đặt vấn đề, nhu cầu tìm hiểu, khai thác thông tin của con ngƣời tăng nhanh trong bối cảnh sự phát triển mạnh mẽ của mọi mặt trong đời sống xã hội. Nye Jr (2008), trong công trình Public Diplomacy and Soft Power (Ngoại giao công chúng và sức mạnh mềm) [106, tr.94-99], đề cập đến các vấn đề cơ bản của ngoại giao công chúng, quyền lực mềm và các mối quan hệ đó trong quan hệ quốc tế hiện đại. Ngày nay, trong bối cảnh công nghệ phát triển, góp phần làm giảm chi phí sản xuất và lƣu hành thông tin, loài ngƣời ngày càng có nhiều cơ hội tiếp cận các nguồn thông tin. Vì vậy, nếu thông tin đƣợc coi là sức mạnh thì loài ngƣời đang có những cơ hội lớn trong việc tiếp cận sức mạnh thông tin.
Trong bối cảnh, các quốc gia, các chính quyền và các tổ chức luôn cạnh tranh để tăng cƣờng uy tín thì việc thúc đẩy giới thiệu hình ảnh tích cực của quốc gia là việc không mới. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, các điều kiện triển khai sức mạnh mềm đã thay đổi rất nhanh chóng vì vậy tuyên truyền đơn thuần sẽ không thuyết phục đƣợc đối tƣợng. Vì vậy, tác giả nhấn mạnh vai trò của ngoại giao công chúng đối với sức mạnh mềm của mỗi quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả của thông tin và tuyên truyền toàn cầu. Tuy nhiên, các hoạt động ngoại giao công chúng cần hết sức phù hợp, khôn khéo để có thể gia tăng quyền lực mềm và quyền lực thông minh.
Tác giả Junhao Hong (2011), đã có nghiên cứu nhan đề From the World Largest Propaganda Machine to a Multipurposed Global News Agency: Factors in and Implications of Xinhua’s Transformation since 1978, Từ cỗ máy tuyên truyền lớn nhất thế giới đến hãng thông tấn toàn cầu đa mục tiêu: Các yếu tố và ý nghĩa của sự chuyển đổi của Tân Hoa xã kể từ năm 1978 [136]. Nghiên cứu này đánh giá những thay đổi của Tân Hoa Xã trong ba thập niên vừa qua theo hƣớng lớn mạnh và vƣơn ra thế giới. Trong bối cảnh, chiến tranh lạnh kết thúc, các hãng thông tấn, các tập đoàn truyền thông lớn trên thế giới đang không ngừng thay đổi, Trung Quốc đang tham vọng trở thành một cƣờng quốc. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng ở Trung Quốc, mô hình truyền thông “hỗn hợp” đƣợc sử dụng một cách lặng lẽ nhƣng mạnh mẽ thay cho mô hình báo chí thuần túy xã hội chủ nghĩa trƣớc đây.
Tân Hoa Xã 13 - với mô hình và phƣơng thức hoạt động cũng nhƣ sự thay đổi lớn về tƣ duy truyền thông đã đòi hỏi cho các cơ quan báo chí truyền thông cần tích cực đổi mới, không chỉ giữ vai trò là cơ quan ngôn luận của chính quyền, mà cần hƣớng đến cung cấp thông tin cho công chúng trong nƣớc và trên thế giới, đồng thời phải có lợi nhuận nhƣ một tập đoàn thƣơng mại. Hai tác giả William Hachten và James F.Scotton (2011), trong công trình The World News Prism - Challenges of Digital Communication (Lăng kính tin tức thế giới - Những thách thức của truyền thông kỹ thuật số) [125], nêu vấn đề, trong thời đại Internet và số hóa, tất cả các quốc gia, bất kể khoảng cách hay sự khác biệt về địa lý, đều có thể tham gia vào thế giới thông tin hiện đại. Trong bối cảnh đó, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia đang gia tăng nhanh chóng. Internet và tiếng Anh trở thành phƣơng tiện truyền thông quan trọng trên toàn cầu.
Các tác giả cho rằng, hệ thống phân phối thông tin của thế giới giống nhƣ một lăng kính thủy tinh bắt đầu giống nhƣ ánh sáng trắng ban đầu, nhƣng có thể chuyển đổi sang các màu khác nhau qua lăng kính. Đây là bản chất của tin tức báo chí trên thế giới. Các quốc gia cần tận dụng sức mạnh của mạng internet, thúc đẩy sự phát triển của hệ thống cung cấp thông tin quốc gia để cung cấp tin tức cho thế giới. Tác giả Arnaud Mercier (2020) trong cuốn sách Truyền thông chính trị [1] luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn về truyền thông chính trị qua khảo cứu thực tiễn ở một số quốc gia, một số nhà chính trị trên thế giới.
Cuốn sách đề cập đến khái niệm, bản chất, đặc trƣng, vai trò của truyền thông chính trị, mối tƣơng tác của truyền thông chính trị với quá trình chính trị nói chung và việc thực thi chính sách nói riêng, những thành tựu khủng hoảng của truyền thông chính trị trong bối cảnh kỷ nguyên kỹ thuật số hiện nay, tác động tích cực và tiêu cực của truyền thông đối với đời sống chính trị… Đáng chú ý là cuốn sách đề cập đến những trƣờng hợp cụ thể trong truyền thông chính trị ở một số quốc gia thông qua: “Donald Trump hay truyền thông thần chú” “Blog, mạng xã hội và cuộc cách mạng mùa xuân Ả Rập: Từ thế giới ảo tới thực tại, “Chiến tranh thông tin ở Nga: Một cuộc chiến đa diện”. Ở Việt Nam Tác giả Hồng Vinh (2006), trong bài viết Thông tin đối ngoại góp sức tích cực thúc đẩy hội nhập quốc tế đăng trên Tạp chí Thông tin đối ngoại [81, tr.8-12], 14 đã nêu bật vai trò của thông tin đối ngoại trong tiến trình gia nhập các tổ chức quốc tế cũng nhƣ quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Tác giả Đào Việt Trung (2008), có bài viết Tiếp tục đổi mới công tác thông tin đối ngoại đăng trên Tạp chí Thông tin đối ngoại [63, tr. Bài viết tổng kết 15 năm thực hiện Chi thị số 11-CT/TW ngày 13 tháng 6 năm 1992 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng (khóa VII) về thông tin đối ngoại của Bộ Ngoại giao.
Trên cơ sở nhận định các hạn chế, tác giả đề xuất một số phƣơng hƣớng đố thúc đẩy hoạt động thông tin đối ngoại. Trong đó, cần tăng cƣờng cơ chế phối hợp trong Ban Chỉ đạo công tác thông tin đối ngoại, giữa các cơ quan, địa phƣơng và xây dựng chiến lƣợc quốc gia về thông tin đối ngoại, nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. Tác giả Phạm Gia Khiêm (2010), trong bài viết Công tác thông tin đối ngoại góp phần quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng X đăng trên Tạp chí Thông tin đối ngoại [34, tr.7-14], đã đánh giá những thành công, tồn tại và đúc kết những bài học kinh nghiệm của công tác thông tin đối ngoại sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng. Tác giả nêu những nhân tố then chốt quyết định thành công của công tác thông tin đối ngoại thời gian qua, đó là sự lãnh đạo, chỉ đạo, quan tâm của Bộ Chính trị, Ban Bí thƣ, sâu sát của các cấp ủy Đảng và chính quyền, sự nỗ lực của Ban Chỉ đạo Công tác Thông tin đối ngoại, các bộ, ban ngành, địa phƣơng, các cơ quan báo chí, các đơn vị làm công tác thông tin đối ngoại.
Trên cơ sở đánh giá những hạn chế, tồn tại của công tác thông tin đối ngoại, tác giả đề xuất một số giải pháp cần thực hiện. Trong đó, nhấn mạnh giải pháp quan trọng là, tăng cƣờng công tác nghiên cứu, dự báo; tổ chức tập huấn cho các ngành, địa phƣơng về công tác thông tin đối ngoại. Tác giả Nguyễn Thanh Sơn (2010), trong bài viết Nhìn lại 6 năm thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và những vấn đề đặt ra đăng trên Tạp chí Thông tin đối ngoại [51, tr.15-18], đánh giá tồn tại trong hoạt động thông tin đối ngoại nhƣ, chƣa đủ mạnh để vƣơn tới các địa bàn có cộng đồng ngƣời Việt Nam ở nƣớc ngoài; có lúc thiếu nhạy bén, thiếu chính xác, còn tình trạng chồng chéo; nhiều thông tin về những vấn đề nhạy cảm trong nƣớc, khi đến với đồng bào thƣờng đi qua các kênh không chính thức hoặc bị các phần tử xấu xuyên tạc. Do đó, cần những nghiên cứu những “biện pháp tích cực”, 15 đổi mới mạnh mẽ hoạt động thông tin đối ngoại để từng bƣớc chiếm lĩnh mặt trận truyền thông tiếng Việt ở nƣớc ngoài cần.
Tác giả Lê Thanh Bình (chủ biên) cùng tập thể tác giả (2012), trong cuốn Bảo chí và thông tin đối ngoại [7], cho rằng, trong bối cảnh toàn cầu hóa, công tác thông tin đối ngoại ngày càng trở nên quan trọng để góp phần thực hiện mục tiêu hội nhập và phát triển. Để quảng bá hình ảnh, nâng cao vị thế, vai trò của quốc gia trên trƣờng quốc tế, lực lƣợng báo chí, truyền thông và các phƣơng tiện truyền thông đại chúng có vai trò quan trọng. Tác giả Lê Thanh Bình (chủ biên) cùng các tác giả (2012), trong cuốn Tổng quan truyền thông quốc tế - Dành cho người làm công tác thông tin đối ngoại [8], đề cập đến các khái niệm, cơ sở lý luận và thực tiễn của truyền thông quốc tế. Nội dung của hoạt động truyền thông quốc tế là thông tin đối ngoại.
Hình thức của các sản phẩm truyền thông quốc tế và các cơ quan làm nhiệm vụ truyền thông quốc tế tại Việt Nam đa dạng và phong phú. Công trình cũng đặt ra yêu cầu cho ngƣời làm truyền thông quốc tế, thông tin đối ngoại là, cần có những phƣơng pháp đánh giá hiệu quả, hiệu lực của công tác truyền thông quốc tế, thông tin đối ngoại Trong bối cảnh hiện nay, để đạt đƣợc các mục tiêu về phát triển, nâng cao vị thế quốc gia trên trƣờng quốc tế, các tác giả đề xuất một số phƣơng hƣớng, nhiệm vụ, khuyến nghị những chủ trƣơng, cách tiếp cận, phƣơng pháp triển khai mới trong hoạt động đối ngoại. Tác giả Lê Hồng Anh (2013), trong bài viết Nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục của các sản phẩm thông tin đối ngoại, đăng trên Tạp chí Thông tin đối ngoại [2, tr.22-24], nhận định về tình hình thế giới và khu vực trong những năm tới, để triển khai đồng bộ, toàn diện các hoạt động thông tin đối ngoại trong Chiến lƣợc phát triển thông tin đối ngoại giai đoạn 2011-2020. Bài viết đề xuất một số nhiệm vụ trọng tâm trong công tác thông tin đối ngoại: phải đổi mới nội dung tuyên truyền cho phù hợp với yêu cầu mới; kiện toàn cơ chế, chính sách, văn bản pháp quy về thông tin đối ngoại; đổi mới hơn nữa phƣơng thức thông tin đối ngoại; củng cố, kiện toàn đội ngũ những ngƣời làm công tác thông tin đối ngoại.