Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và ký kết nhiều hiệp định thương mại thế hệ mới đã mở rộng giao thương hàng hóa, thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, quá trình này cũng làm gia tăng các tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, nổi cộm là tình trạng sản xuất, lưu thông hàng giả và hàng kém chất lượng. Vấn nạn này gây tổn hại trực tiếp đến quyền lợi người tiêu dùng, làm suy giảm uy tín doanh nghiệp chân chính và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư, môi trường cạnh tranh lành mạnh.
Tỉnh Vĩnh Phúc nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và vùng Thủ đô Hà Nội. Địa bàn tỉnh sở hữu các tuyến giao thông huyết mạch gồm Quốc lộ 2, tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai, đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai – Vân Nam (Trung Quốc), nằm liền kề Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, đồng thời kết nối thuận lợi với cảng biển Hải Phòng qua Quốc lộ 5 và cảng nước sâu Cái Lân qua Quốc lộ 18. Vị trí địa lý này khiến Vĩnh Phúc vừa là thị trường tiêu thụ sôi động, vừa giữ vai trò địa bàn trung chuyển trọng điểm đối với hàng hóa xuất nhập khẩu và nội địa. Lưu lượng hàng hóa luân chuyển lớn đã kéo theo sự gia tăng phức tạp của các hành vi vi phạm liên quan đến hàng giả, hàng kém chất lượng với phương thức sản xuất, phân phối ngày càng tinh vi.
Trước thực tiễn đó, việc nâng cao năng lực quản lý nhà nước về phòng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng là yêu cầu cấp thiết. Mặc dù các lực lượng chức năng tại tỉnh, nòng cốt là Cục Quản lý thị trường, đã triển khai nhiều giải pháp kiểm tra, xử lý vi phạm, song hoạt động quản lý vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế, chưa ngăn chặn triệt để tình trạng vi phạm trên thị trường.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:
- Làm rõ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng cấp tỉnh.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này tại địa phương.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, tác giả triển khai 3 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng cấp tỉnh.
- Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021.
- Đề xuất các định hướng, giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:
- Về nội dung: Tập trung vào hoạt động quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng; đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy, ban hành văn bản, tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
- Về không gian: Địa bàn hành chính tỉnh Vĩnh Phúc.
- Về thời gian: Số liệu và thực tiễn quản lý được thu thập, phân tích trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021; các định hướng và giải pháp đề xuất phục vụ cho những năm tiếp theo.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên các quy định pháp luật hiện hành và các nguyên lý quản lý hành chính nhà nước về kinh tế:
- Khái niệm và phân loại hàng giả: Tác giả áp dụng định nghĩa hàng giả theo Nghị định số 185/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 124/2015/NĐ-CP. Căn cứ pháp lý này phân loại hàng giả thành 4 nhóm cụ thể:
- Hàng giả chất lượng và công dụng (hàng hóa không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đúng bản chất tự nhiên, tên gọi, công dụng; hàm lượng chất chính chỉ đạt từ 70% trở xuống so với tiêu chuẩn, quy chuẩn công bố).
- Hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa (giả mạo tên thương nhân, địa chỉ, xuất xứ, nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp).
- Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ theo quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
- Các loại ấn phẩm, tem, nhãn, đề can, bao bì giả mạo và hóa đơn, chứng từ, tem vé giả.
- Hàng kém chất lượng: Được xác định là sản phẩm chính hãng do chính đơn vị sở hữu thương hiệu sản xuất nhưng chất lượng thực tế không đạt mức cam kết (dưới 80% chất lượng cam kết) hoặc không tương xứng với giá trị sản phẩm.
- Khung lý thuyết quản lý nhà nước về kinh tế: Quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng được tiếp cận dưới góc độ là quá trình tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước, thông qua hệ thống thể chế pháp luật, nhằm điều chỉnh hành vi của các chủ thể kinh doanh, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm để bảo đảm trật tự thị trường.
- Tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý: Luận văn sử dụng 3 tiêu chí cốt lõi:
- Tính hiệu lực: Phản ánh mức độ đạt được mục tiêu quản lý thông qua việc đáp ứng các nguồn lực thực thi và mức độ tuân thủ, chấp hành của các đối tượng chịu sự tác động.
- Tính hiệu quả: Đo lường mối tương quan giữa kết quả thực tế thu được với chi phí và các nguồn lực đầu vào đã huy động.
- Tính công bằng: Đảm bảo chính sách quản lý xử lý hài hòa quyền lợi, nghĩa vụ của các đối tượng trong xã hội, không tạo ra sự thiên vị.
- Khung thể chế vận hành: Phân tích cơ chế hoạt động của Ban chỉ đạo chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả từ cấp trung ương (Ban chỉ đạo 389 quốc gia, tiền thân là Ban chỉ đạo 127/TW) đến cấp địa phương (Ban chỉ đạo 389 tỉnh Vĩnh Phúc) và vai trò nòng cốt của lực lượng Quản lý thị trường.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả kết hợp chặt chẽ:
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Khai thác các văn bản quy phạm pháp luật (Luật, Nghị định, Thông tư), văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Vĩnh Phúc; các báo cáo thống kê tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh; báo cáo công tác định kỳ, kế hoạch kiểm tra, xử lý vi phạm, dữ liệu biên chế, trang thiết bị của Cục Quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2017 đến năm 2021.
- Phương pháp thống kê so sánh: Sử dụng số liệu qua các năm để so sánh biến động số vụ kiểm tra, số vụ xử lý, số tiền nộp ngân sách nhà nước, quy mô đào tạo cán bộ và kết quả ký cam kết tuyên truyền, qua đó đánh giá chiều hướng và hiệu quả hoạt động kiểm soát thị trường.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Xử lý các tài liệu lý luận và dữ liệu thực tế thu thập được nhằm khái quát hóa các ưu điểm, chỉ ra những bất cập, xác định rõ các nguyên nhân chủ quan, khách quan và làm căn cứ xây dựng các giải pháp hoàn thiện.
- Khóa luận quán triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số lý luận về nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng cấp tỉnh
Chương này tập trung xây dựng cơ sở khoa học cho đề tài thông qua các nội dung trọng tâm:
- Khái quát hệ thống khái niệm, đặc điểm và phân loại hàng giả, hàng kém chất lượng theo quy định của pháp luật Việt Nam và chuẩn mực quốc tế (Hiệp định TRIPS).
- Xác định nội dung nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước cấp tỉnh bao gồm: kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý hành chính; xây dựng và ban hành các chương trình, kế hoạch, văn bản chỉ đạo; tổ chức thực hiện các điều kiện bảo đảm (nhân lực, đào tạo bồi dưỡng, phối hợp liên ngành, tuyên truyền giáo dục pháp luật, cơ sở vật chất kỹ thuật và kinh phí); thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát nội bộ, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
- Thiết lập hệ thống 3 tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý: tính hiệu lực, tính hiệu quả và tính công bằng.
- Phân tích các nhân tố tác động: nhân tố khách quan (hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách) và nhân tố chủ quan (nhận thức của doanh nghiệp, nhận thức và thói quen tiêu dùng của người dân, năng lực công tác phối hợp liên ngành, trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức của cán bộ, công chức thực thi).
- Tổng kết kinh nghiệm quản lý thực tiễn tại thành phố Hà Nội (xử lý nghiêm các vụ án quy mô lớn, ứng dụng công nghệ thông tin, phân công trách nhiệm theo địa bàn, kiểm tra công vụ chặt chẽ) và tỉnh Phú Thọ (giao chỉ tiêu kiểm tra gắn với bình xét thi đua, quy trách nhiệm người đứng đầu địa bàn, chú trọng thi tuyển và đào tạo công chức). Từ đó, tác giả rút ra 5 bài học kinh nghiệm áp dụng cho tỉnh Vĩnh Phúc: tăng cường chế tài răn đe gắn với tuyên truyền; kiện toàn nhân lực và trang bị phương tiện hiện đại; nâng cao đạo đức công vụ chống tiêu cực; siết chặt cơ chế phối hợp liên ngành; tập trung kiểm soát khâu lưu thông trên các tuyến giao thông trọng điểm.
Chương 2: Phân tích thực trạng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Nội dung chương 2 phân tích sâu thực tế công tác quản lý tại Vĩnh Phúc giai đoạn 2017 – 2021:
- Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh: Vĩnh Phúc có 9 đơn vị hành chính (thành phố Vĩnh Yên, thị xã Phúc Yên và 7 huyện), địa hình chia làm 3 vùng (đồng bằng, gò đồi, núi thấp và trung bình). Dân số năm 2020 là 1.168.232 người (trong đó lao động thành thị chiếm 47,41%, lao động nông thôn chiếm 55,59%). Kinh tế duy trì mức tăng trưởng bình quân 7,1%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh sang công nghiệp – xây dựng (61,59%), dịch vụ (30,26%), nông lâm nghiệp thủy sản (8,15%); thu ngân sách năm 2019 đạt hơn 35.000 tỷ đồng, tỷ lệ điều tiết ngân sách về Trung ương là 47%. Quy mô lưu thông hàng hóa lớn tạo áp lực nặng nề lên công tác quản lý thị trường.
- Về tổ chức bộ máy: UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 1780/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 thành lập Ban chỉ đạo 389 tỉnh Vĩnh Phúc do Phó Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng ban, Cục trưởng Cục Quản lý thị trường làm Phó Trưởng ban thường trực cùng đại diện các sở, ngành liên quan. Cục Quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Phúc giữ vai trò thường trực, trực tiếp tham mưu và tổ chức kiểm tra, kiểm soát.
- Về công tác tuyên truyền và cam kết: Triển khai Kế hoạch số 3138/KH-BCĐ giai đoạn 2015–2020 của UBND tỉnh, Cục Quản lý thị trường đã vận động ký cam kết không sản xuất, buôn bán hàng giả với 5.655 cơ sở kinh doanh; phát hành 52.000 cuốn sách mỏng nhận diện hàng thật – hàng giả; tổ chức hội nghị phổ biến pháp luật cho 4.805 lượt người tham gia. Trong 6 tháng đầu năm 2021, vận động thêm 776 cơ sở ký cam kết.
- Về kiểm tra, xử lý vi phạm: Giai đoạn 2017–2020 chứng kiến xu hướng giảm dần về số vụ kiểm tra và xử lý vi phạm. Nhiều vụ việc vi phạm lớn đã bị phát hiện, điển hình như vụ việc tại cửa hàng S-Men Store (phường Hùng Vương, thành phố Phúc Yên) kinh doanh sản phẩm thời trang giả mạo các nhãn hiệu nổi tiếng (Gucci, Burberry, Adidas, Hermes, Louis Vuitton, Nike) hay tình trạng làm giả các nhãn hiệu thực phẩm như Ajinomoto, Custas, Chocopie tại hệ thống chợ truyền thống.
- Về kiểm tra nội bộ: Cục đã thành lập các đoàn kiểm tra công vụ theo Quyết định số 222/QĐ-QLTT ngày 19/6/2018. Bên cạnh kết quả chấn chỉnh kỷ cương, thực tế kiểm tra cho thấy một số lãnh đạo Đội Quản lý thị trường chưa bám sát kế hoạch chỉ đạo đối với các mặt hàng trọng điểm (xăng dầu, khí dầu mỏ hóa lỏng, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, dược phẩm, mỹ phẩm); quy trình thiết lập hồ sơ vụ việc, sử dụng ấn chỉ và áp dụng văn bản xử phạt vẫn còn sai sót nghiệp vụ.
- Đánh giá hạn chế và nguyên nhân: Đội ngũ công chức còn thiếu về biên chế, yếu về kỹ năng điều tra xác minh đối tượng cầm đầu; phương tiện làm việc thiếu thốn (toàn Cục chỉ có 5 xe ô tô phục vụ kiểm tra, công chức chủ yếu dùng xe cá nhân); kinh phí mua mẫu kiểm nghiệm hạn chế; sự phối hợp liên ngành còn lỏng lẻo, mang tính hình thức; doanh nghiệp thiếu chủ động bảo vệ thương hiệu; thói quen ham hàng rẻ của người tiêu dùng vẫn phổ biến.
Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Tác giả đề xuất định hướng và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý:
- Xác định 6 phương hướng trọng tâm: tập trung đầu tư nguồn lực; đẩy mạnh tuyên truyền; thực hiện nghiêm Nghị quyết số 41/NQ-CP của Chính phủ; nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành từ cấp tỉnh đến cấp xã; gắn trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị nếu để xảy ra tình trạng hàng giả kéo dài, công khai; kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải gây cản trở hoạt động kinh doanh hợp pháp.
- 7 nhóm giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp.
- Nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành và chỉ đạo triển khai các chương trình, kế hoạch kiểm tra chuyên đề, kiểm tra định kỳ.
- Nâng cao năng lực chuyên môn, đạo đức công vụ của cán bộ, công chức Quản lý thị trường; đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất, bổ sung phương tiện di chuyển và nguồn kinh phí giám định, kiểm nghiệm mẫu hàng hóa.
- Đổi mới nội dung, đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, giáo dục pháp luật đến từng hộ kinh doanh và người tiêu dùng.
- Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa Quản lý thị trường, Công an, Thuế, Khoa học & Công nghệ, Y tế và chính quyền địa phương.
- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của doanh nghiệp và người tiêu dùng trong việc chủ động cung cấp thông tin, bảo vệ thương hiệu và tố giác vi phạm.
- Nâng cao hiệu quả nghiệp vụ trinh sát địa bàn, tăng cường thanh tra, kiểm tra đột xuất và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm.
- Các kiến nghị: Đề nghị Chính phủ và các Bộ, ngành trung ương sớm hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật, sửa đổi các quy định còn chồng chéo, tăng mức chế tài xử phạt đủ sức răn đe; kiến nghị UBND tỉnh Vĩnh Phúc tăng cường hỗ trợ ngân sách, chỉ đạo quyết liệt các cấp chính quyền cơ sở vào cuộc phối hợp cùng lực lượng Quản lý thị trường.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thực tế về công tác quản lý tại Vĩnh Phúc
Khóa luận đã trích xuất và tổng hợp hệ thống số liệu cụ thể phản ánh hoạt động kiểm tra, xử lý vi phạm của Cục Quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2017 đến 6 tháng đầu năm 2021:
| Chỉ tiêu theo dõi |
Đơn vị tính |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
6 tháng đầu năm 2021 |
| Số vụ kiểm tra |
Vụ |
1.479 |
1.401 |
1.190 |
994 |
351 |
| Số vụ xử lý vi phạm |
Vụ |
635 |
474 |
269 |
418 |
94 |
| Tiền nộp Ngân sách Nhà nước |
Tỷ đồng |
1,621 |
1,743 |
1,315 |
1,597 |
0,740 |
(Nguồn: Phòng Nghiệp vụ – Tổng hợp, Cục Quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Phúc)
Số liệu cho thấy số vụ kiểm tra giảm đều qua các năm: năm 2018 giảm 5,27% so với năm 2017; năm 2019 giảm 15,1% so với năm 2018; năm 2020 giảm 16,5% so với năm 2019. Số vụ xử lý vi phạm giảm từ 635 vụ (2017) xuống 269 vụ (2019), sau đó tăng lên 418 vụ (2020). Trong 6 tháng đầu năm 2021, số vụ kiểm tra đạt 351 vụ (bằng 76% so với cùng kỳ năm trước). Mặc dù số vụ giảm, số tiền thu nộp ngân sách nhà nước vẫn duy trì ở mức trên 1,3 đến 1,7 tỷ đồng mỗi năm, phản ánh sự chuyển biến trong việc tập trung vào các vụ việc có quy mô lớn hơn.
Về công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật của Cục Quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Phúc (giai đoạn 2017–2020):
| Nội dung thực hiện |
Đơn vị tính |
Năm 2017 |
Năm 2018 |
Năm 2019 |
Năm 2020 |
Tổng cộng (2017–2020) |
| Vận động ký cam kết không vi phạm |
Cơ sở |
1.655 |
— |
— |
— |
5.655 |
| In sách mỏng phân biệt thật – giả |
Cuốn |
8.000 |
— |
— |
— |
52.000 |
| Người tham gia hội nghị tuyên truyền |
Lượt người |
750 |
— |
— |
1.805 |
4.805 |
(Nguồn: Phòng Nghiệp vụ - Tổng hợp, Cục Quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Phúc)
Đóng góp của đề tài so với các nghiên cứu trước
Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan, tác giả đã chỉ rõ điểm khác biệt và đóng góp mới của khóa luận:
- So với nghiên cứu của Nguyễn Thị Quế Anh (2014) chỉ thuần túy phân tích khái niệm pháp lý về hàng giả và quyền sở hữu trí tuệ; hoặc nghiên cứu của Trịnh Thành Sơn (2017) tiếp cận chưa chuẩn xác khi đồng nhất khái niệm hàng giả với hành vi xâm phạm sở hữu trí tuệ và chỉ tập trung vào góc độ "phòng, chống" nghiệp vụ đơn thuần: Khóa luận của Vũ Thị Ngọc Nga tiếp cận vấn đề dưới góc độ quản lý nhà nước về kinh tế một cách toàn diện, bám sát Nghị định 185/2013/NĐ-CP và Nghị định 124/2015/NĐ-CP.
- Khác với các luận văn nghiên cứu địa bàn khác như Vũ Minh Hải (2015 - Hải Dương), Bùi Mạnh Hùng (2020 - Quảng Ninh), Đỗ Trung Thành (2017 - Phú Thọ), Đào Anh Tuấn (2019 - Hà Nam): Khóa luận đi sâu phân tích đặc thù vị trí địa kinh tế của tỉnh Vĩnh Phúc – trung tâm kết nối vùng trung du miền núi phía Bắc với Thủ đô, đầu mối trung chuyển hàng hóa quy mô lớn – từ đó chỉ ra những khó khăn đặc thù trong việc kiểm soát hàng giả trên khâu lưu thông.
- Kế thừa và cập nhật số liệu mới hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Đình Toản (2019): Khóa luận đánh giá toàn diện giai đoạn 2017–2021, phản ánh thực trạng tổ chức bộ máy Quản lý thị trường sau khi chuyển đổi mô hình ngành dọc trực thuộc Tổng cục Quản lý thị trường (Bộ Công Thương), đồng thời chỉ ra thực trạng thiếu thốn cơ sở vật chất (chỉ có 5 xe ô tô cho 11 trụ sở) và các sai sót nghiệp vụ công vụ nội bộ qua kết quả kiểm tra theo Quyết định 222/QĐ-QLTT.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Dữ liệu nghiên cứu thực chứng chỉ giới hạn trong mốc thời gian từ năm 2017 đến hết 6 tháng đầu năm 2021 do thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2021).
- Nguồn số liệu thứ cấp chủ yếu tập trung vào kết quả thực hiện nhiệm vụ của lực lượng Quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Phúc; số liệu thống kê liên ngành từ các lực lượng khác (Công an kinh tế, Thanh tra Khoa học & Công nghệ, Thanh tra Y tế, Thuế, Hải quan) chưa được bóc tách chi tiết thành các chuỗi dữ liệu độc lập.
- Văn bản khóa luận chưa đi sâu phân tích định lượng tác động của thương mại điện tử và các nền tảng mạng xã hội đối với hành vi buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng trên địa bàn tỉnh, dù đây là phương thức vi phạm mới được tác giả ghi nhận.
Hướng nghiên cứu mở rộng:
- Mở rộng đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh hàng hóa trên môi trường thương mại điện tử, mạng xã hội và dịch vụ chuyển phát nhanh tại địa bàn cấp tỉnh.
- Khảo sát, phân tích chuyên sâu về cơ chế hậu kiểm chất lượng hàng hóa và nghiên cứu giải pháp chuyển đổi số trong công tác quản lý thị trường địa phương.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý kinh tế, Luật kinh tế và Thương mại: Cung cấp khung lý luận hoàn chỉnh về các tiêu chí đánh giá hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước cấp tỉnh; phương pháp phân tích thực trạng quản lý thị trường từ nguồn dữ liệu thứ cấp.
- Cán bộ, công chức làm công tác Quản lý thị trường và thành viên Ban chỉ đạo 389 các cấp: Tham khảo hệ thống bảng biểu số liệu thực tế về kiểm tra, xử lý vi phạm, kinh nghiệm tổ chức các đợt tuyên truyền vận động ký cam kết và bài học kinh nghiệm xử lý sai sót trong quy trình công vụ, quản lý ấn chỉ và ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.
- Các cơ quan quản lý chuyên ngành tại địa phương: Làm căn cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch phối hợp liên ngành giữa Quản lý thị trường với Công an, Thuế và Thanh tra chuyên ngành trên các địa bàn trọng điểm.
Câu hỏi thường gặp
1. Ban chỉ đạo 389 tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập trên cơ sở pháp lý nào và cơ cấu lãnh đạo được quy định ra sao?
Ban chỉ đạo 389 tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập theo Quyết định số 1780/QĐ-UBND ngày 30 tháng 6 năm 2014 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ cấu lãnh đạo gồm: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh làm Trưởng ban chỉ đạo; Cục trưởng Cục Quản lý thị trường làm Phó Trưởng ban thường trực; các ủy viên là lãnh đạo các sở, ngành liên quan trên địa bàn tỉnh (Công an, Thuế, Công Thương, Y tế, Khoa học & Công nghệ...).
2. Diễn biến số vụ kiểm tra và xử lý vi phạm về hàng giả của Cục Quản lý thị trường tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2017–2020 thể hiện xu hướng gì?
Số vụ kiểm tra giảm liên tục qua từng năm: từ 1.479 vụ (năm 2017) xuống 1.401 vụ (năm 2018), 1.190 vụ (năm 2019) và còn 994 vụ (năm 2020). Số vụ xử lý vi phạm giảm từ 635 vụ (năm 2017) xuống mức thấp nhất là 269 vụ (năm 2019), sau đó tăng lên 418 vụ (năm 2020). Mặc dù số vụ giảm, số tiền nộp ngân sách nhà nước từ xử lý vi phạm vẫn duy trì ở mức cao, dao động từ 1,315 tỷ đồng đến 1,743 tỷ đồng/năm.
3. Theo văn bản, hàng giả được phân loại thành những nhóm cụ thể nào theo quy định pháp luật?
Căn cứ Nghị định số 185/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 124/2015/NĐ-CP), hàng giả được chia thành 4 nhóm: (1) Hàng giả chất lượng và công dụng; (2) Hàng giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa; (3) Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ quy định tại Điều 213 Luật Sở hữu trí tuệ 2005; (4) Các loại tem, nhãn, đề can, bao bì giả và các loại hóa đơn, chứng từ giả mạo.
4. Điều kiện cơ sở vật chất và phương tiện phục vụ kiểm tra của Cục Quản lý thị trường Vĩnh Phúc trong giai đoạn nghiên cứu có những hạn chế gì?
Toàn Cục quản lý 11 trụ sở làm việc (gồm cơ quan Cục, Đội QLTT số 5 cơ động và 9 Đội QLTT tại 9 huyện, thành phố) nhưng hệ thống công nghệ thông tin đã xuống cấp; toàn đơn vị chỉ được trang bị 5 xe ô tô phục vụ công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, dẫn đến tình trạng công chức thường xuyên phải sử dụng phương tiện cá nhân khi thực thi công vụ; nguồn kinh phí mua mẫu và kiểm nghiệm mẫu phục vụ xử lý vi phạm còn rất hạn chế.
5. Khóa luận chỉ ra những thiếu sót nào trong công tác kiểm tra công vụ nội bộ của lực lượng Quản lý thị trường Vĩnh Phúc?
Qua việc triển khai kiểm tra công vụ (theo Quyết định số 222/QĐ-QLTT ngày 19/6/2018), tác giả chỉ rõ: một số Đội Quản lý thị trường chưa bám sát chương trình chỉ đạo đối với các mặt hàng nhạy cảm (xăng dầu, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, sữa, dược phẩm, mỹ phẩm); quy trình nghiệp vụ còn thiếu sót từ khâu xây dựng phương án, ban hành quyết định kiểm tra đến việc thiết lập, sử dụng ấn chỉ và áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong xử phạt vi phạm hành chính.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Vũ Thị Ngọc Nga đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá sâu sắc thực trạng quản lý nhà nước đối với hàng giả, hàng kém chất lượng trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2017–2021. Dựa trên chuỗi số liệu thực tế về hoạt động kiểm tra, xử lý vi phạm và công tác tuyên truyền của Cục Quản lý thị trường, công trình đã làm rõ những kết quả đạt được cũng như các hạn chế về tổ chức bộ máy, biên chế, cơ sở vật chất và quy trình kiểm tra nội bộ. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất bám sát đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, mang tính khả thi và có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế quản lý thị trường tại địa phương.