1. Lịch sử hình thành Khởi đầu, Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình dương (TPP) có 4 nước tham gia là Bru-nây, Chi-lê, Niu Di-lân, Xinh-ga-po và do đó hiệp định được gọi là P4. Ngày 22 tháng 9 năm 2008, Hoa Kỳ tuyên bố tham gia vào P4 nhưng không phải Hiệp định P4 cũ mà các nước sẽ đàm phán một hiệp định mới, được gọi là Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Việt nam tham gia TPP vào cuối năm 2010, dù đã tiến hành đàm phán với tư cách thành viên liên kết 3 phiên với các nước thành viên TPP.
Cùng quá trình đàm phán, các nước Ma-lai-xia, Mê-xi-cô, Ca-na-đa và Nhật Bản đã tham gia vào Hiệp định, do đó tổng số nước thành viên lên 12 vào năm 2013. Sau đó cũng có một số nước muốn tham gia nhưng các nước thành viên thống nhất kết thúc đàm phán trước khi kết nạp thêm thành viên. Mục tiêu Tạo ra một mô hình mới về hội nhập và hợp tác kinh tế khu vực, tạo điều kiện thuận lợi hơn hoạt động thương mại và đầu tưvà mong muốn biến TPP thành trumg tâm, từ đó tạo nên một khu vực thương mại tự do cho khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Tạo ra giá trị cao nhất trong thời gian ngắn nhất có thể.
Theo thống kế của trung tâm WTO “Khu vực thương mại tự do mà TPP tạo ra rất lớn (có tổng GDP hơn 28.000 tỷ USD, chiếm 40% tổng GDP và hơn 30% tổng thương mại toàn 6 cầu). TPP có thể giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 23,5 tỷ USD vào năm 2020 và 33,5 tỷ USD vào 2025. Xuất khẩu tăng thêm được 68 tỷ USD vào năm 2025 và Việt Nam có thể là nước được hưởng lợi nhiều nhất trong số 12 nước tham gia TPP”. Nhưng để hưởng những lợi thế khi tham gia TPP, Việt Nam cũng phải cam kết thực hiện các tiêu chuẩn quốc tế được quy định trong TPP.
Trong đó có tiêu chuẩn về Lao động. Các nội dung chính Hiệp định TPP gồm có 30 chương điều chỉnh thương mại và các vấn đề liên quan đến thương mại. Hiệp định TPP điều chỉnh từ thương mại hàng hóa và tiếp tục với hải quan và thuận lợi hóa thương mại; vệ sinh kiểm dịch động thực vật; hàng rào kỹ thuật đối với thương mại; đầu tư; dịch vụ; thương mại điện tử; sở hữu trí tuệ; lao động và môi trường…Trong Hiệp định TPP, có riêng một chương về Dệt may và một chương riêng về Lao động. Đối với ngành dệt may, TPP cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay lập tức.
Trong chương dệt may, hiệp định đưa ra những quy tắc xuất xứ, quy định các nguyên liệu phải được xuất phát từ các nước nội khối TPP thì mới được hưởng ưu đãi về thuế. Bên cạnh đó, Chương này cũng đưa ra các cam kết về hoạt động hải quan, nhằm ngăn chặn các trường hợp trốn thuế và buôn lậu. Đồng thời cũng đưa cơ chế tự vệ của ngành dệt may nhằm đối phó với những nguy cơ tổn hại nghiêm trọng đối với ngành sản xuất của quốc gia khi nhập khẩu tăng đột biến. Điều khác của TPP so với các hiệp định thương mại tự do khác nằm ở việc đưa ra sự bảo vệ rất mạnh mẽ cho NLĐ, sự bảo vệ này đảm bảo các 4 quyền cơ bản của NLĐ và đảm bảo về điều kiện làm việc chấp nhận được của NLĐ (theo ILO).
Đặc biệt đối với các ngành thâm dụng lao động như dệt may, da giày. Vị trí của Việt Nam Các nước đánh giá cao việc Việt Nam tham gia đàm phán TPP vì các lý do sau đây: Quy mô dân số của Việt Nam tương đối lớn, nền kinh tế đang phát triển khá năng động, thị trường của Việt Nam được các doanh nghiệp quốc tế đánh giá là thị trường rất tiềm năng. Ngoài ra, Việt Nam là nước đang phát triển, việc TPP chào đón Việt nam là một minh chứng về việc TPP rất quan tâm đến những quốc gia như Việt Nam, cụ thể bằng các biện pháp hỗ trợ những nước này có thể đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Từ đó đặt tiền đề cho việc thu hút những nước đang phát triển tham gia TPP.
Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương trong mối quan hệ với các FTA khác của Việt Nam Trước năm 2010, phần lớn các hiệp định FTA mà Việt Nam tham gia đều trong khuôn khổ ASEAN với các nước đối tác và chủ yếu tập trung ở khu vực Đông Á. Sự gần gũi về vị trí địa lý kết hợp với quan hệ thương mại tự do đã khiến trên 60% kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam gắn với khu vực Đông Á. Với các nước có trình độ phát triển cao và cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu có tính bổ sung cho cơ cấu hàng hóa của Việt Nam (như Nhật Bản, Hàn Quốc, Ô-xtrây-lia, Niu Di-lân), các FTA về cơ bản đem lại hiệu ứng tăng trưởng xuất khẩu như mong đợi. Với những nước có cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu cạnh tranh với Việt Nam (như Trung Quốc, các nước ASEAN, Ấn Độ), hiệu ứng tăng trưởng xuất khẩu và giảm nhập siêu chưa được như mong muốn.
8 Xuất phát từ đây, việc thúc đẩy đàm phán, ký kết FTA với một số nước ở các khu vực khác có thị trường tiêu thụ lớn và cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu mang tính bổ sung cho cơ cấu hàng hóa của Việt Nam là một trong những giải pháp quan trọng giúp Việt Nam tạo dựng được cơ cấu thị trường cân đối, ổn định lâu dài, phục vụ cho công cuộc chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Với tầm nhìn đó, từ năm 2010, Việt Nam đã đồng thời khởi động đàm phán TPP và đàm phán FTA với Liên minh Châu Âu, Liên minh kinh tế Á - Âu (gồm Nga, Bê-la-rus, Ka-zac-xtan, Ác-mê-nia và Ki-rơ-gi-xtan), Hàn Quốc và Khối các nước EFTA (Nauy, Thụy Sỹ, Ai-xơ-len, Lich-ten-xtai).Mục đích đƣa tiêu chuẩn về lao động vào Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dƣơng Trong bối cảnh toàn cầu hóa, vấn đề bảo đảm quyền lợi của người lao động ngày càng được coi trọng trên cơ sở NLĐ là người trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm, nên họ phải được tham gia vào quá trình phân chia thành quả. Như việc phải có một cơ chế nhằm đẳm bảo các quyền lợi và điều kiện làm viêc cơ bản cho NLĐ trong quá trình lao động tạo ra sản phẩm. Đây là cách tiếp cận của các hiệp định thương mại thế hệ mới và đang trở thành một xu thế trongthời gian gần đây trên thế giới.
Cụ thể vào năm 1995, cùng với thời điểm ra đời Tổ chức Thương mại Thế giới mới chỉ có bốn FTA có cam kết về lao động thì đến đầu năm 2015, đã có bảy mươi hai FTA có cam kết về lao động. Việc đưa các cam kết về lao động vào trong các FTA ngoài việc thực hiện đảm bảo quyền lợi NLĐ theo ILO, còn là một bước nhằm thực hiện công bằng thương mại trong cạnh tranh giũa các nước tham gia. Một nước duy trì các điều kiện sản xuất thấp và không được xác lập trên cơ sở thương lượng với NLĐ thì sẽ có chi phí sản xuất cạnh tranh hơn so với 9 những nước duy trì điều kiện lao động cao hơn. Do đó để tránh tình trạng các nước hi sinh quyền lợi chính đáng NLĐ để hướng tới khả năng cạnh tranh, dẫn tới sự cạnh tranh không bình đẳng.
Do đó, để tránh sự vi phạm vào quyền lợi chính đáng này của NLĐ, TPP đã đưa ra một chương riêng gồm những cam kết về lao động đối với các nước tham gia. Các tiêu chuẩn về lao động đƣợc quy định trong Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dƣơng Các TCLĐ trong TPP không phải tiêu chuẩn mới hay tiêu chuẩn do các nước thành viên đưa ra, mà là những tiêu chuẩn được thừa nhận trong tuyên bố của ILO, các nước tham gia TPP vốn đều là thành viên của ILO, từ đó các nước thành viên thông qua và đồng ý cụ thể hóa vào trong luật pháp của mình. Tuyên bố năm 1988 của ILO khẳng định 4 nhóm quyền và nguyên tắc cở bản tại nơi làm việc gồm: “Tự do hiệp hội và quyền thương lượng tập thể; Xóa bỏ mọi hình thức lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc; Xóa bỏ có hiệu quả lao động trẻ em; Xóa bỏ phân biệt đối xử trong công việc”. Và được cụ thể hóa trong các Công ước: - “Công ước số 87 về tự do hiệp hội và bảo vệ quyền tổ chức” năm 1948; - “Công ước số 98 về quyền tổ chức và thương lượng tập thể năm” 1949; - “Công ước số 29 về xóa bỏ lao động cưỡng bức” năm 1930; - “Công ước số 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức” năm 1957; - “Công ước số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ” năm 1951; - “Công ước số 111 về chống phân biệt đối xử trong công việc” năm 1958; - “Công ước số 138 về độ tuổi tối thiểu” năm 1973; - “Công ước số 182 về xóa bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất” năm 1999.
10 ILO nhấn mạnh “Các quốc gia thành viên dù phê chuẩn hay chưa phê chuẩn các Công ước trên, thì vẫn phải có trách nhiệm tôn trọng và đảm bảo các quyền và nguyên tắc này”. Và TPP cũng không yêu cầu các nước tham gia phải phê chuẩn các công ước trên mà vẫn phải tuân thủ các nguyên tắc đó. Bên cạnh đó, Chương 19 của TPP cũng quy định các nước thành viên phải đảm bảo những điều kiện làm việc có thể chấp nhận được của NLĐ. Các quyền của người lao động được nêu trong Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương 1.