MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là sau năm 1986, dưới ánh sáng đổi mới của Đại hội VI của Đảng, với đường lối đối ngoại “rộng mở”, chúng ta mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng với nhiều nước. Đối ngoại quốc phòng thời kỳ này tiếp tục là kênh ngoại giao quan trọng, có nhiều đổi mới, góp phan cùng với ngoại giao nhà nước phá thé bao vây cắm vận, thúc đấy tiến trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ôn định dé xây dựng đất nước, tăng cường tiềm lực quốc phòng. Ở giai đoạn hội nhập quốc tế, quán triệt và triển khai đường lối đối ngoại của Dang qua các kỳ Đại hội, thực thi Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, ngày 25- 10-2013, “Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 22- NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc té” và Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, công tác đối ngoại quốc phòng tiếp tục triển khai “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu qua’, đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Những kết quả, thành công quan trọng của đối ngoại quốc phòng đã đóng góp thiết thực vào sự nghiệp bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất va toàn vẹn lãnh thé của Tổ quốc; nâng cao uy tín và vị thé của đất nước nói chung, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế; góp phần vào việc giải quyết các van đề biên giới, lãnh thổ, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị; kết hợp linh hoạt giữa hợp tác và đấu tranh. Thực hiện quan điểm của Đảng “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tê toàn diện, sâu rộng”, đôi ngoại quốc phòng chủ động mở rộng quan hệ song phương với các nước trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 100 quốc gia, bao gồm 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các cường quốc trên thé giới. Về đối ngoại quốc phòng đa phương, Việt Nam tích cực tham gia có trách nhiệm và từng bước chủ động đóng góp xây dựng và hoạch định chính sách, đề xuất nhiều sáng kiến có giá trị tại các cơ chế hợp tác về quốc phòng, an ninh của khu vực và quốc tế như: Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Diễn dan An ninh khu vực ASEAN (ARF), Đối thoại Shangri-La, Hội nghị An ninh quốc tế Mát-xcơ-va, Diễn đàn Hương Sơn - Bắc Kinh, Đối thoại Quốc phòng Seoul,.
Trong khuôn khổ Liên hợp quốc, từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đã cử hơn 250 lượt cán bộ, nhân viên với ba lượt bệnh viện dã chiến đến phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Xu-đăng, Cộng hòa Trung Phi và trụ sở Liên hợp quốc; đang hoàn tất các công tác chuẩn bị để triển khai Đội Công binh tới Phái bộ UNISFA tại Xu-đăng. Những thành tựu của đối ngoại quốc phòng thời gian qua bắt nguồn từ sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các bộ, ban, ngành, địa phương, các kênh đối ngoại và ý chí quyết tâm, nỗ lực vượt bậc của đội ngũ cán bộ, nhân viên thực hiện nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng với tinh thần “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua”. 10 Bên cạnh đó, thế giới đang diễn ra nhiều thay đôi khó dự báo, tác động trực tiếp đến sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đầu tiên, hòa bình, hợp tác và phát triển là nguyện vọng và là đòi hỏi bức thiết, là xu hướng chung của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới.
Nhân loại đã phải trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới thảm khốc, “Chiến tranh lạnh” và chạy đua vũ trang đã nhiều lần day thé giới đến bên bờ cuộc chiến tranh hủy diệt. Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, hàng loạt vấn đề tác động không nhỏ đến môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế, như tranh chấp chủ quyền, lãnh thổ và tài nguyên, xung đột tôn giáo, sắc tộc, hoạt động khủng bố, chủ nghĩa dân túy, chiến tranh cục bộ, chiến tranh mạng. tiếp tục diễn ra gay gat, de doa nên hòa bình của các nước trên thé giới. Vì vậy, hòa bình và phát triển là van đề trung tâm của thời đại và là một nội dung cốt lõi trong chiến lược của mọi quốc gia trên thế gidi, VỚI mong muốn đây lùi chiến tranh, thiết lập một thế giới hòa bình, dân chủ và văn minh.
Hòa bình là điều kiện tiên quyết cho sự ồn định, hợp tác và phát triển của moi quốc gia - dân tộc và hợp tác là phương thức dé phát triển và đạt tới hòa bình. Thế giới cần hòa bình, nhân loại cần hợp tác, quốc gia cần phát triển, xã hội cần tiến bộ, tất cả đã trở thành xu thế phát triển khách quan. Đúng như Đảng ta đã khang định: “Thế giới dang trải qua những biến động to lớn, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn”.
Thứ hai, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế phát triển mạnh mẽ, ngày càng gan chat với nhau tạo thành một hop lực, thúc day su phat triển của lực lượng sản xuất toàn cau; tác động đến mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, quốc phòng, an ninh của mỗi quốc gia, dân tộc. Đảng ta nhận định: “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số 11 phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia - dân tộc”. Bên cạnh đó, xu thế chủ đạo hiện nay là các nước vừa hợp tác, vừa đấu tranh, vừa liên kết, vừa cạnh tranh, cùng tồn tại và giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng phương thức hòa bình, tránh đối đầu. Quan hệ đối tác - đối tượng đan xen phức tạp dẫn đến đấu tranh và hợp tác trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng trở nên phức tạp hơn, tạo ra nhiều khó khăn trong quá trình nhìn nhận và xử lý các quan hệ quôc tê.
Thứ ba, các nước lớn tiếp tục giữ vai trò chi phối cục diện thế giới, vừa hợp tác, vừa dau tranh, kiềm chế và ngăn chặn lẫn nhau. Trong bàn cờ chính trị quốc tế, các nước lớn đóng vai trò chính trong việc định hình trật tự, cục diện thế giới, xây dựng luật chơi và cơ chế giải quyết các van đề nồi lên ở khu vực, thé giới. Quan hệ giữa các nước lớn tác động gián tiếp đến chính sách của các quốc gia trong việc lựa chọn con đường và định hướng phát trién; tác động đến xu thế hội nhập, bảo vệ độc lập, chủ quyền trên con đường phát triển của các quốc gia - dân tộc. Hiện nay, quan hệ giữa các nước lớn dang tác động và chi phối đến đời sống chính trị - kinh tế, an ninh thế giới.
Trong tương quan so sánh lực lượng giữa các nước lớn, Mỹ van là siêu cường số một và không ngừng triển khai chiến lược toàn cầu nhằm thiết lập trật tự thế giới một cực do Mỹ đứng đầu. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, theo đánh giá của nhiều chuyên gia, vị thế của Mỹ đã có phần suy giảm tương đối cả về sức mạnh kinh tế và mức độ chi phối tới quan hệ quốc tế. Trong khi đó, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Trung Quốc đang vươn lên mạnh mẽ để trở thành các trung tâm lớn của thế giới. Nga đang từng bước khôi phục địa vị cường quốc của mình trên thé giới.
An Độ đang nỗ lực vươn lên dé trở thành một cường quốc. Nhìn chung, các nước lớn đang duy trì một cục diện quan hệ vừa hợp tác, dàn xếp loi ích, vừa đấu tranh quyết liệt để giành giật ảnh hưởng. Xu thé trật tự thé giới đa 12 cực ngày càng hiện hữu, như Đảng ta đã nhận định: “Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn rat phức tạp, gay gat; cục diện đa cực ngày càng rõ nét”. Thứ tư, tình hình khu vực tiếp tục có những diễn biến phức tạp, tiềm ân nhiều nhân tố bất ôn, khó lường.
Đại hội XIII của Đảng nhận định: “Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, trong đó Đông Nam Á có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng, là khu vực cạnh tranh gay gắt giữa các cường quốc, tiềm ân nhiều bất ôn”(4). Các hoạt động gia tăng ngân sách quốc phòng, hiện đại hóa quốc phòng, chế tạo, mua sắm vũ khí, trang thiết bị khiến châu Á trở thành “thị trường sôi động” của thế giới. Sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nước lớn và những bất đồng, tranh chấp lẫn sự gia tăng sức mạnh quân sự của các quốc gia khu vực đang đe dọa nghiêm trọng đến hòa bình, an ninh ở khu vực: “Tranh chấp chủ quyền lãnh thỏ, chủ quyền biển, đảo diễn ra căng thang, phức tạp, quyết liệt hơn. Hòa bình, ổn định, tự do, an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nguy cơ xung đột”.
Đề đáp ứng yêu cầu trên, đề tài nghiên cứu khoa học với nội dung: Thông tin đối ngoại quốc phòng trên Báo Quân đội nhân dân Điện tử giai đoạn 2020- 2021 (Khảo sát trên Báo Quân đội nhân dân Điện tử Tiếng Việt từ năm 2020 đến hết năm 2021) là lý do mà tác giả mong muốn được tìm hiểu, khảo sát nhằm đưa ra những giải pháp, những đề xuất, kiến nghị nâng cao hiệu quả công tác thông tin đối ngoại quốc phòng trên Báo Quân đội nhân dân trong thời gian tới. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn Các nghiên cứu liên quan đên báo chi doi ngoại, thông tin trên báo chí doi ngoại Năm 2009, tác giả Phạm Minh Sơn chủ biên cuốn “Truyén thông đại chúng trong công tác thông tin doi ngoại của Việt Nam hiện nay”, Nxb Chính trị Hành 13 chính, Hà Nội. Cuốn sách làm rõ vai trò của từng loại hình truyền thông đại chúng trong việc thực hiện nhiệm vụ thông tin đối ngoại.