CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TIẾN ĐỘ VÀ QUẢN LÝ TIẾN ĐỘ THỰC HIỆN DỰ ÁN.1 Khái niệm về tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng 1.1 Khái niệm về dự án đầu tư xây dựng công trình Căn cứ theo quy định tại Khoản 15 Điều 3 Luật xây dựng năm 2014 dự án đầu tư xây dưng là: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng”.[1] Trong đó, hoạt động xây dựng sẽ bao gồm các công việc theo quy định tại Khoản 21 Điều 3 LXD 2014 gồm: - Lập quy hoạch xây dựng - Lập dự án đầu tư xây dựng công trình - Khảo sát xây dựng - Thiết kế xây dựng - Thi công xây dựng - Giám sát xây dựng - Quản lý dự án - Lựa chọn nhà thầu - Nghiệm thu dự án xây dựng, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành và bảo trì. - Các hoạt động khác có liên quan đến quá trình xây dựng công trình.2 Khái niệm về tiến độ Tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng là một trong những nội dung trong quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, trong đó là quản lý về chất lượng, khồi lượng, 4 tiến độ thực hiện các hạng mục, an toàn trong thi công, và đảm bảo về môi trường xây dựng. Tiến độ thực hiện dự án được tính từ thời điểm từ khi được phê duyệt chủ trương đầu tư của dự án đến khi dự án được nghiệm thu hoàn thành và bàn giao đưa vào sử dụng.
Trong đó, có nhiều tiêu chí để xem xét đánh giá về đầu tư như nhưng quan trọng nhất là hiệu quả kinh tế xã hội mà dự án mang lại, nguồn vốn cho dự án đề thực hiện đầu tư. Tiến độ thi công là một sơ đồ bố trí tiến trình thực hiện các hạng mục công việc nhằm xây dựng công trình có hiệu quả nhất theo hợp đồng thi công đã ký giữa bên A và bên B, trong đó lập kế hoạch tiến độ thi công là thực hiện việc gắn thời gian cho từng đầu việc và sắp xếp thực hiện chúng theo trình tự kỹ thuật và tổ chức sản xuất đã được cân nhắc kỹ.3 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý đầu tư xây dựng Đầu tư xây dựng công trình phải theo quy hoạch, thiết kế; phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội, đặc điểm văn hóa của từng địa phương; bảo vệ cảnh quan, môi trường, ổn định cuộc sống của người dân; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng, an ninh và ứng phó với biến đổi khí hậu. Sử dụng hợp lý nguồn lực về tài nguyên tại khu vực, bảo đảm đúng mục đích, đối tượng, trình tự đầu tư xây dựng. Tuân thủ tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn, quy định về sử dụng vật liệu xây dựng; bảo đảm nhu cầu tiếp cận công trình thuận lợi, an toàn cho trẻ em, người khuyết tật, người cao tuổi ở các công trình công cộng, nhà cao tầng; ứng dụng khoa học, công nghệ và áp dụng hệ thống thông tin trong hoạt động đầu tư xây dựng.
Bảo đảm tiến độ, chất lượng, an toàn lao động, tính mạng, sức khỏe con người,tài sản và phòng, chống cháy, nổ; bảo vệ môi trường. Trong xây dựng phải đảm bảo đồng bộ trong từng hạng mục công trình với các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Cá nhân và tổ chức khi tham gia hoạt động xây dựng phải có điều kiện năng lực phù hợp với từng loại dự án, cấp công trình xây dựng và công việc theo quy định. 5 Cần công khai, tiết kiệm, hiệu quả trong công việc; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thất thoát và tiêu cực khác trong hoạt động xây dựng.4 Đánh giá hiệu quả dự án đầu tư xây dựng Nguyễn Bạch Nguyệt (2007, trang 124) khái niệm rằng “Hiệu quả đầu tư là phạm trù kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa các kết quả kinh tế - xã hội đã đạt được của hoạt động đầu tư với các chi phí phải bỏ ra để có kết quả đó trong một thời kỳ nhất định”.
[2] Hiệu quả đầu tư được đánh giá theo các chỉ tiêu cụ thể để đo lường hiệu quả. Việc xác định các chỉ tiêu này tùy thuộc vào mục tiêu của người tiến hành đầu tư hoặc người thụ hưởng đưa ra. Một dự án đầu tư được đánh giá là hiệu quả khi nó đạt được các chỉ tiêu đánh giá. Hiệu quả của dự án đầu tư còn là mục tiêu đề ra bằng các chỉ tiêu định tính và định lượng, có thể được phân thành 2 loại: 1.
Nhóm các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế - tài chính; 2. Nhóm các chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế - xã hội. Theo quan điểm đánh giá của nền kinh tế, chủ yếu chú trọng đến hiệu quả kinh tế - xã hội, ngoài việc xem xét các chỉ tiêu hiệu quả trực tiếp do hoạt động đầu tư mang lại mà còn phải xem xét cả hiệu quả gián tiếp của dự án như tạo cơ sở hạ tầng để phát triển kinh tế, nguồn thu thuế đối của dự án, số lao động được tạo ra, mức độ chiếm dụng vốn của nền kinh tế.2 Tiến độ và quản lý tiến độ thực hiện dự án 1.1 Nội dung công tác quản lý tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng Quản lý tiến độ thực hiện dự án là việc tiến hành các hoạt động quản lý sao cho dự án kết thúc đúng thời hạn yêu cầu. Khái niệm này có thể áp dụng cho tất cả các loại dự án, trong đó có cả dự án đầu tư xây dựng.
Tuy nhiên, theo các cách tiếp cận khác nhau, các nghiên cứu khác nhau chỉ ra các nội dung khác nhau cần thực hiện hướng tới mục tiêu quản lý tiến độ dự án thành công. Theo chuẩn mực PMBOK, các quá trình (process) quản lý tiến độ một dự án bao gồm: 6 - Lập kế hoạch quản lý tiến độ; - Xác định các công việc; - Sắp xếp thứ tự thực hiện các công việc; - Dự tính nguồn lực thực hiện công việc; - Dự tính thời hạn thực hiện công việc; - Lập tiến độ; - Kiểm soát tiến độ. Với các dự án xây dựng, chuẩn mực này còn bổ sung thêm một số quá trình như xây dựng đường cong tiến trình và theo dõi tiến trình thực hiện dự án dựa trên đường cong tiến trình đã được xây dựng. Ở Việt Nam, đã có những hướng dẫn từ các cơ quan quản lý nhà nước về quản lý tiến độ thi công xây dựng cho các dự án chịu sự điều chỉnh của Luật Xây dựng.
Theo quy định hiện hành, các nội dung quản lý tiến độ thi công xây dựng như sau (Điều 67, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13): - Người quyết định đầu tư quyết định thời gian, tiến độ thực hiện khi phê duyệt dự án. Đối với công trình thuộc dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước thì tiến độ thi công xây dựng không được vượt quá thời gian thi công xây dựng công trình đã được người quyết định đầu tư phê duyệt. - Chủ đầu tư, nhà thầu thi công xây dựng công trình phải lập kế hoạch tiến độ, biện pháp thi công xây dựng và quản lý thực hiện dự án theo tiến độ thi công xây dựng được duyệt; Chủ đầu tư có trách nhiệm tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành theo tiến độ thực hiện hợp đồng xây dựng. Nội dung cần thực hiện để quản lý tiến độ giai đoạn thi công xây dựng như sau: - Công trình xây dựng trước khi triển khai phải được lập tiến độ thi công xây dựng, phù hợp với các văn bản quy định thời gian dự án ở giai đoạn trước như tổng tiến độ của dự án đã được phê duyệt, với khoảng thời gian lập tiến độ phù hợp với quy mô và thời gian thi công dự án; 7 - Việc lập tiến độ thi công xây dựng chi tiết là trách nhiệm của nhà thầu thi công xây dựng công trình; tuy nhiên, chủ đầu tư, tư vấn giám sát và ngay cả nhà thầu thi công xây dựng cùng các bên có liên quan đều có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công xây dựng công trình và điều chỉnh tiến độ trong trường hợp tiến độ thi công xây dựng ở một số giai đoạn bị kéo dài, nếu phải điều chỉnh tổng tiến độ của dự án phải có ý kiến của người quyết định đầu tư.
Có thể nói, dù có những cách tiếp cận khác nhau, nhưng tựu trung lại, các nội dung quản lý tiến độ dự án đều bao gồm: - Lập bảng tiến độ và phê duyệt kế hoạch thực hiện dự án; - Triển khai thực hiện kế hoạch tiến độ, bao gồm việc điều hành, theo dõi, đánh giá mức độ thực hiện kế hoạch tiến độ (bao gồm cả việc xử lý các vấn đề phát sinh, cập nhật, điều chỉnh tiến độ khi cần thiết).2 Nhiệm vụ của lập tiến độ dự án. Ngành xây dựng muốn đạt được những mục đích đề ra phải có một kế hoạch sản xuất cụ thể. Kế hoạch sản xuất được gắn liền với một trục thời gian, ta gọi đó là kế hoạch lịch hay tiến độ. Công trình xây dựng được tiến hành bởi nhiều tổ chức xây lắp với sự tham gia của các nhà thầu, đơn vị thiết kế, đơn vị cung ứng máy móc thiết bị và các loại tài nguyên.
Như vậy, công trình xây dựng một là một hệ điều khiển phức tạp, rộng lớn. Trong hệ thống có rất nhiều thành phần và mối quan hệ phức tạp, phức tạp cả về số lượng các thành phần và trạng thái của nó. Vì vậy, trong quá trình xây dựng không thể điều khiển chính xác mà có tính xác suất. Xây dựng công trình cần phải có một mô hình khoa học điều khiển các quá trình, tổ chức và chỉ đạo việc đầu tư xây dựng.
Mô hình đó chính là tiến độ thi công. Xây dựng công trình phải thực hiện rất nhiều các quá trình, hạng mục xây lắp liên quan chặt chẽ với nhau trong một không gian và một thời gian xác định, với lượng tài nguyên giới hạn.